1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

tài liệu ĐIỀU HOÀ hô hấp

11 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 24,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐIỀU HOÀ HÔ HẤP Hoạt động sống của con người luôn biến động sao cho phù hợp với điều kiện thay đổi của môi trường xung quanh (tự nhiên và xã hội). Khi hoạt động sống thay đổi, thì nhu cầu năng lượng cũng thay đổi, do đó nhu cầu cung cấp O2 và đào thải CO2, cũng phải thay đổi theo để duy trì tính hằng định nội môi. Quá trình điều chỉnh đó gọi là điều hoà hô hấp. Bình thường hô hấp được duy trì bởi trung tâm tự động, có tính chu kỳ, đều dặn. Điều hoà hô hấp chính là làm biến đổi hoạt động chức năng của trung tâm này, do đó làm tăng hoặc giảm tần số và biên độ hô hấp. 1. Trung tâm hô hấp Những trung tâm thần kinh có liên quan đến hô hấp, phân bố tù tuỷ sống đến hành cầu não song trung tâm hô hấp ở hành não là quan trọng nhất, vì trung tâm này bị tổn thương thì con vật sẽ chết ngay do ngừng thở. 1.1. Những thí nghiệm xác định vị trí của trung tâm hô hấp. Legallois thí nghiệm cắt ngang tuỷ sống của mỗi con vật từ thấp đến cao với từng nhát cắt khác nhau quan sát thấy: + Cắt ngang mức đốt tuỷ cổ VII: cơ liên sườn liệt, lồng ngực xẹp, nhưng cơ hoành vẫn co giãn bình thường, nhưng biên độ thở nông. + Cắt ngang đốt tuỷ cổ III, IV cơ hoành ngừng co, con vật vẫn sống, cử động cánh mũi kiểu thở. + Cắt tuỷ sống ở ngang lỗ xương chẩm con vật chết ngay. Flourens cũng bằng thí nghiệm cắt não nhưng cắt từ trên xuống (hình 1): + Nhát cắt giữa trung não và cầu não con vật vẫn hô hấp bình thường Nhát cắt ngang ở giữa cầu não, con vật vẫn còn thở, nhưng nhịp thừa ra (chậm). + Nhát cắt ngang giữa cầu não và hành não thấy nhịp thở chậm. + Dùng dùi phá hành não: con vật chế ngay. Từ kết quả của hai thí nghiệm trên cho thấy trung tâm hô hấp gồm có: 1.2. Trung tâm ở tuỷ sống. Trung tâm thần kinh chi phối cơ hoành, nằm ở sừng bên chất xám tuỷ sống ở đốt tuỷ cổ II. IV. Mỗi bên cho dây thần kinh chị phối ở cơ hoành, nếu cắt dây thần kinh bên nào thì cơ hoành bên đó bị liệt. Tủy sống còn có những ncuron vận động liên sườn và cơ bụng, phân bố từ đốt tuỷ lưng I đến XII cho sợi thần kinh chi phối các cơ trên. 1.3.Trung tàn ở hành, cầu não: Trung tám hô hấp ở cầu não có vai trò kiểm soát điều chỉnh trung tâm hô hấp ở hành não. Ở phía trên của cầu não là trung tâm Pneumotaxic trung tâm này có liên hệ với trung tâm thở ra ở hành não, có vai trò kiểm soát trung tâm hô hấp ở hành não để đảm bảo cho nhịp hô hấp phù hợp với hoạt động sống của cơ thể. Ở phần dưới cầu não là trung tâm Apneustic, liên hệ với trung tâm hít vào của hành não, có vai trò gây hít vào kéo dài, do nó kích thích trung tâm hít vào. Trung tâm hô hấp ở hành não: + Ở phía sau trên hành não là trung tâm hít vào, axon của những neuron hít vào liên hệ với trung tâm thần kinh hoành ở tuỷ sống. Do đó khi neuron hít vào hưng phấn cơ hoành co gây động tác hít vào, mặt khác nó còn ức chế neuron thở ra. + Ở phía dưới hành não là trung tâm thở ra, nó liên hệ với trung tâm thần kinh chi phối cơ thở ra ở tuỷ sống (khi thở ra chủ đích). +Nhận cảm hoá học nằm gần trung tâm hít vào nó bị hưng phấn bởi CO2 và ion H+(CO2 là tác dụng gián tiếp, ion H+ là trực tiếp). Ion H+ khó qua hàng rào máu não và hàng rào máudịch não tuỷ, n

Trang 1

ĐIỀU HOÀ HÔ HẤP

Hoạt động sống của con người luôn biến động sao cho phù hợp với điều kiện thay đổi của môi trường xung quanh (tự nhiên và xã hội) Khi hoạt động sống thay đổi, thì nhu cầu năng lượng cũng thay đổi, do đó nhu cầu cung cấp O2 và đào thải CO2, cũng phải thay đổi theo để duy trì tính hằng định nội môi Quá trình điều chỉnh đó gọi là điều hoà hô hấp

Bình thường hô hấp được duy trì bởi trung tâm tự động, có tính chu

kỳ, đều dặn Điều hoà hô hấp chính là làm biến đổi hoạt động chức năng của trung tâm này, do đó làm tăng hoặc giảm tần số và biên độ hô hấp

1 Trung tâm hô hấp

Những trung tâm thần kinh có liên quan đến hô hấp, phân bố tù tuỷ sống đến hành cầu não song trung tâm hô hấp ở hành não là quan trọng nhất, vì trung tâm này bị tổn thương thì con vật sẽ chết ngay do ngừng thở

1.1 Những thí nghiệm xác định vị trí của trung tâm hô hấp.

-Legallois thí nghiệm cắt ngang tuỷ sống của mỗi con vật từ thấp đến cao với từng nhát cắt khác nhau quan sát thấy:

+ Cắt ngang mức đốt tuỷ cổ VII: cơ liên sườn liệt, lồng ngực xẹp, nhưng cơ hoành vẫn co giãn bình thường, nhưng biên độ thở nông

+ Cắt ngang đốt tuỷ cổ III, IV cơ hoành ngừng co, con vật vẫn sống, cử động cánh mũi kiểu thở

+ Cắt tuỷ sống ở ngang lỗ xương chẩm - con vật chết ngay

- Flourens cũng bằng thí nghiệm cắt não nhưng cắt từ trên xuống (hình 1):

+ Nhát cắt giữa trung não và cầu não con vật vẫn hô hấp bình thường Nhát cắt ngang ở giữa cầu não, con vật vẫn còn thở, nhưng nhịp thừa ra (chậm)

+ Nhát cắt ngang giữa cầu não và hành não thấy nhịp thở chậm

Trang 2

+ Dùng dùi phá hành não: con vật chế ngay.

Từ kết quả của hai thí nghiệm trên cho thấy trung tâm hô hấp gồm có:

1.2 Trung tâm ở tuỷ sống.

Trung tâm thần kinh chi phối cơ hoành, nằm ở sừng bên chất xám tuỷ sống ở đốt tuỷ cổ II IV Mỗi bên cho dây thần kinh chị phối ở cơ hoành, nếu cắt dây thần kinh bên nào thì cơ hoành bên đó bị liệt

Tủy sống còn có những ncuron vận động liên sườn và cơ bụng, phân bố từ đốt tuỷ lưng I đến XII cho sợi thần kinh chi phối các cơ trên

1.3.Trung tàn ở hành, cầu não:

Trung tám hô hấp ở cầu não có vai trò kiểm soát điều chỉnh trung tâm hô hấp ở hành não

Ở phía trên của cầu não là trung tâm Pneumotaxic trung tâm này có liên hệ với trung tâm thở ra ở hành não, có vai trò kiểm soát trung tâm hô hấp ở hành não để đảm bảo cho nhịp hô hấp phù hợp với hoạt động sống của cơ thể

Ở phần dưới cầu não là trung tâm Apneustic, liên hệ với trung tâm hít vào của hành não, có vai trò gây hít vào kéo dài, do nó kích thích trung tâm hít vào

-Trung tâm hô hấp ở hành não:

+ Ở phía sau trên hành não là trung tâm hít vào, axon của những neuron hít vào liên hệ với trung tâm thần kinh hoành ở tuỷ sống Do đó khi neuron hít vào hưng phấn - cơ hoành co gây động tác hít vào, mặt khác nó còn ức chế neuron thở ra

+ Ở phía dưới hành não là trung tâm thở ra, nó liên hệ với trung tâm thần kinh chi phối cơ thở ra ở tuỷ sống (khi thở ra chủ đích)

+Nhận cảm hoá học nằm gần trung tâm hít vào nó bị hưng phấn bởi CO2 và ion H+(CO2 là tác dụng gián tiếp, ion H+ là trực tiếp)

Trang 3

Ion H+ khó qua hàng rào máu não và hàng rào máu-dịch não tuỷ, nên H+ tác dụng là thông qua CO2 (CO2 thấm qua hàng rào trên dễ dàng) tại mô não:

CO + H O ₂ ₂ ��� H CO �� � HCO + H

Chính ion H+ này đã hưng phấn mạnh trung tâm nhận cảm hoá học

và gây hưng phấn trung tâm hít vào

Cần lưu ý là CO2 tại mô não tác dụng kích thích hô hấp chậm vì mô não có nhiều chất đệm protein Còn CO2 ở dịch não tuỷ thì tác dụng kích thích hô hấp nhanh (sau vài giây), vì dịch não tuỷ ít chất đệm protein, nên CO2 chuyển nhanh thành ion H+

1.4 Giả thuyết về sự hoạt động nhịp nhàng của trung tân hô hấp (hay nhịp thở cơ bản).

Về cơ chế hoạt động nhịp nhàng của trung tâm hô hấp đến nay vẫn chưa rõ, xong có thể giải thích như sau (vẽ hình và mô tả):

Trung tâm hít vào hưng phấn (nhờ trung tâm nhận cảm hoá học), xung động truyền xuống trung tâm thần kinh hoành - cơ hoành co (hít vào) - lồng ngực nở ra - phổi cũng ra theo Sự căng dãn phổi làm kích thích các thụ cảm thể cơ học phổi Xung động hưng phấn từ đây theo sợi cảm giác trong giây thần kinh X truyền về trung tâm ở hành não: ức chế trung tâm hít vào và hưng phấn trung tâm thở ra

Mặt khác khi trung tâm vào hưng phấn nó còn gửi xung lên hưng phấn trung tâm điều chỉnh thở ở cầu não là Pneumotaxic Từ đây gửi xung động gây hưng phấn trung tâm thở ra và ức chế trung tâm hít vào qua trung tâm Apneustic

Như vậy, khi trung tâm hít vào hưng phấn đã gây ra hai nguồn hưng phấn đến hoạt hoá trung tâm thở ra để ức chế trung tâm hít vào

Khi trung tâm hít vào bị ức chế hoàn toàn thì động tác hít vào ngừng và bắt đầu thở ra Khi thở ra hết, phổi xẹp, trung tâm hít vào thoát

Trang 4

khỏi ức chế (từ dây X và từ Pneumotaxic) và hưng phấn trở lại (nhờ CO2 trong máu tăng)

Chu kỳ hô hấp cứ như vậy diễn ra một cách đều dặn suốt cả đời người

2 Sự điều hoà hô hấp.

Điều hoà hô hấp chính là điều hoà nhịp thở cơ bản (thay đổi về tần

số và biên độ thở) để duy trì phân áp O2 và CO2 trong máu ở mức hằng định (duy trì tính hằng định nội môi) có hai cơ chế: thần kinh thể dịch và thể dịch điều hoà hô hấp

2.1.Cơ chế thể dịch điều hoà hô hấp.

Vẽ hình và mô tả thí nghiệm của Frederic về “tuần hoàn bắt chéo”: Kẹp khí quản chó A, quan sát thấy chó B thở nhanh và sâu, quan sát thấy chó A thở chậm rồi ngừng thở Thí nghiệm này cho thấy sự biến đổi O2 và CO2 trong máu có tác dụng điều hô hấp

2.1.1.Vai trò của CO 2

Từ thí nghiệm trên, khi chó A bị ngạt, trong máu của nó chứa nhiều CO2, mẫu này lên đầu chó B, CO2 nhanh chóng thấm vào mô não dễ dàng rồi kết hợp với nước → tạo ra ion H+ → kích thích trung tâm nhận cảm hoá học ở hành não kích thích trung tâm hít vào gây tăng thở Khi chó B thở nhanh, CO2 trong máu của nó giảm Mẫu này lên đầu chó A (do nồng

độ CO2 thấp ) → ít tạo ion H+) trung lâm nhận cảm hoá học ít bị kích thích

→ trung tâm hít vào không bị kích thích gây ra ngừng thở

CO2 là tác nhân kích thích hô hấp quan trọng, nó gây tăng thở ( tăng thông khí) để tăng đào thải CO2 ra khỏi cơ thể nhằm duy trì tâm áp CO2 trong máu ở mức hằng định

Khi nồng độ CO2 trong khí thở vào cao hơn nồng độ CO2 trong máu thì dù có tăng thở cũng không thải được CO2 ra khỏi cơ thể, lúc này xuất

Trang 5

hiện những triệu chứng nhiễm độc CO2 như nhức đầu, nôn, nếu nặng thì

có rối loạn tuần hoàn, hôn mê

Với nồng độ CO2 bình thường trong cơ thể thì có tác dụng kích thích duy trì hồ hấp Nếu nồng độ CO2 trong máu thấp quá mức bình thường lại gây ra ngừng thở Vì vậy khi cấp cứu người bị ngất dùng hỗn hợp khí 95 % O2 và 5 % CO2 sẽ tốt hơn là dùng O2 nguyên chất

Giải thích “tiếng khóc chào đời” của trẻ mới đẻ

Trong cơ thể CO2 chủ yếu tác động vào trung tâm hô hấp (xem lại ở trên), đồng thời cũng tác động vào thụ cảm thể hoá học ở xoang động mạch cảnh và quai động mạch chủ: PaCO2 tăng sẽ kích thích các thụ cảm thể trên Xung động phát sinh từ đây truyền theo sợi cảm giác Cyon (từ quai động mạch chủ) và Hering (từ xoang động mạch cảnh) về trung tâm

hô hấp gây tăng thở, nhưng tác dụng này yếu hơn so với tác dụng vào trung tâm hô hấp

2.1.2 Vai trò của O 2

Khi phân áp O2 trong không khí hít vào giảm thì phân áp O2 trong phế nang cũng giảm theo Khi phân áp O2 trong không khí hít vào trên 100mmHg (bình thường là 159 mnHg) thì độ bão hoà HbO2 của máu chỉ giảm từ 95% xuống 90% Nếu phân áp O2 xuống thấp hơn nữa, thì cơ thể bắt đầu tăng hô hấp, mặc dù nồng độ CO2 trong máu vẫn bình thường

Cơ chế: Khi nồng độ O2 trong máu thấp thì các thụ cảm thể hoá học

ở xoang động mạch cảnh và quai ĐMC bị kích thích, luồng xung động từ đây truyền về là trung tâm hô hấp tăng tính mẫn cảm với CO2 và làm cho hoạt động hô hấp tăng lên

2.1.3 Vai trò của ion H +

Khi pH máu giảm (H+ tăng) thì tần số và biên độ hô hấp tăng Cơ chế tác dụng của ion H+ cũng giống như CO2 nhưng không mạnh bằng CO2

Trang 6

Khi pH máu 7,4 không ảnh hưởng lên hô hấp, khi pH 7,2- 7,0 thì lưu lượng hô hấp tăng rõ rệt

Tăng hô hấp khi pH giảm là để duy trì pH về mức hằng định, vì khi thở nhanh và sâu thì CO2 được thải ra nhiều hơn, nồng độ CO2 trong máu giảm xuống và H+ giảm trở lại bình thường:

Người ta nhận thấy rằng:

- Khi nồng độ CO2 tăng cao trong máu, làm tăng hô hấp 8 lần

- Khi nồng độ ion H+ trong máu tăng, làm tăng hô hấp 4 lần

- Khi nồng độ O2 giảm trong máu, làm tăng hô hấp tối đa 65%

2.2 Cơ chế thần kinh - thể dịch điều hoà hô hấp.

Trong điều hoà hô hấp các yếu tố thần kinh và thể dịch phối hợp chặt chẽ với nhau, nên gộp chúng lại là: yếu tố thần kinh - thể dịch

2.2.1 Vai trò của dây thần kinh X

Bằng thực nghiệm ghi điện thế hoạt động của dây X trên động vật cho thấy: Khi động vật hít vào thì tần số xung ở dây X tăng Người ta cho rằng khi hít vào phối căng giãn ra gây kích thích vào các thụ cảm thể của dây X phân bố tại phổi

luồng xung động theo dây X về ức chế trung tâm hít vào Hít vào càng sâu

sẽ dẫn đến ức chế trung tâm hít vào càng mạnh Khi trung tâm hít vào bị

ức chế hoàn toàn, cơ hít vào giãn ra, phổi xẹp Các thụ cảm thể của dây X không bị kích thích nữa, trung tâm hít vào được giải phóng khỏi ức chế nên hoạt động trở lại

Thực nghiệm cắt đứt hai dây X trên chó, quan sát thấy chó thở chậm, nông Sở đĩ như vậy vì vòng điều hoà nhịp thở ngoại vi không còn nữa, nhưng vẫn còn vòng điều hoà nhịp thở trung ương

Như vậy dây X đóng vai trò trung gian quan trọng trong cơ chế tự duy trì hoạt động nhịp nhàng của trung tâm hô hấp

Trang 7

2.2.2.Vai trò của dây thần kinh cảm giác nông

Dây thần kinh sọ não số V có liên quan nhiều đến hô hấp khi kích thích vào sợi cảm giác nông dây X sẽ gây ra thay đổi nhịp hô hấp: kích thích nhẹ làm cho con vật thở sâu; kích thích mạnh - lại gây ra ngừng thở

Do đặc điểm của dây X nêu trên, nên các bác sỹ gây mê hồi sức phải hết sức thận trọng khi gây mê bằng clorofoc (động tác mạnh mẽ có thể gây ra phản xạ ngừng thở ở bệnh nhân)

2.2.3.Vai trò của các thụ cảm thể hoá học trong điều hoà hộ hấp.

Có hai loại thụ cảm thể hoá học: trung ương và ngoại vi tham gia điều hoà hô hấp:

-Thụ cảm thể hoá học ngoại vi phân bố ở xoang động mạch cảnh và quai động mạch chủ Các thụ cảm thể này tiếp nhận sự biến đổi phân áp khí oxy và CO2 trong máu động mạch: thụ cảm thể bị hưng phấn khi phân

áp khí CO2 tăng và phân áp oxy giảm (xem lại phần trên) những thụ cảm thể hoá học này rất nhạy cảm với thành phần khí máu thay đổi dù ít

-Thụ cảm thể hoá học trung ương (xem lại phần trên) chính là vùng nhận cảm hoá học ở hành não

Thụ cảm thể hoá học trung ương tác dụng mạnh hơn nhiều thụ cảm thể hoá học ngoại vi Ví dụ làm giảm pH ở dịch não tuỷ xuống 0,01 thì thông khí phổi tăng lên 4 lít/phút

Thụ cảm thể hoá học trung ương tác dụng mạnh, nhưng thời gian để gây ra tác dụng lại chậm hơn (sau 20-30 giây) Khi có biến đổi PaCO2 Trong khi đó thụ cảm thể hoá học ngoại vi tác dụng nhanh hơn chỉ sau 3-5giây đã gây ra đáp ứng hô hấp sở dĩ như vậy vì CO2 từ máu vào mô não cần có thời gian

2.2.4.Vai trò thụ cảm thể cơ học phổi.

Thụ cản thể này phân bố ở lớp tế bào cơ trơn phế quản, chúng bị hưng phấn khi thể tích phổi quá tăng và gây ra phản xạ ngừng thở Đây là

Trang 8

phản xạ bảo vệ phổi, nhằm không cho không khí vào phổi tiếp gây vỡ phế nang

Ở phế nang và màng phổi không có thụ cảm thể này Sợi hướng tâm

từ thụ cảm thể thể tích này theo sợi hướng tâm của dây X về trung tâm hít vào

2.2.5.Thụ cảm thể cơ, hóa học.

Thụ cảm thể cơ hoá phân bố ở lớp tế bào biểu mô và lớp dưới biểu

mô ở tất cả đường thở Đặc biệt ở niêm mạc mũi, hầu, họng, nắp thanh quản và cuống phổi có nhiều thụ cảm thể này

Với thụ cảm thể cơ học nêu trên, chúng bị kích thích khi thể tích phổi tăng đội ngôi, đủ mạnh, (vì ngương hưng phấn của chúng cao)

Thụ cảm thể cơ hoá cũng bị kích thích bởi tác nhân như hạt bụi tích

tụ ở đường thở các chất khí dịch như NH3, SO2, H2S, ether, khói thuốc lá cũng như chất có hoạt tính sinh học cao được tạo ra ở đường thở như histamin cũng là tác nhân kích thích các thụ cảm thể này

Thụ cảm thể cơ hoá bị hưng phấn mạnh trong một số bệnh như hen phế quản, phù phổi, tràn khí màng phổi, ứ máu vòng tiểu tuần hoàn Thụ cảm thể cơ hoá khi bị kích thích, gây cảm giác ngứa, nóng rát

Thụ cản thể cơ hoá ở khí quản khi bị kích thích gây ra họ, nếu kích thích ở phế quản gây ra tăng thời gian thở vào và rút ngắn thời gian thở ra Nếu kích thích ở niềm mạc mũi gây ra hắt hơi Họ và hắt hơi có ý nghĩa sinh lý là không cho đị vật, hơi, khí độc lọt vào phế nang nên có tác dụng bảo vệ phổi

Thụ cảm thể cơ, hoá cũng tham gia vào phản xạ làm sạch phổi, co hẹp lòng phế quản Cơn hen cấp gây co thắt phế quản cũng có thể là do thụ cảm thể này bị hưng phấn quá mạnh

2.2.6 Thụ cảm thể màng phổi.

Trang 9

Ở mặt trong hai lá phế mạc có những thụ cảm thể cơ học Khi độ trơn nhắn của mặt trong của lá phế mạc không bình thường (ví dụ: viêm nhiễm), thì khi hô hấp gây cọ sát hai lá phế mạc, thụ cảm thể cơ học màng phổi bị kích thích, gây cảm giác đau do đó làm cho ta thở chậm, nông, thậm trí ngừng thở trong chốc lát

2.2.7 Ảnh hưởng của thụ cảm thể áp lực động mạch lên hô hấp.

Qua thí nghiệm cho thấy khi tăng, giảm áp lực động mạch gây ra biến đổi nhịp hô hấp: Khi huyết áp tăng thì hô hấp giảm, ngược lại khi huyết ấp giảm, hô hấp lại tăng

Cơ chế: tại xoang động mạch cảnh và quai động mạch chủ có thụ cảm thể nhận cảm về sự biến đổi áp lực máu Xung động từ thụ cảm thể này truyền về trung tâm hộ hấp qua dây thần kinh Cyon và Hering: khi huyết áp tăng, gây phản xạ ức chế trung khu tăng áp và ức chế trung tâm

hô hấp; ngược lại huyết áp giảm thì thụ cảm thể không bị kích thích, trung

hô hấp không bị ức chế → hô hấp lại tăng

2.2.8 Ảnh hưởng của một số cấu trúc thần kinh khác lên hô hấp

Hypothalamus có nhiều trung tâm điều hoà chức năng cơ thể, vùng

có liên quan tới hộ hấp gồm:

+ Trung tâm cảm xúc: khi người ta quá vui, quá buồn có thể gây

ngừng thở Một phản ứng tự vệ, một kích thích quá đau đều làm biến đổi nhịp hô hấp

+ Trung tâm điều nhiệt có tác dụng làm tăng giảm biên độ, tần số

thở: nhiệt độ cơ thể tăng thì neuron vùng dưới đồi kích thích trung tâm hít vào gây tăng thở để thải nhiệt

Trường hợp cơ thể bị lạnh thì vùng dưới đồi lại ức chế trung tâm hô hấp giảm thở dể giữ nhiệt cơ thể

+ Trung tâm thần kinh thực vật: khi trung khu giao cảm hưng phấn

→ giãn phế quản làm cho thở dễ dàng Trung khu phó giao cảm hưng

Trang 10

phấn lại gây co thắt phế quản… gây khó thở Trong lâm sàng dùng khí dung adrenalin để điều trị cơn hen phế quản cấp và test khí dung acetycholin 0,5% để phát hiện sớm cơn hen phế quản

+ Trung tâm nuốt: Trung tâm nuốt hưng phấn ức chế trung tâm hô

hấp, vì vậy khi nuốt thì ngừng thở Đây là phản xạ tự vệ không cho viên nuốt lọt vào khí quản, vào phổi

2.2.9 Ảnh hưởng của vỏ não lên hô hấp

Vỏ não không có trung tâm hô hấp, nhưng ảnh hưởng rất lớn đến hô hấp Ta có thể thở nhanh, chậm, hoặc ngừng thở chốc lát theo ý muốn

Nói, hát, thổi kèn, sáo cũng do ta tự ý điều chỉnh dòng thở cho phù hợp - do vỏ não Trong các liệu pháp luyện thở “khí công dưỡng sinh” không những có tác dụng trị bệnh, nâng cao sức khoẻ mà còn cải thiện về mặt tinh thần → hoàn toàn do vò não

-Tài liệu tham khảo:

1 Bộ môn Sinh lý học- HVQY: Bài giảng Sinh lý học – sau đại học, tập 1 Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1999

2 Bộ môn Sinh lý học – Học viện Quân y: Sinh lý học, tập 1 Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2007

3 Guyton A.C và Hall J.E: Sách giáo khoa Sinh lý Y khoa, xuất bản lần thứ 11, Philadenphia, 2006

Ngày đăng: 13/03/2022, 08:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w