BỘ CÂU HỎI ÔN TẬP THI VẤN ĐÁP MÔN TƯ PHÁP QUỐC TẾ HK 2 NĂM HỌC 20202021 Bộ môn tư pháp quốc tế Luật so sánh 1. Trình bày đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế. Cho ví dụ minh hoạ. Đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế là những quan hệ dân sự theo nghĩa rộng (quan hệ dân sự, quan hệ hôn nhân và gia đình, quan hệ lao động, quan hệ thương mại…) có yếu tố nước ngoài và tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài. Đặc điểm + Quan hệ dân sự: là quan hệ về tài sản và nhân thân hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do, ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm (căn cứ theo Điều 1 BLDS 2015) + Có yếu tố nước ngoài: là thuộc một trong các trường hợp tại k2 Điều 663 BLDS 2015 • Chủ thể: người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài, hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài, quốc gia (chủ thể đặc biệt) Ví dụ: Chị B (quốc tịch Pháp) sang Việt Nam ký kết hợp đồng với đối tác tại Việt Nam, đó là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài vì chủ thể là người nước ngoài. • Khách thể của quan hệ đó ở nước ngoài: Ví dụ: Ông A (quốc tịch Mỹ) có để lại di sản thừa kế cho ông B (quốc tịch Việt Nam) là bất động sản ở Mỹ, đây là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài với đối tượng là bất động sản ở nước ngoài • Sự kiện pháp lý là căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt các quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài: Ví dụ: Anh A (quốc tịch Việt Nam), chị B (có quốc tịch Úc) đăng ký kết hôn tại Úc, đó là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài với sự kiện pháp lý là xác lập quan hệ hôn nhân ở nước ngoài.
Trang 1BỘ CÂU HỎI ÔN TẬP THI VẤN ĐÁP MÔN TƯ PHÁP QUỐC TẾ HK 2 NĂM HỌC 2020-2021
Bộ môn tư pháp quốc tế - Luật so sánh
1 Trình bày đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế Cho ví dụ minh hoạ.
- Đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế là những quan hệ dân sự theo nghĩa rộng (quan hệ dân sự, quan
hệ hôn nhân và gia đình, quan hệ lao động, quan hệ thương mại…) có yếu tố nước ngoài và tố tụng dân sự cóyếu tố nước ngoài
-Đặc điểm
+ Quan hệ dân sự: là quan hệ về tài sản và nhân thân hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do, ý chí, độclập về tài sản và tự chịu trách nhiệm (căn cứ theo Điều 1 BLDS 2015)
+ Có yếu tố nước ngoài: là thuộc một trong các trường hợp tại k2 Điều 663 BLDS 2015
Chủ thể: người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài, hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài, quốcgia (chủ thể đặc biệt)
Ví dụ: Chị B (quốc tịch Pháp) sang Việt Nam ký kết hợp đồng với đối tác tại Việt Nam, đó là quan hệ dân
sự có yếu tố nước ngoài vì chủ thể là người nước ngoài
Khách thể của quan hệ đó ở nước ngoài:
Ví dụ: Ông A (quốc tịch Mỹ) có để lại di sản thừa kế cho ông B (quốc tịch Việt Nam) là bất động sản ở Mỹ,đây là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài với đối tượng là bất động sản ở nước ngoài
Sự kiện pháp lý là căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt các quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài:
Ví dụ: Anh A (quốc tịch Việt Nam), chị B (có quốc tịch Úc) đăng ký kết hôn tại Úc, đó là quan hệ dân sự cóyếu tố nước ngoài với sự kiện pháp lý là xác lập quan hệ hôn nhân ở nước ngoài
Các quan hệ tố tụng đặc thù đó bao gồm:
+ Xác định thẩm quyền của Tòa án quốc gia đối với các VVDS có YTNN
+ Xác định PL áp dụng nhằm xác định NLPLTTDS và NLHVTTDS của người nước ngoài (NLPLTTDS của
tổ chức nước ngoài bao gồm tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại VN, chi nhánh VP đạidiện của tổ chức nước ngoài tại VN)
+ Thực hiện tương trợ tư pháp trong các VVDS có YTNN
+ Công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài
+ Công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài
2 Phân tích phạm vi điều chỉnh của Tư pháp quốc tế.
Phạm vi điều chỉnh của Tư pháp quốc tế gồm:
-Thẩm quyền của Toà án Quốc gia:
Trang 2+ Xác định thẩm quyền của các Toà án Quốc gia đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.
+ Có tồn tại TAQT giải quyết tất cả VVDS có YTNN hay không?
+ Chủ quyền về quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
- Pháp luật áp dụng (Choice of law)
+ Xác định pháp luật áp dụng gồm: Điều ước Quốc tế, Tập quán Quốc tế, Pháp luật Quốc gia để giảiquyết xung đột pháp luật
+ Hệ thống pháp luật của các quốc gia là khác nhau
+ Điều kiện phát triển ktxh chính trị, phong tục tập quán, tôn giáo, vị trí địa lý
- Ủy thác tư pháp, công nhận và cho thi hành bản án
+ Bản án quyết định của tòa án nước nào, chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ nước đó
+ Tư pháp quốc tế giúp xác định điều kiện để một bản án, quyết định của Tòa án được công
nhận và cho thi hành
3 Phân tích các phương pháp điều chỉnh của TPQT.
Có 2 phương pháp điều chỉnh của TPQT gồm có phương pháp thực chất và phương pháp xung đột
Phương pháp thực chất (hay còn gọi là phương pháp điều chỉnh trực tiếp) là phương pháp sử dụng cácquy phạm thực chất nhằm trực tiếp điều chỉnh các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của TPQT mà khôngphải thông qua 1 hệ thống pháp luật trung gian nào
+ Quy phạm thực chất là quy phạm mà nội dung của nó trực tiếp giải quyết các vấn đề hoặc quy định cụthể về quyền và nghĩa vụ của các bên hoặc các biện pháp chế tài mà không cần phải thông qua hệ thống phápluật trung gian nào
+ Cách thức xây dựng quy phạm thực chất
Do các quốc gia cùng nhau thỏa thuận xây dựng nên
Do QG xây dựng trong PLQG
Do QG thừa nhận các Tập quán quốc tế Ví dụ: Incoterms, UCP 500
+ Ưu điểm: làm cho mối quan hệ tư pháp quốc tế được điều chỉnh nhanh chóng, hiệu quả cao và trực tiếpđiều chỉnh các quan hệ của TPQT
+ Hạn chế: số lượng ít, không đáp ứng được yêu cầu thực tiễn do việc xây dựng khó khăn
Phương pháp xung đột (hay còn gọi là phương pháp điều chỉnh giáp tiếp tiếp) là phương pháp áp dụngnhững quy phạm xung đột để lựa chọn hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnhcủa Tư pháp quốc tế
Trang 3+ Quy phạm xung đột là quy phạm không trực tiếp giải quyết các quan hệ pháp luật cụ thể mà chỉ quyđịnh nguyên tắc chọn luật để giải quyết quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
+ Cách thức xây dựng quy phạm xung đột
Do các quốc gia cùng nhau thỏa thuận xây dựng nên
Do QG xây dựng trong PLQG
Ưu điểm: số lượng quy phạm xung đột rất phong phú do việc xây dựng quy phạm xung đột dễ dàngkhông làm xáo trộn hệ thống pháp luật trong nước Điều chỉnh bằng PPXĐ mang tính linh hoạt mềm dẻo hơnđiều chỉnh bằng PPTC
Hạn chế: PPXĐ không trực tiếp giải quyết vấn đề phát sinh trong QHDS có YTNN Việc vận QPXĐkhông đơn giản, có thể dẫn chiếu đến luật nước ngoài, mất nhiều thời gian và có yêu cầu cao hơn đối vớingười làm công tác áp dụng pháp luật
=> kết luận:
- Hai phương pháp được sử dụng bổ sung hỗ trợ nhau
- Tùy từng mối quan hệ và khả năng thương lượng,… để các QG lựa chọn phương pháp thích hợp
Trang 44 Điều kiện áp dụng các loại nguồn của TPQT trong việc điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
Các loại nguồn của TPQT gồm có điều ước quốc tế, pháp luật quốc gia và tập quán quốc tế
Điều ước quốc tế : là thỏa thuận quốc tế được kí kết bằng văn bản giữa các quốc gia và các chủ thể củaluật quốc tế
+ Điều kiện áp dụng có 2 trường hợp
Trường hợp 1: khi ĐUQT mà Việt Nam là thành viên
Cơ sở pháp lí: khoản 1 Điều 664, k1 Điều 665 BLDS, k1 đ122 HN&GĐ, k1 đ5 luật Thương mại… theo k1Điều 665 BLDS nếu VN là thành viên ĐUQT có quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia QHDS
có YTNN thì áp dụng ĐUQT
Trường hợp 2: khi ĐUQT mà Việt Nam không là thành viên
Khi các bên thoản thuận chọn ĐUQT (đáp ứng các điều kiện chọn luật)
Pháp luật quốc gia là Hệthống pháp luật quốc gia được xây dựng bởi quốc gia
+ Điều kiện áp dụng có 2 trường hợp
Trường hợp 1: khi các bên thỏa thuận chọn pháp luật quốc gia thì pháp luật quốc gia sẽ được áp dụng(nếu đáp ước các điều kiện chọn luật) K2 điều 664, k1 điều 670 BLDS
VD: A (quốc tịch VN) có kí hợp đồng mua bán gạo với B (quốc tịch Hoa Kỳ), hai bên thỏa thuận áp dụngpháp luật Hoa kỳ trong hợp mua bán Pháp luật Hoa Kỳ sẽ áp dụng nếu thỏa điều kiện chọn luật tại k1 điều
670 BLDS
Trường hợp 2: khi QPXĐ trong ĐUQT/PLQG dẫn chiếu đến việc áp dụng PLQG
VD: Chị A (VN) ký kết hợp đồng với anh H (Úc) Yêu cầu xác định năng lực hành vi dân sự của chị A vàanh H Theo k1 Điều 674 BLDS 2015 thì năng lực hành vi dân sự của cá nhân được xác định theo pháp luậtcủa nước mà người đó có quốc tịch Vì vậy, năng lực hành vi dân sự của chị A đc xác định theo pháp luật
VN, anh H được xác định theo pháp luật Úc
Trang 5 Tập quán quốc tế là những quy tắc xử sự được hình thành trong một thời gian dài, được áp dụng kháliên tục và một cách có hệ thống, đồng thời được sự thừa nhận của đông đảo các quốc gia.
+ Điều kiện áp dụng theo điều 666 BLDS các bên được lựa chọn tập quán quốc tế nếu hậu quả của việcchọn tập quán quốc tế không trái với nguyên tắc của pháp luật VN
=>kết luận
+ Các nguồn được sử dụng bổ sung và hỗ trợ nhau
+ Những ĐƯQT trong lĩnh vực TPQT mà VN là TV được ưu tiên áp dụng hơn so với PLQG
+ PLQG là nguồn cơ bản và chủ yếu trong TPQT
5 Trình bày nội dung cơ bản về quyền miễn trừ của quốc gia trong Tư pháp quốc tế.
Quyền miễn trừ quốc gia là quyền bảo đảm cho một quốc gia không phải chịu sự điều chỉnh của thẩm quyềncủa một quốc gia khác, bao gồm cả thẩm quyền lập pháp, hành pháp hay tư pháp
Các quyền miễn trừ của quốc gia:
a Quyền miễn trừ về xét xử:
Nếu không có sự đồng ý của quốc gia thì không có một tòa án nước ngoài nào có thẩm quyền thụ lý và giảiquyết vụ kiện mà quốc gia là bị đơn (trong lĩnh vực dân sự) Cá nhân và pháp nhân nước ngoài không đượcphép đệ đơn kiện một quốc gia tại bất kỳ tòa án nào, kể cả tại tòa án của chính quốc gia đó, trừ khi quốc gia
đó cho phép Các tranh chấp phải được giải quyết bằng thương lượng trực tiếp hoặc ngoại giao giữa các quốcgia Quốc gia đồng ý cho cá nhân, pháp nhân nước ngoài kiện mình cũng có nghĩa là đồng ý cho tòa án thụ lýxét xử vụ kiện mà quốc gia là bị đơn
CSPL: Điều 5 Công ước Liên hợp quốc về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia
b Quyền miễn trừ đối với các biện pháp đảm bảo cho vụ kiện
Miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo đơn kiện, nếu quốc gia đồng ý cho tổ chức, cá nhânnước ngoài kiện mình Trong trường hợp một quốc gia đồng ý để tòa án nước ngoài giải quyết một vụ tranhchấp mà quốc gia tham gia thì tòa án nước ngoài đó được quyền xét xử, nhưng tòa án không được áp dụngbất cứ một biện pháp cưỡng chế nào như bắt giữ, tịch thu tài sản của quốc gia để phục vụ cho việc xét xử, trừkhi được quốc gia cho phép
Trang 6CSPL: Điều 18 Công ước của Liên Hiệp Quốc về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia.
c Quyền miễn trừ về thi hành
Miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo thi hành quyết định của Tòa án trong trường hợpquốc gia đồng ý cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài khởi kiện cũng như đồng ý cho Tòa án xét xử vụ kiện
đó Khi mà quốc gia đồng ý cho một tòa án nước ngoài giải quyết một tranh chấp mà quốc gia là bên thamgia và nếu quốc gia là bên thua kiện thì bản án của Tòa án nước ngoài đó cũng phải được quốc gia tự nguyệnthi hành
6 Trình bày khái niệm, nguyên nhân, phạm vi phát sinh của hiện tượng xung đột pháp luật.
Khái niệm: Xung đột pháp luật là hiện tượng có hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng điều chỉnh một quan
hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, là hiện tượng đặc thù của chính đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế
* Nguyên nhân:
Do pháp luật của các nước có sự khác nhau
Do tồn tại quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có YTNN
* Phạm vi phát sinh:
Hệ thống PLQG;
Trong các quan hệ của TPQT
Trong hệ thống pháp luật của một quốc gia: đối với quốc gia liên bang, pháp luật mỗi bang khácnhau nên có thể dẫn đến xung đột pháp luật giữa các bang
7 Trình bày phương pháp giải quyết hiện tượng xung đột pháp luật.
Gồm hai phương pháp: phương pháp xung đột và phương pháp phương pháp thực chất
a Khái niệm:
Phương pháp xung đột là phương pháp sử dụng các quy phạm xung đột nhằm lựa chọn hệ thống phápluật thích hợp để điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
Nguồn của quy phạm xung đột:
+ Trong các điều ước quốc tế mà VN là thành viên
+ Trong các văn bản pháp luật của một quốc gia (quy phạm thực chất trong nước) Ví dụ: Luật đầu tư,Luật về chuyển giao công nghệ…
Phương pháp thực chất là phương pháp sử dụng các quy phạm pháp luật thực chất nhằm giải quyết nộidung các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
Nguồn:
Trang 7+ Điều ước quốc tế mà VN là thành viên.
+ Pháp luật quốc gia
+ Tập quán quốc tế
b Ưu, nhược điểm:
Ưu điểm Phương pháp xung đột:
+ Dễ dàng điều chỉnh, linh hoạt, mềm dẻo và mang tính khách quan cao
+ Dễ hành hơn việc xây dựng hơn các quy phạm thực chất
+ Vì dễ tiến hành xây dựng các Quy phạm pháp luật đó nên quy phạm xung đột chiếm số lượng lớn =>Khả năng áp dụng cao
Nhược điểm Phương pháp xung đột:
+ Do quy phạm xung đột chỉ đưa ra cách thức chọn luật áp dụng => Khó khăn trong việc xác định nộidung pháp luật nước ngoài, giải thích pháp luật nước ngoài, hiện tượng dẫn chiếu ngược, dẫn chiếu pháp luậtđến nước thứ ba, vấn đề bảo lưu trật tự công cộng, lẩn tránh pháp luật và những vấn đề khác
+ Các nước đều xây dựng quy phạm xung đột và thường sẽ có sự quy định khác nhau => Gây khó khăncho cơ quan giải quyết tranh chấp và các bên tham gia quan hệ
+ Việc áp dụng quy phạm xung đột đòi hỏi người áp dụng phải có kiến thức và kỹ năng về tư pháp quốc
tế (dịch thuật, tìm hiểu pháp luật, so sánh đối chiếu pháp luật…)
Ưu điểm của phương pháp thực chất:
+ Do sử dụng các quy phạm thực chất trực tiếp các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, mà không cầnthông qua bước trung gian “chọn luật áp dụng” => Điều chỉnh quan hệ một cách nhanh chóng và hiệu quả.+ Quy phạm thức chất có cả trong pháp luật quốc gia nên trường hợp các quy phạm này được sử dụng =>
Sẽ cho thấy vai trò của pháp luật quốc gia
+ Quy phạm thực chất còn trong các Điều ước quốc tế (Quy phạm thực chất thống nhất)
=> Làm giảm đi khác biệt trong pháp luật các nước
Nhược điểm của phương pháp thực chất
+ Việc xây dựng không dễ dàng gì và khi ban hành ra ít có khả năng thay đổi với tình hình thực tế.+ Do không dễ dàng xây dựng nên số lượng ít, áp dụng kém linh hoạt mềm dẻo hơn so với phương phápxung đột
8 Trình bày về hệ thuộc luật nhân thân
Khái niệm: Hệ thuộc luật nhân thân là hệ thuộc chỉ ra luật liên quan đến nhân thân của một con người
Phân loại: Hệ thuộc luật nhân thân bao gồm hai loại:
Trang 8 Hệ thuộc luật quốc tịch: là hệ thuộc chỉ ra pháp luật của nước mà cá nhân mang quốc tịch.
Hệ thuộc luật nơi cư trú: là hệ thuộc chỉ ra pháp luật của nước mà cá nhân có nơi cư trú
Phạm vi áp dụng của hệ thuộc luật nhân thân:
+ Các quan hệ về năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự của cá nhân: Điều 673,674 BLDS
+ Việc xác định 1 người mất tích hoặc chết
+ Quan hệ về hôn nhân-gia đình: Điều 126, 127 HN&GĐ
+ Thừa kế động sản Điều 680, 681 BLDS
Ngoại lệ: Xác định pháp luật áp dụng đối với người không quốc tịch hoặc có 2 quốc tịch trở lên Chính vì thế
mà một số nước đã đưa ra nguyên tắc đối với người không có quốc tịch luật áp dụng cho quy chế nhân thânchính là pháp luật nơi họ cư trú, trong trường hợp họ không có nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cưtrú thì áp dụng pháp luật có mối quan hệ gắn bó nhất Đối với trường hợp người có 2 quốc tịch thì pháp luật
ở đây được áp dụng đó là pháp luật của nước mà cá nhân đó có quốc tịch hiện đang cư trú vào thời điểmpháp sinh GDDS
2/ Đó là đưa ra tình huống dự liệu là áp dụng luật có mối quan hệ gắn bó nhất nếu như trong trường hợp mà
hệ thống pháp luật được chỉ ra bởi các quy phạm xung đột là không được áp dụng hoặc nằm ngoài phạm vi
dự liệu thì mình quay trở lại nguyên tắc chung
9 Trình bày về hệ thuộc luật nơi có tài sản
Khái niệm: Hệ thuộc luật nơi có tài sản được hiểu là pháp luật của nước nơi đang có tài sản được áp dụng.Phạm vi của Luật nơi có tài sản áp dụng để giải quyết các vấn đề tranh chấp về:
+ Quyền sở hữu đối với tài sản hữu hình
+ Quyền thừa kế nơi có tài sản là bất động sản
+ Định danh tài sản: điều 677
+ Hợp đồng có đối tượng là bất động sản 683
+ Hình thức di chúc, nếu di chúc liên quan đến bất động sản
Trang 9Ngoại lệ:
+ Tài sản thuộc quyền sở hữu của quốc gia
+ Tài sản của pháp nhân nước ngoài đã bị đình chỉ hoạt động, giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động + Tài sản là đối tượng của quyền SHTT
+ Tranh chấp tài sản trong các hợp đồng mua bán và tài sản đó đang trên đường vận chuyển
+ Quyền sở hữu đối với tàu bay, tàu biển
- Trong các Hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam kí kết với các quốc gia để giải quyết vấn đề vềtài sản là BĐS, định danh tài sản trong quan hệ thừa kế cũng đều áp dụng nguyên tắc luật nơi có tài sản
10 Trình bày về hệ thuộc luật lựa chọn
Khái niệm: Hệ thuộc luật lựa chọn được hiểu là các bên tham gia quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đượclựa chọn hệ thống pháp luật áp dụng cho quan hệ giữa họ thì luật do các bên chọn sẽ được áp dụng
Phạm vi của Hệ thuộc luật lựa chọn áp dụng trong các quan hệ sau:
+ Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, Theo khoản 1 Điều 683 BLDS, các bên trong quan hệhợp đồng được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng (có ngoại lệ)
+ Quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (Điều 687 BLDS)
+ Thực hiện công việc không theo ủy quyền (Điều 686 BLDS)
+ Quyền sở hữu và quyền khác đối với động sản đang trên đường vận chuyển.(Khoản 2 Điều 678 BLDS)
Hệ thuộc luật lựa chọn, phải thỏa mãn điều kiện chọn luật:
+ Phải có sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên trong việc chọn luật (nguyên tắc bình đẳng thỏathuận)
+ Chỉ được lựa chọn luật những vấn đề khi mà ĐƯQT hoặc PLQG cho phép lựa chọn (theo quy định tạiKhoản 2 Điều 664 BLDS)
+ Hậu quả của việc áp dụng luật lựa chọn không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật VN (Quyđịnh tại Điều 666 BLDS, Điểm a Khoản 1 Điều 670 BLDS)
Trang 10+ Chỉ được lựa chọn các quy phạm thực chất, không được chọn luật có quy phạm xung đột Vì như vậy sẽlàm mất đi ý nghĩa lựa chọn luật ban đầu (Khoản 4 Điều 668 BLDS)
+ Việc lựa chọn luật không nhằm lẩn tránh pháp luật (lẩn tránh pháp luật là việc các bên dùng thủ đoạnlẩn tránh khỏi sự chi phối của pháp luật được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ của họ bằng cách hướng sựdẫn chiếu đến một hệ thống pháp luật có lợi cho mình)
Thực tiễn:
Do quan điểm của các nước là không giống nhau mà phải phụ thuộc vào quy định của mỗi nước mà phạm vi
áp dụng của luật lựa chọn có thể là rộng hoặc hẹp Nếu như trong truyền thống khoa học TPQT Luật lựachọn thừa là được các nước thừa nhận áp dụng trong hợp đồng (quyền và nghĩa vụ), ngày nay quyền đượcchọn luật ngày mở rộng như tại EU cho phép trong BTTHNHĐ, thừa kế, HN và GĐ còn VN chỉ có HĐ vàBTTHNHĐ còn HN và GĐ hay thừa kế không cho phép
Đối với các trường hợp chọn đưqt hay tập quán quốc tế thì nó phải là đưqt/tập quán quốc tế thực chấtthống nhất để trực tiếp điều chỉnh quan hệ phát sinh giữa các bên tức không chọn được quy phạm xung độtnhư HĐTTTP VN với các nước
11 Trình bày hệ thuộc Luật Quốc tịch của pháp nhân.
Hệ thuộc luật quốc tịch của pháp nhân được xác định theo pháp luật quốc gia nơi pháp nhân mang quốc tịch
Bộ luật dân sự 2015 lần đầu tiên quy định về cách xác định quốc tịch của pháp nhân, theo đó “Quốc tịch củapháp nhân được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân thành lập” (khoản 1 Điều 676) Như vậy,pháp nhân thành lập ở đâu sẽ có quốc tịch nước đó
Ví dụ: Công ty cổ phần ABC được thành lập hợp pháp ở Việt Nam theo quy định của pháp luật nước này thì
sẽ có quốc tịch Việt Nam
Các dấu hiệu ràng buộc hiện này là:
– Nơi trung tâm quản lý của pháp nhân
– Nơi đăng ký điều lệ (nơi thành lập pháp nhân)
Trang 11– Nơi pháp nhân thực tế tiến hành kinh doanh hoạt động chính
– Ở Việt Nam pháp nhân được thành lập theo pháp luật Việt Nam và đăng ký điều lệ ở Việt Nam thì đươngnhiên pháp nhân mang quốc tịch Việt Nam không phụ thuộc vào việc nó hoạt động ở đâu, lãnh thổ nào.Phạm vi áp dụng:(Khoản 2 Điều 676 BLDS)
- Tư cách pháp nhân,
- Phạm vi năng lực hưởng quyền và nghĩa vụ,
- Điều kiện thành lập, tổ chức lại hoạt động và chấm dứt sự tồn tại của pháp nhân,
- Giải quyết vấn đề tài sản của pháp nhân trong các trường hợp tổ chức lại hoạt động hay chấm dứt hoạt độngcủa pháp nhân
-Đại diện theo pháp luật của pháp nhân
-Năng lực dân sự của pháp nhân
12 Trình bày hệ thuộc Luật Toà án.
Khái niệm: Quy định pháp luật nơi có Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc DS có YTNN sẽ được ápdụng Hệ thuộc luật tòa án là hệ thống pháp luật của nước có tòa án đang xét xử vụ án Có thể hiểu hệ thuộcluật tòa án bao gồm cả luật nội dung và luật hình thức
Tòa án có thẩm quyền khi giải quyết vụ việc chỉ áp dụng pháp luật nước mình Trong các hiệp định tương trợ
tư pháp và pháp lý các bên có thể cho phép các cơ quan tiến hành tố tụng nước mình trong những chừng mựcnhất định được áp dụng luật tố tụng của nước ngoài Luật tòa án là luật nước nơi có Tòa án thụ lý giải quyết
vụ việc Tòa án thụ lý có quyền áp dụng pháp luật nước mình (luật tòa án) để xác định thẩm quyền và giảiquyết tranh chấp
VD: Luật hôn nhân & gia đình khoản 2 điều 127, có nhắc đến luật của nước sở tại xét xử Việc áp dụng nàygiúp giải quyết kịp thời và đảm bảo lợi ích của 2 bên
-Phạm vi:
+ Về mặt tố tụng: áp dụng pháp luật của nước nơi có Tòa án trừ trường hợp ĐƯQT mà quốc gia thànhviên có quy định khác (khoản 3 Điều 2 BLTTDS)
+ Về mặt nội dung:
Có thể pháp luật của nơi có Tòa án
Áp dụng pháp luật nước ngoài:
+ Khi có quy phạm xung đột trong điều ước quốc tế mà quốc gia thành viên dẫn đến áp dụng pháp luậtnước ngoài
+ Khi có quy phạm xung đột trong pháp luật Quốc gia dẫn đến áp dụng pháp luật nước ngoài
Trang 12+ Luật do các bên lựa chọn (thỏa mãn điều kiện chọn luật)
+ Pháp luật nơi có mối quan hệ gắn bó mật thiết nhất (Chỉ có hệ thuộc luật Tòa án mới có)
13 Trình bày về quy phạm xung đột và đưa ra các đặc điểm để nhận dạng quy phạm xung đột
Quy phạm xung đột là quy phạm pháp luật xác định hệ thống pháp luật cụ thể nào có thể được áp dụng để điều chỉnh một quan hệ của TPQT
Quy phạm xung đột là quy phạm gián tiếp, quy phạm ấn định luật pháp nước nào đó cần áp dụng để giảiquyết quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đưa ra nguyên tắc chung trong việc xác định pháp luật áp dụnggiải quyết một quan hệ hoặc một tình huống cụ thể
Theo khoản 2 Điều 663 BLDS 2015 và khoản 2 Điều 464 BLTTDS 2015 xác định các quan hệ các yếu tốnước ngoài bao gồm:
+ Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài;
+ Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiệnhoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;
+ Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó
ở nước ngoài
* Đặc điểm
Quy phạm xung đột về phần cấu trúc bao gồm hai bộ phận: phần phạm vi và phần hệ thuộc Phạm vi là phầnquy định quy phạm xung đột này được áp dụng cho loại quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong các lĩnhvực pháp luật, phần hệ thuộc là phần quy định chỉ ra luật pháp nước nào được áp dụng để giải quyết quan hệpháp luật đã ghi ở phần phạm vi
Đặc điểm về đặc tính gồm hai điểm nổi bật:
a, Tính trừu tượng, phức tạp
Quy phạm xung đột sẽ không đưa ra các chế tài hay phương án để giải quyết các sự việc, mà nó chỉ là mộtkênh luật trung gian, chỉ định, chọn lựa luật pháp của một nước cụ thể giải quyết nên cấu trúc khá phức tạp,mang tính trừu tượng cao
b, Tính điều chỉnh gián tiếp
Tính điều chỉnh gián tiếp thể hiện ở chỗ quy phạm xung đột sẽ làm nhiệm vụ dẫn chiếu để tìm ra phương ángiải quyết các quan hệ phát sinh Quy phạm xung đột luôn mang tính dẫn chiếu, khi quy phạm xung đột dẫnchiếu tới một hệ thống pháp luật cụ thể mà các quy phạm thực chất được áp dụng để giải quyết quan hệ mộtcác dứt điểm thì ở đây ta lại thấy tính chất song hành giữa quy phạm thực chất với quy phạm xung đột trongđiều chỉnh pháp luật
Trang 13* Phân loại:
Theo hình thức dẫn chiếu:
Quy phạm xung đột một bên: Đây là quy phạm chỉ ra quan hệ dân sự này chỉ áp dụng luật pháp của mộtnước cụ thể
Ví dụ: Khoản 1 Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
Quy phạm xung đột hai bên (hai chiều) đây là những quy phạm đề ra nguyên tắc chung để cơ quan tư pháp
có thẩm quyền lựa chọn áp dụng luật của một nước nào đó để điều chỉnh đối với quan hệ tương ứng
Ví dụ: Khoản 2 Điều 678 BLDS 2015
Theo tính chất:
QPXĐ mệnh lệnh (đưa ra hướng giải quyết) VD: Khoản 1, 2, 3 Điều 674 BLDS 2015
QPXĐ tùy nghi (có thể thỏa thuận) VD: khoản 1 Điều 683 BLDS 2015
14 Trình bày vấn đề bảo lưu trật tự công cộng.
Bảo lưu trật tự công cộng được quy định dưới góc độ pháp lý là việc các cơ quan tư pháp và cơ quan nhànước có thẩm quyền không áp dụng luật nước ngoài khi vận dụng và thực hiện các quy phạm xung đột nếuviệc áp dụng đó chống lại trật tự công cộng của nước mình Như vậy, có thể xác định vấn đề được nêu hiểutheo một cách đơn giản nhất là khi áp dụng bảo lưu trật tự công cộng ở trong nước thì luật nước ngoài sẽ bịgạt bỏ không áp dụng, nếu việc áp dụng đó chống lại trật tự công cộng của nước mình
Trật tự công được pháp luật Việt Nam thừa nhận là những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, ghinhận trong hiến pháp, ngoài ra còn được ghi nhận ở một số văn bản pháp luật khác, ví dụ Điều 101 LuậtHNGĐ, Điều 7 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam- Liên Bang Nga…
Ví dụ: Anh A công dân I-rắc 35 tuổi muốn kết hôn với chị B công dân Việt Nam 25 tuổi tại Việt Nam Tuynhiên anh A đã có hai vợ Có thể thấy đây là trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài nên quy phạm xungđột sẽ được viện dẫn để giải quyết, cụ thể Điều 126 Luật hôn nhân và gia đình (nguyên tắc Luật quốc tịchcủa của các bên)
Chị B có đủ điều kiện kết hôn và như vậy chị B phải tuân theo các điều kiện kết hôn quy định trong luật hônnhân gia đình Việt Nam Tương tự, anh A cũng phải tuân thủ luật của I-rắc mà theo pháp luật I-rắc mộtngười đàn ông được lấy tối đa là bốn vợ Trong ví dụ này anh A cũng đủ điều kiện kết hôn Nhưng khi họ xinđăng kí kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì bị từ chối
⇒ Vì áp dụng khoản 1 Điều 126 sẽ dẫn đến hậu quả là cơ quan có thẩm quyền sẽ áp dụng hệ thống pháp luậtnước ngoài có nội dung vi phạm các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam (hay trật tự công cộng ViệtNam) vì pháp luật hôn nhân gia đình Việt Nam chỉ thừa nhận nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng theo
Trang 14Điều 2 của Luật HN và GĐ năm 2014 Vậy trong trường hợp này cơ quan có thẩm quyền có thể từ chối (hayloại bỏ) không áp dụng pháp luật nước ngoài đó để áp dụng pháp luật nước mình, bảo vệ trật tự công củaViệt Nam.
Việc thực hiện nguyên tắc bảo lưu trật tự công cộng để loại bỏ một số quy định của pháp luật của nước ngoàikhông thể áp dụng không có nghĩa là luật nước ngoài đối kháng, mâu thuẫn với thể chế chính trị – pháp luậtcủa nhà nước mình mà chỉ là nếu áp dụng thì gây ra hậu quả xấu, không lành mạnh có tác động tiêu cực đốivới các nguyên tắc các nền tảng cơ bản, đạo đức, truyền thống và lối sống của nước mình Các cơ quan tưpháp và cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở nước ta phải cẩn trọng trong việc vận dụng nguyên tắc bảo lưutrật tự công cộng, thực tiễn cho thấy rất ít trường hợp phải vận dụng và trường hợp bắt buộc bao giờ cũngdựa trên những cơ sở pháp lý đúng đắn và khách quan, bảo đảm thực hiện nghiêm túc nguyên tắc pháp chế
xã hội chủ nghĩa
15 Phân tích thẩm quyền riêng biệt của Toà án Việt Nam đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.
Đối với thẩm quyền riêng biệt, đó là sự tuyên bố của pháp luật VN về các vụ việc dân sự mà chỉ có tòa án
VN mới có thẩm quyền giải quyết Để bảo vệ chủ quyền của quốc gia, bảo vệ pháp luật của quốc gia cũngnhư quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, pháp luật VN quy định, nếu một vụ việc thuộc thẩm quyềnriêng biệt của tòa án VN thì khi Tòa án nước ngoài giải quyết, bản án, quyết định của tòa án nước ngoài về
vụ việc đó sẽ không được công nhận và cho thi hành tại VN
Tại VN, thẩm quyền riêng biệt của tòa án VN được quy định tại Điều 470 BLTTDS 2015
Thứ nhất, quy định các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng vận chuyển không thuộc thẩm quyền riêng biệt củatòa án quốc gia
Thứ hai, vụ án dân sự được các bên thỏa thuận chọn tòa án VN để giải quyết và vụ án đó được pháp luật VNhoặc điều ước quốc tế mà VN là thành viên cho phép chọn tòa án Điều này một mặt đảm bảo quyền tự địnhđoạt của các bên tranh chấp - một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự Mặt khác,tránh được tình trạng xung đột thẩm quyền trong giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài Việccác bên thỏa thuận chọn tòa án VN giải quyết tranh chấp giữa các bên sẽ là cơ sở để loại trừ thẩm quyền củatòa án nước ngoài Tuy nhiên trên thực tế, việc áp dụng quy định này có thể sẽ gặp một số khó khăn, vướngmắc BLTTDS 2015 chỉ dừng lại ở việc quy định mang tính nguyên tắc, chưa đủ cụ thể để áp dụng Cònthiếu các quy định về hình thức chọn tòa án, phạm vi thỏa thuận, thời điểm chọn tòa án, về các vụ việc dân
Trang 15sự có yếu tố nước ngoài các bên được quyền chọn tòa án hoặc các bên vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoàicác bên không có quyền chọn tòa án.
Thứ ba, bổ sung quy định về các yêu cầu không có tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự
16 Phân tích thẩm quyền chung của Toà án Việt Nam đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài
Đối với thẩm quyền chung, tòa án VN có thể có thẩm quyền, tòa án của quốc gia nước ngoài cũng có thể cóthẩm quyền Tại VN, thẩm quyền chung của tòa án VN được quy định tại Điều 469 BLTTDS 2015
Thứ nhất, Bị đơn là cá nhân cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại VN: Quy định này sẽ mở rộng tối đa thẩmquyền của Tòa án VN đối với vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài vì chỉ cần bị đơn có nơi cư trú, làm ăn,sinh sống lâu dài tại VN là Tòa án VN sẽ có thẩm quyền, không phân biệt bị đơn là công dân VN hay côngdân nước ngoài Tuy nhiên, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 469 BLTTDS 2015 vẫn còn bộc lộ bất cập khigắn yếu tố “cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại VN” vào dấu hiệu “nơi cư trú” của cá nhân như một điềukiện để tòa án VN có thẩm quyền Bởi lẽ quy định trên chưa thực sự rõ ràng do nó khiến chúng ta không thểbiết được pháp luật yêu cầu có phải thỏa mãn cả ba điều kiện là“cư trú”, “làm ăn”, “sinh sống” lâu dài tại VNhay chỉ cần một trong các điều kiện đó
Bên cạnh đó, trong pháp luật VN hiện hành không có bất cứ quy định nào giải thích hay đưa ra tiêu chí đểxác định điều kiện để một người được xem là “cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại VN” Sẽ hợp lý hơn nếupháp luật VN căn cứ vào yếu tố “cư trú” của bị đơn để xác định thẩm quyền của tòa án VN và nơi trú của cánhân sẽ được xác định theo nguyên tắc được quy định trong Luật Cư trú
Thứ hai, bị đơn là cơ quan, tổ chức có trụ sở tại VN hoặc bị đơn là cơ quan, tổ chức có chi nhánh, văn phòngđại diện tại VN đối với các vụ việc liên quan đến hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện của cơ quan,
tổ chức đó tại VN: việc xác định thẩm quyền dựa vào dấu hiệu nơi có trụ sở của bị đơn đã được mở rộng, baogồm cơ quan, tổ chức VN và tổ chức nước ngoài chứ không chỉ giới hạn đối với bị đơn là cơ quan, tổ chứcnước ngoài như BLTTDS 2004 Quy định này sẽ tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho tòa án VN giải quyết các
vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài mà bị đơn là tổ chức VN Đồng thời, xác định rõ, trong trường hợp bịđơn là cơ quan, tổ chức nước ngoài có chi nhánh, văn phòng đại diện tại VN, tòa án VN chỉ có thẩm quyềnđối với các vụ việc liên quan đến hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện tại VN
Thứ ba, bị đơn có tài sản trên lãnh thổ VN: trong trường hợp bị đơn có tài sản trên lãnh thổ VN thì Tòa án
VN sẽ có thẩm quyền giải quyết đối với vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài mà không đòi hỏi thêm bất kỳ
Trang 16điều kiện nào khác Căn cứ này được áp dụng đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung, trừcác vụ việc đặc thù như vụ án ly hôn.
Thứ tư, vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân VN hoặc các đương sự là người nướcngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại VN
+ Đối với vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân VN, tòa án VN sẽ có thẩm quyền giải quyếttrong mọi trường hợp, cho dù công dân VN cư trú tại VN hay cư trú tại nước ngoài, chỉ cần một trong cácbên có quốc tịch VN là tòa án VN có thẩm quyền
+ Đối với vụ việc ly hôn giữa các đương sự là người nước ngoài, tòa án VN chỉ có thẩm quyền trong trườnghợp các bên nước ngoài đó đều cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại VN Tuy nhiên, quy định sẽ có thể gặpkhó khăn trong quá trình áp dụng trên thực tế Vì như đã phân tích ở trên, pháp luật VN chưa có quy địnhnhằm xác định điều kiện “cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở VN”
17 Phân tích các trường hợp Tòa án phải trả lại đơn kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.
Một số trường hợp hạn chế thẩm quyền của Tòa án Việt Nam đối với vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoàiđược quy định cụ thể tại K1 Điều 472 BLTTDS 2015 Có 05 trường hợp Tòa án Việt Nam thực hiện việc trảlại đơn kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài
Thứ nhất, trường hợp các đương sự được thỏa thuận lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp theo quyđịnh của pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài và đã lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa
án nước ngoài giải quyết vụ việc đó (điểm a khoản 1 Điều 472 BLTTDS) Đối với trường hợp này, Tòa ánViệt Nam phải trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nướcngoài Tuy nhiên, Tòa án Việt Nam không phải trả lại đơn kiện và vẫn có thẩm quyền giải quyết nếu có sựtồn tại của một trong ba tình huống sau đây:
- Các bên thay đổi thỏa thuận lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa án nước ngoài bằng thỏa thuận lựa chọn Tòa ánViệt Nam
- Hoặc thỏa thuận lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa án nước ngoài bị vô hiệu hoặc không thể thực hiện được;
- Hoặc Trọng tài hoặc Tòa án nước ngoài từ chối thụ lý
Thứ hai, trường hợp vụ việc không thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam quy định tại Điều 470của Bộ luật này và vụ việc thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án nước ngoài có liên quan, thì Tòa án ViệtNam trả lại đơn kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc (điểm b khoản 1 Điều 472 BLTTDS2015) Ở trường hợp này, thể hiện sự tôn trọng thẩm quyền riêng biệt của Tòa án nước ngoài bằng việc hạn
Trang 17chế thẩm quyền của Tòa án quốc gia mình đối với vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyềnriêng biệt của Tòa án nước ngoài.
Thứ ba, trường hợp vụ việc không thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam quy định tại Điều 470của Bộ luật này và đã được Trọng tài hoặc Tòa án nước ngoài thụ lý giải quyết, thì Tòa án Việt Nam trả lạiđơn kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc (điểm c khoản 1 Điều 472 BLTTDS 2015) Quy địnhnhư vậy là không để xảy ra trường hợp cùng một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyềnchung của Tòa án Việt Nam đã được thụ lý giải quyết bởi cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài lại tiếp tụcđược Tòa án Việt Nam thụ lý giải quyết tiếp tục ở lần thứ hai
Thứ tư, trường hợp vụ việc đã được giải quyết bằng bán án, quyết định của Tòa án nước ngoài hoặc phánquyết của Trọng tài, thì Tòa án Việt Nam trả lại đơn kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc (điểm
d khoản 1 Điều 472 BLTTDS 2015) Điều này ngăn chặn trường hợp cùng một vụ việc dân sự có yếu tốnước ngoài được hai cơ quan tài phán của các nước khác nhau giải quyết Tuy nhiên, nếu bản án, quyết địnhcủa Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài không được Tòa án Việt Nam công nhận thìTòa án Việt Nam vẫn có thẩm quyền giải quyết vụ việc đó
Thứ năm, trường hợp bị đơn được hưởng quyền miễn trừ tư pháp, Tòa án Việt Nam trả lại đơn kiện, đơn yêucầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc ( Điểm đ khoản 1 Điều 472 BLTTDS 2015) Lý do để Tòa án Việt Namtrả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong trườnghợp này là vì vụ việc được giải quyết bằng con đường ngoại giao Vấn đề này đã được quy định tại khoản 4Điều 2 BLTTDS:
18 Phân tích điều kiện để bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.
Công nhận và cho thi hành quyết định nước ngoài là cơ sở cho thi hành bản án, quyết định đó của quốc gia
và Việt Nam cũng không ngoại lệ Điều kiện để một bản án, quyết định của tòa án nước ngoài được côngnhận và cho thi hành tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam có thể hiểu như sau:
a Thời hiệu yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của tòa án nước ngoài:
Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của tòa án nước ngoài tại Việt Nam là loại việc dân sự
“đặc thù” nên BLTTDS 2015 đã xây dựng một loại thời hiệu riêng biệt so với các vụ việc dân sự khác, cụthể:
- Theo quy định tại khoản 1 Điều 432 BLTTDS Trong 03 năm, từ ngày bản án, quyết định của Tòa ánnước ngoài có hiệu lực, người được thi hành, người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan, người đại diện hợppháp của họ có quyền gửi đơn đến Bộ Tư pháp Việt Nam theo quy định
Trang 18ĐƯQT mà Việt Nam và nước có Tòa án ra bản án, quyết định cùng là thành viên hoặc Tòa án Việt Nam cóthẩm quyền quy định tại Bộ luật này yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam Thời hiệu 03 năm này
là để tiến hành thủ tục để bản án, quyết định của tòa án nước ngoài được thi hành tại Việt Nam
- Theo khoản 2 Điều 432 BLTTDS, khi người làm đơn chứng minh được vì sự kiện bất khả kháng hoặc trởngại khách quan không thể gửi đơn đúng thời hạn nêu trên thì thời gian có sự kiện bất khả kháng, trở ngạikhách quan không được tính vào thời hạn gửi đơn Lưu ý, sau khi bản án, quyết định của tòa án nước ngoài
có hiệu lực pháp luật, có thể xảy ra trường hợp người phải thi hành không có các yếu tố tại điểm b khoản 1Điều 433 BLTTDS nhưng sau một thời gian các yếu tố này mới xuất hiện thì nên coi là trở ngại khách quan
để không tính vào thời hạn gửi đơn
Ví dụ: A là công ty nước ngoài không có trụ sở, tài sản ở Việt Nam, A thua kiện B- nguyên đơn thắng kiệncũng là chủ thể gửi đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án của tòa án nước ngoài; 4 năm sau đó công
ty này mới có tài sản ở Việt Nam⇒ trường hợp này được coi là có trở ngại khách quan, không tính vào thờihạn gửi đơn
b Phạm vi công nhận và cho thi hành, cơ sở pháp lý, nguyên tắc, chủ thể có quyền yêu cầu, tòa án cóthẩm quyền giải quyết:
- Phạm vi: theo khoản 1, khoản 2 Điều 423 BLTTDS thì bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và giađình, kinh doanh, thương mại, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chínhcủa tòa án nước ngoài; Quyết định về nhân thân, hôn nhân và gia đình của cơ quan khác có thẩm quyền nướcngoài được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
- Cơ sở pháp lý: các Điều ước quốc tế quy định về vấn đề này hoặc trên cơ sở pháp luật Việt Nam hoặctheo nguyên tắc có đi có lại
- Nguyên tắc: Bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài chỉ được thi hành tại Việt Nam sau khi
có quyết định của tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật
- Tòa án có thẩm quyền giải quyết: Theo khoản 5 Điều 27 BLTTDS, việc công nhận và cho thi hành cácbản án, quyết định dân sự của TANN, phán quyết của TTNN thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Theoquy định tại Điều 37 BLTTDS thì TAND cấp tỉnh có thẩm quyền đối với việc công nhận và cho thi hành cácbản án, quyết định dân sự của TAND
- Chủ thể có quyền yêu cầu: theo Điều 425 BLTTDS thì những chủ thể sau có quyền yêu cầu về vấn đềnày:
+ Người được thi hành, người đại diện hợp pháp của họ được quyền yêu cầu tòa án công nhận và cho thihành (Điều 432, Điều 433 BLTTDS)
Trang 19+ Người phải thi hành và người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu tòa án không công nhận (Điều
444 đến Điều 446 BLTTDS)
+ Đương sự, người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêucầu tòa án công nhận, không công nhận bản án, quyết định đó, có yêu cầu thi hành, không có yêu cầu thihành tạiViệt Nam (Điều 447 đến Điều 450 BLTTDS)
Lưu ý: Chủ thể yêu cầu đảm bảo các quy định về thủ tục
- Quy định về lệ phí, chi phí: Căn cứ Điều 430 BLTTDS, người yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận vàcho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa nước ngoài phải nộp lệ phí theo quy định ViệtNam, phải chịu chi phí tống đạt ra nước ngoài văn bản tố tụng của Tòa án Việt Nam liên quan yêu cầu củahọ
- Quy định về đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành: Đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành phải cócác nội dung chính được quy định tại khoản 1 Điều 433 BLTTDS Nếu đơn yêu cầu bằng tiếng nước ngoàiphải được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp (khoản 2 Điều 433)
- Quy định về giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu: Cần gửi kèm theo giấy tờ, tài liệu được quyđịnh tại ĐƯQT mà Việt Nam và nước có Tòa án cùng là thành viên Trường hợp Việt Nam và nước có Tòa
án chưa cùng là thành viên của ĐƯQT có quy định về vấn đề này thì kèm theo đơn yêu cầu phải có giấy tờ,tài liệu được quy định tại khoản 1 Điều 434 BLTTDS Nếu giấy tờ, tài liệu kèm theo bằng tiếng nước ngoàiphải kèm theo bản dịch ra tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp (Điều 434 BLTTDS)
c Bản án, quyết định của toà án nước ngoài thuộc trường hợp đương nhiên công nhận và không thuộctrường hợp từ chối công nhận:
Trừ trường hợp những bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không được công nhận và cho thihành tại Việt Nam theo Điều 439 BLTTDS, gồm:
- Không đáp ứng được một trong các điều kiện để được công nhận theo ĐƯQT mà VN là thành viên
- Chưa có hiệu lực pháp luật theo quy định của nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định đó
- Người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ đã vắng mặt tại phiên tòa của Tòa án nước ngoài
do không được triệu tập hợp lệ hoặc văn bản của Tòa án nước ngoài không được tống đạt cho họ trong mộtthời hạn hợp lý theo quy định của nước có Tòa án nước ngoài để họ thực hiện quyền tự bảo vệ
- Tòa án nước đã ra bản án, quyết định không có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự đó theo quy định tạiĐiều 440 của Bộ luật này
Trang 20- Vụ việc dân sự đã có bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án Việt Nam hoặc trướckhi cơ quan xét xử nước ngoài thụ lý, Tòa án Việt Nam đã thụ lý và đang giải quyết vụ việc hoặc đã có bản
án, quyết định dân sự của Tòa án nước thứ ba đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành
- Đã hết thời hiệu thi hành án theo pháp luật của nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định hoặc theo phápluật thi hành án dân sự Việt Nam
- Việc thi hành bản án, quyết định đã bị hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành tại nước có Tòa án đã ra bản án, quyếtđịnh đó
- Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định này tại Việt Nam trái với các nguyên tắc cơ bản củapháp luật Việt Nam
Những bản án, quyết định của tòa án nước ngoài sẽ đương nhiên được công nhận nếu thuộc quy định tạiĐiều 431 BLTTDS, bao gồm:
- Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài không
có yêu cầu thi hành tại Việt Nam và không có đơn yêu cầu không công nhận tại Việt Nam được quy định tạiĐƯQT Việt Nam là thành viên
- Bản án, quyết định về hôn nhân gia đình của Tòa án, cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài mà nước
đó và Việt Nam chưa cùng là thành viên của ĐƯQT không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam và không cóđơn yêu cầu không công nhận tại Việt Nam
19 Trình bày thủ tục công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của toà án nước ngoài.
Công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài là một chế định quan trọng trong hệthống pháp luật Tố tụng dân sự của mỗi quốc gia, quy định trình tự, thủ tục thừa nhận giá trị pháp lý và chophép thi hành bản án, quyết định dân sự do Tòa án nước ngoài tuyên trên lãnh thổ của quốc gia sở tại gồmcác bước sau:
Bước 1: Người yêu cầu nộp Đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành kèm theo giấy tờ kèm theo: Đượcquy định cụ thể tại Điều 433 và 434 BLTTDS Người có quyền yêu cầu là Người được thi hành hoặc ngườiđại diện hợp pháp của họ nếu cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc tại Việt Nam hoặc cơ quan, tổ chức phảithi hành có trụ sở chính tại Việt Nam hoặc tài sản liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định dân sự củaToà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài có tại Việt Nam vào thời điểm gửi đơn yêu cầu Bước 2: Thụ lý hồ sơ: Đơn yêu cầu và giấy tờ sẽ được Bộ Tư pháp chuyển cho Tòa án có thẩm quyềnthụ lý trong thời hạn 05 ngày làm việc theo quy định tại Điều 435, 436 BLTTDS
Bước 3: Chuẩn bị xét đơn yêu cầu: 04 tháng kể từ ngày thụ lý, tùy từng trường hợp Tòa án ra mộttrong các quyết định: Tạm đình chỉ việc xét đơn yêu cầu; Đình chỉ việc xét đơn yêu cầu; Mở phiên họp xét
Trang 21đơn yêu cầu Trường hợp Tòa án yêu cầu giải thích những điểm chưa rõ thì thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầuđược kéo dài nhưng không quá 02 tháng bước chuẩn bị xét đơn yêu cầu được quy định rõ tại Điều 437BLTTDS.
Bước 4: Mở phiên họp xét đơn yêu cầu: Tại phiên họp, Hội đồng xét đơn yêu cầu có quyền ra quyếtđịnh công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc quyết định không công nhận bản án, quyết định dân sựcủa Tòa án nước ngoài được quy định cụ thể tại Điều 438 BLTTDS
Bước 5: Gửi quyết định của Tòa án cho đương sự: Tòa án gửi quyết định tới đương sự hoặc ngườiđại diện hợp pháp của họ, Bộ Tư pháp và Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyếtđịnh Bước này được quy định cụ thể tại Điều 441 BLTTDS
20 Trình bày thủ tục không công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của toà án nước ngoài.
Thủ tục không công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài gồm các bước sau: Bước 1: Người yêu cầu gửi đơn yêu cầu không công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa ánnước ngoài và tài liệu kèm theo Người phải thi hành bản án hoặc người đại diện hợp pháp của họ trong thờihạn 03 năm, kể từ ngày bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài có hiệu lực pháp luật có quyền gửiđơn yêu cầu và tài liệu đính kèm cho Tòa án Việt Nam không công nhận bản án, quyết định dân sự đó theoquy định cụ thể tại Điều 444, 445 và 446 BLTTDS Trường hợp người có quyền gửi đơn yêu cầu không côngnhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam đượcthực hiện theo quy định tại Điều 447, 448 BLTTDS
Bước 2: Thụ lý hồ sơ: Đơn yêu cầu và giấy tờ sẽ được Bộ Tư pháp chuyển cho Tòa án có thẩm quyền thụ
lý trong thời hạn 05 ngày làm việc theo quy định tại Điều 435, 436 BLTTDS
Bước 3: Chuẩn bị xét đơn yêu cầu: 04 tháng kể từ ngày thụ lý, tùy từng trường hợp Tòa án ra một trongcác quyết định: Tạm đình chỉ việc xét đơn yêu cầu; Đình chỉ việc xét đơn yêu cầu; Mở phiên họp xét đơn yêucầu Trường hợp Tòa án yêu cầu giải thích những điểm chưa rõ thì thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu đượckéo dài nhưng không quá 02 tháng bước chuẩn bị xét đơn yêu cầu được quy định rõ tại Điều 437 BLTTDS Bước 4: Mở phiên họp xét đơn yêu cầu: Tại phiên họp, Hội đồng xét đơn yêu cầu có quyền ra quyết địnhkhông công nhận bản án hoặc bác đơn yêu cầu không công nhận, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoàiđược quy định cụ thể tại Điều 438 BLTTDS
Bước 5: Gửi quyết định của Tòa án cho đương sự: Tòa án gửi quyết định tới đương sự hoặc ngườiđại diện hợp pháp của họ, Bộ Tư pháp và Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyếtđịnh Bước này được quy định cụ thể tại Điều 441 BLTTDS
21 Trình bày thủ tục không công nhận các bản án, quyết định không có yêu cầu thi hành.
Trang 22Các trường hợp không công nhận các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam đượcquy định tại Điều 439 BLTTDS 2015 (hình như thủ tục thụ lý không công nhận, không có yêu cầu thi hành
là ở Điều 449 BLTTDS 2015) Thủ tục không công nhận các bản án, quyết định không có yêu cầu thi hànhđược quy định từ Điều 447 đến Điều 450 BLTTDS 2015, cụ thể:
Ghi nhận quyền yêu cầu không công nhận và cho thi hành: khoản 1 Điều 444 BLTTDS 2015: người phảiđược quyền chủ động yêu cầu Tòa án Việt Nam không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nướcngoài
Thủ tục xét đơn yêu cầu không công nhận và cho thi hành: giống thủ tục xét đơn công nhận và cho thi hànhquy định tại Mục I Chương XXXVI BLTTDS 2015, cụ thể:
a Thời hạn: trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài có hiệu lựcpháp luật, trừ trường hợp sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà không thể gửi đơn đúng thờihạn thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hạn gửi đơn
b Nội dung đơn yêu cầu: được quy định tại Điều 448 BLTTDS 2015, theo đó đơn yêu cầu phải có 2 nộidung chính:
(1) họ tên, địa chỉ nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người làm đơn;
(2) yêu cầu của người làm đơn
c Về việc thụ lý đơn, chuẩn bị xét đơn yêu cầu và phiên họp xét đơn yêu cầu: được thực hiện theo quy địnhtại các Điều 436, 437 và 438 BLTTDS 2015 (theo khoản 1 Điều 449 BLTTDS 2015), bản án, quyết định củaTòa án nước ngoài không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam theo các trường hợp quy định tạiĐiều 439 BLTTDS 2015 (theo khoản 3 Điều 449 BLTTDS 2015) Khi đó, Hội đồng xét đơn yêu cầu cóquyền ra các quyết định sau:
i Không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài
ii Bác đơn yêu cầu không công nhận
Quyết định khi bị kháng cáo, kháng nghị: thực hiện theo quy định tại Điều 441, 442 và 443 BLTTDS 2015,khi đó, quyết định xét đơn yêu cầu không công nhận có thể bị phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm
*thủ tục không công nhận các bản án, quyết định không có yêu cầu thi hành
-Nộp đơn yêu cầu:
Ai có quyền nộp đơn: đương sự, người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp phápcủa họ (khoản 1 Điều 447 BLTTDS)
Đơn yêu cầu và tài liệu kèm theo (Điều 448 BLTTDS):
Trang 23 Nơi nộp đơn: gửi đơn đến Bộ Tư pháp Việt Nam theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Bộ luật nàytrong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên không quy địnhhoặc không có điều ước quốc tế liên quan để yêu cầu Tòa án không công nhận bản án, quyết định dân sự đó(khoản 1 Điều 447 BLTTDS).
- Thụ lý hồ sơ: Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ do Bộ Tư pháp chuyển đếnhoặc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu và giấy tờ, tài liệu kèm theo do người có yêu cầu gửi đến Tòa ánxem xét và thụ lý hồ sơ.( CSPL: khoản 1 Điều 449 dẫn chiếu đến Điều 436 BLTTDS)
- Tòa nào có thẩm quyền: tòa án nhân dân cấp tỉnh, tòa án theo lãnh thổ (Điều 435, điểm b khoản 1 điều 37,điểm đ khoản 2 Điều 39 BLTTDS) - Chuẩn bị xét đơn yêu cầu (khoản 1 Điều 449, Điều 437 BLTTDS):
- Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý Trong thời hạn này, tuỳ từng trường hợp
mà Tòa án ra một trong các quyết định sau đây: Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ việc xét đơn yêu cầu khi
có một trong các căn cứ tại khoản 4 điều 437 BLTTDS; Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầukhi có một trong các căn cứ tại khoản 5 điều 437 BLTTDS
- Mở phiên họp xét đơn yêu cầu (khoản 1 điều 449, điều 438 BLTTDS
22 Phân tích điều kiện để phán quyết trọng tài nước ngoài được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam theo Công ước New York 1958.
Theo Công ước New York 1958, Điều I (1) Công ước có nêu ra hai yếu tố để xác nhận một phán quyết trọngtài có phải là phán quyết trọng tài nước ngoài hay không, đó là yếu tố chính yếu và yếu tố thứ yếu
1 Yếu tố chính yếu: phán quyết được xem là phán quyết trọng tài nước ngoài nếu phán quyết này được tuyêntại lãnh thổ của một quốc gia khác với quốc gia nơi mà việc yêu cầu công nhận và cho thi hành phán đượctiến hành Đây là yếu tố có tính căn bản, nền tảng mà các quốc gia thành viên khi xây dựng những quy địnhpháp luật nội địa của mình phải tuyệt đối tuân thủ Có thể thấy rằng, yếu tố chính yếu để Công ước NewYork xem một phán quyết trọng tài nước có thể thuộc đối tượng điều chỉnh của mình hay không chính lànguyên tắc lãnh thổ
2 Yếu tố thứ yếu: một phán quyết được tuyên trong lãnh thổ của quốc gia nơi tiến hành việc công nhận vàcho thi hành nhưng không được coi là phán quyết trọng tài trong nước thì cũng được xem là phán quyết trọngtài nước ngoài Theo đó, một phán quyết được tuyên ngay trên lãnh thổ của nước được yêu cầu công nhận vàcho thi hành cũng có thể xem là phán quyết trọng tài nước ngoài nếu phán quyết này không được xem làphán quyết trong nước