Tại mỗi khoanh, các neuron cảm giác đi vào tủy sống qua rễ sau.. Các sợi cảm giác lớn từ thoi cơ đi vào tại mỗi khoanh tủy và tiếp hợp với các neuron vận động, từ đó đến các cơ tương...
Trang 1TỦY SỐNG ( Spinal Cord )
Tủy sống là phần đơn giản nhất của hệ thần
kinh trung ương, với các cấu trúc chung tương
tự nhau ở các khoanh
Giải phẩu:
Cần phải hiểu sự khác nhau giữa khoanh và bó dẫn truyền dài (long tracts)
1 Mức khoanh tủy: (segmental level)
a Tại mỗi khoanh, các neuron cảm giác
đi vào tủy sống qua rễ sau
b Thân tế bào neuron vận động nằm ở sừng trước, tại mỗi khoanh, sợi trục của chúng tạo thành rễ gai trước, và thông qua đám rối và dây thần kinh ngoại biên để đến
cơ
c Các sợi cảm giác lớn từ thoi cơ đi vào tại mỗi khoanh tủy và tiếp hợp với các
neuron vận động, từ đó đến các cơ tương
Trang 2ứng Cung phản xạ căng cơ một sinap là
một mặt quan trọng của sự tổ chức khoanh
2 Các bó dài: có 10 hoặc hơn 10 bó dẫn
truyền dọc theo chiều dài tủy sống, nhưng chỉ
3 bó quan trọng trong thực hành lâm sàng
(Hình 1)
Hình 1: Các bó dẫn truyền trong tuỷ sống
a Bó vỏ gai bên chứa các sợi trục từ các
neuron ở vỏ não vận động đi xuống trực
tiếp hoặc thông qua các neuron trung gian
Trang 3để đi đến của neuron vận động tại khoanh tủy
b Bó dẫn truyền cảm giác đau, nhiệt và
sờ (thô) đi vào mỗi khoanh tủy theo rễ sau,
tiếp hợp với neuron thứ hai, bắt chéo sang
để tạo thành bó gai đồi thị
c Bó dẫn truyền cảm giác sâu (vị thế,
rung âm thoa và sờ tinh vi) đi qua rễ sau và
trực tiếp (không tiếp hợp và không bắt
chéo) đi lên theo cột sau
d Chức năng thần kinh thực vật
(Autonomic function)
Các sợi thần kinh thực vật (antonomic) đi xuống và tiếp hợp với các thân tế bào trong các cột trung gian giữa bên
(intermediolateral columbs) Các sợi giao cảm thoát ra tủy sống giữa T1 và L2, các sợi phó giao cảm giữa S2 và S4
Sự định khu:
Trang 4Các sang thương bị nghi ngờ nằm ở tủy sống khi có dấu hiệu chứng tỏ tổn thương các bó dài,
có thể kèm theo hoặc không kèm theo dấu hiệu tổn thương tại khoanh tủy sống
1 - Dấu hiệu tổn thương các bó dài:
a Vận động: rối loạn chức năng
neuron vận động trên được đặc trưng bởi yếu cơ, cứng cơ kiểu tháp, tăng phản
xạ gân cơ, và có đáp ứng Babinski Yếu cơ
2 chân (paraparesis) là biểu hiện phổ biến nhất của rối loạn chức năng tủy sống,
nhưng yếu tứ chi, yếu 1 chi hoặc yếu chi kết hợp khác cũng có thể gặp
Cắt ngang tủy (hoặc các sang thương nặng tương tự) có thể gây ra sốc tủy với liệt mềm
và phản xạ gân cơ mất Điều này chỉ tạm thời, sau đó sẽ chuyển sang liệt cứng
b Cảm giác: Dấu hiệu đặc trưng là
mất cảm giác 2 bên dưới mức tổn
thương Khi nghi ngờ bệnh lý tủy sống,
thầy thuốc phải chú ý khám để xác định
Trang 5khoanh cảm giác ở thân và chi Loại cảm giác bị mất tùy thuộc vào bó dài bị ảnh
hưởng
c Dấu hiệu thần kinh thực vật: Nhiều chức năng có thể bị ảnh hưởng, nhưng về
mặt lâm sàng, các triệu chứng hữu ích nhất liên quan đến sự kiểm soát hoạt động bàng quang Mất sự ức chế đi xuống để kiểm
soát phản xạ khoanh dẫn đến tiểu láu và
tiểu không kiểm soát Tuy nhiên, các sang thương cấp tính có thể đi kèm liệt bàng
quang và bí tiểu trước khi cung phản xạ
khoanh tăng hoạt động
2 Dấu hiệu tổn thương tại khoanh:
Vận động : yếu cơ và teo cơ ở vùng dây thần kinh chi phối
Các hội chứng kinh điển:
Hội chứng Brown - Sequard của cắt ngang
nữa tủy sống (xem hình 2)
Trang 6Các dấu hiệu tại khoanh sẽ phụ thuộc vào
tầng của sang thương và sự lan rộng trước - sau của nó Nó có thể không hoàn toàn nữa tủy, ví dụ một sang thương nhỏ ở tủy ngực Tuy nhiên, các dấu hiệu tổn thương bó dài thì nổi bật dưới nơi tổn thương Mất cảm giác sâu (cột sau) và dấu hiệu vận động kiểu trung
ương (bó vỏ gai) xảy ra ở cùng bên sang
thương, trong khi cảm giác đau và nhiệt bị
mất ở đối bên Chức năng bàng quang có thể vẫn còn vì sang thương 2 bên mới can thiệp vào chức năng
Trang 7này
Chèn ép ngoài tủy:
Chèn ép ngoài tủy do u hoặc các khối khác ảnh hưởng đến tủy sống bằng cách chèn ép trực tiếp hoặc thông qua chèn ép mạch máu nuôi Dấu hiệu tại khoanh rất thay đổi và một lần nữa nó tùy thuộc vào tầng và độ lan rộng của sang thương Nếu rễ thần kinh bị ảnh
hưởng, các thay đổi vận động, cảm giác hoặc
Trang 8phản xạ có thể rõ ràng ở tại mức khoang tủy tổn thương Đôi khi các thay đổi này rất ít Các dấu hiệu tổn thương bó dài quan trọng hơn về mặt lâm sàng vì nó chỉ ra có sang
thương ảnh hưởng tủy sống, chứ không chỉ ảnh hưởng đến rễ Cột bên và cột trung gian giữa bên đặc biệt thường bị tổn thương, do đó tiểu láu và dấu hiệu tháp các chi bên dưới
thường là biểu hiện sớm nhất của chèn ép
ngoài tủy Mất cảm giác đau nhiệt thường bắt đầu ở xương cùng cụt, và từ từ lan ra khi sự chèn ép trở nên nặng hơn vì bó gai đồi thị
phân bố các sợi dẫn truyền cảm giác vùng
cùng cụt nằm ngoài nhất nên nó dễ bị tổn
thương nhất khi có sự chèn ép
Hội chứng trung tâm tủy (hình 3)
Nếu một sang thương ở trung tâm của tủy
sống lan qua nhiều khoanh tủy thì dấu hiệu khoanh sẽ nổi bật Các u nội tủy hoặc nang (rỗng ống tủy) có thể biểu hiện với mất cảm giác đau nhiệt kiểu treo theo khoanh tủy, mất phản xạ gân cơ theo khoanh, yếu và teo cơ teo
Trang 9khoanh, và các dấu hiệu tổn thương bó dài
bên dưới mức sang thương (cứng cơ kiểu
tháp, phản xạ gân cơ tăng, có đáp ứng
Babinski, yếu cơ, tiểu láu, và bất thường các loại cảm giác tùy thuộc bó cảm giác nào bị
tổn thương) Nếu sang thương bắt đầu ở giữa tủy, biểu hiện đầu tiên sẽ là mất cảm giác
phân ly (mất cảm giác đau nhiệt, còn cảm giác sâu) do gián đoạn các neuron cảm giác số 2 của bó gai đồi thị bên
Hình 3:
Trang 10Bệnh lý tủy do thoái hóa cột sống cổ:
Các thay đổi do thoái hóa ở tủy cổ (thoái hóa đĩa đệm, tạo gai xương) có thể đâm vào rễ gai
và cũng có thể chèn ép tủy sống Thường gặp tại đốt sống cổ C6 với các dấu hiệu tại khoang (đặc biệt là giảm phản xạ gân cơ nhị đầu và cánh tay quay) và dấu hiệu tổn thương bó dài
Trang 11bên dưới mức sang thương (với phản xạ gân
cơ tam đầu và chi dưới tăng, cứng cơ 2 chân kiểu tháp, đáp ứng Babinski, và tiểu láu) Các dấu hiệu cảm giác, cả tại khoanh và bó dài, có thể xuất hiện, nhưng thường là biến chứng trễ