Đề tài " Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp" sẽ góp phần làm rõ thực trạng giải quyết tranh chấp kinh tế của Toà án kinh tế và các Trung tâm trọng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài: GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP Ở NƯỚC TA
HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Giáo viên hướng dẫn: Tiến sỹ Bùi Ngọc Sơn Sinh viên thực hiện: Bùi Trọng Tuấn Lớp: A2
Khoá: CN9
Hà nội, tháng 5/2003
Trang 2M ỤC LỤC C L ỤC LỤC C
Trang Chương I: Tổng quan về pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta
hiện nay
I Khái niệm về tranh chấp kinh tế và tố tụng kinh tế
II Sự cần thiết khách quan của việc ban hành Pháp luật về giải quyết tranh kinh
tế
III Các phương pháp giải quyết tranh chấp kinh tế
1 Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng:
+ Khái niệm và đặc điểm
+ Cách thức thương lượng
+ Một số bước thương lượng, đàm phán để gỡ rối khi các bên tranh chấp đều
bế tắc
2 Giải quyết tranh chấp bằng hoà giải:
3 Giải quyết tranh chấp bằng toà án:
+ Cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ quyền hạn của toà án kinh tế
+ Nguyên tắc tố tụng vụ án kinh tế và các nguyên tắc xét xử tranh chấp kinh
tế của toà án kinh tế;
+ Thẩm quyền của toà án các cấp;
4 Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài kinh tế:
- Khái niệm và những ưu thế cơ bản của trọng tài kinh tế
- Trung tâm trọng tài (Pháp lệnh số 08/ UBTVQH 11)
+ Khái niệm, đặc điểm, thẩm quyền của Trung tâm trọng tài
+ Thành lập chấm dứt hoạt động của Trung tâm trọng tài
- Giải quyết tranh chấp kinh tế của Trung tâm trọng tài kinh tế
Trang 3Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam
Chương II: Thực trạng giải quyết tranh chấp kinh tế ở Việt nam hiện nay
I Các loại tranh chấp kinh tế phổ biến ở nước ta hiện nay:
1 Tranh chấp phát sinh do một bên vi phạm nghĩa vụ giao hàng hoặc thực hiệnlao vụ
2 Tranh chấp phát sinh do một bên vi phạm nghĩa vụ thanh toán và tiếp nhậnhàng hoá công việc
3 Tranh chấp liên quan đến hợp đồng kinh tế vô hiệu
II Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng phương pháp tiền khởi kiện
III Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng toà án
IV Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng trọng tài
Chương III: Những giải pháp hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta
I Lựa chọn phương pháp giải quyết tranh chấp kinh tế:
1 Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp giải quyết tranh chấp trước khi đikiện
2 Nhược điểm của đi kiện ở toà án so với đi kiện tại trung tâm trọng tài
II Các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh tế
1 Biện pháp phòng ngừa tranh chấp
2 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp
III Kết luận
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo - Tiến sỹ Bùi Ngọc Sơn – người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ em – cùng các thầy cô giáo trường Đại học ngoại thương, các cán bộ Toà án nhân dân tối cao, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp – những người đã tạo điều kiện cho em hoàn thành bản khoá luận này.
Sinh viên Bùi Trọng Tuấn
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Các hoạt động kinh tế luôn có vị trí vai trò đặc biệt quan trọng, nó quyết định
sự tồn tại cũng như phát triển của xã hội Để thực hiện chức năng kinh tế, ngày nay Nhà nước nào cũng ban hành Hệ thống các qui phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ kinh tế.
Trong hoạt động kinh doanh thường khó tránh khỏi các tranh chấp do nhiều nguyên nhân khác nhau, do vậy, giải quyết các tranh chấp kinh tế cũng là yêu cầu tất yếu Để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, đảm bảo các quan hệ kinh doanh được ổn định, lành mạnh và phát triển, Nhà nước thông qua các cơ quan chức năng hoặc các tổ chức được pháp luật thừa nhận để giải quyết tranh chấp.
Giải quyết tranh chấp kinh tế không phải là vấn đề mới mẻ đối với khoa học pháp lý Bởi vì, ngày nay các quan hệ kinh tế càng trở nên phong phú và đa dạng thì pháp luật về giải quyết tranh chấp cũng phải từng bước đổi mới về pháp luật nội dung cũng như pháp luật tố tụng để phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội.
Ở Việt Nam, thực tiễn cho thấy các văn bản pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế ngày càng bộc lộ những hạn chế Hệ thống văn bản hướng dẫn còn thiếu đồng bộ và chậm được ban hành, chưa phù hợp, chưa thống nhất dẫn đến cách hiểu
và vận dụng sai Đây là vấn đề nổi cộm trong thực tiễn áp dụng pháp luật.
Tuy nhiên, việc tìm hiểu nghiên cứu về giải quyết tranh chấp kinh tế trong điều kiện hiện nay vẫn còn mang tính chất thời sự có ý nghĩa về lý luận cũng như thực tiễn.
Đề tài " Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và
giải pháp" sẽ góp phần làm rõ thực trạng giải quyết tranh chấp kinh tế của Toà án
kinh tế và các Trung tâm trọng tài phi Chính phủ, phân tích rõ những khó khăn, thuận lợi hiện nay của các cơ quan tài phán cũng như những hạn chế của các văn bản pháp luật kinh tế hiện hành, trên cơ sở đố kiến nghị một số vấn đề cần sửa đổi bổ sung trong hệ thống pháp luật kinh tế cho phù hợp với thực tiễn hoạt động của nền kinh tế thị trường.
Trang 6Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin
về kinh tế xã hội và tư duy Ngoài ra đề tài cũng vận dụng phương pháp phân tích tổng hợp để làm rõ những vấn đề cần nghiên cứu
Kết cấu của khoá luận gồm 3 Chương
- Chương 1: Tổng quan về pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay
- Chương 2: Thực trạng giải quyết tranh chấp kinh tế ở Việt Nam hiện nay
- Chương 3: Những giải pháp hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp ở nước ta
Trang 7Ù1 Ẳ0 ầ^hbrdr|rcf1 CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP KINH TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
I KHÁI NIỆM TRANH CHẤP KINH TẾ VÀ TỐ TỤNG KINH TẾ
1 Khái niệm tranh chấp kinh tế:
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường với sự thamgia của nhiều thành phần kinh tế có chế độ sở hữu khác nhau, các quan hệ kinh tế ngàycàng trở nên đa dạng và phức tạp Mục đích tìm kiếm lợi nhuận chẳng những là động lựctrực tiếp thúc đẩy quá trình mở rộng các giao lưu kinh tế, mà còn là lý do tồn tại của cácchủ thể kinh tế
Cùng với sự phát triển của các quan hệ kinh tế và dưới sự tác động trực tiếp củaquy luật cạnh tranh, tranh chấp kinh tế cũng trở nên phong phú hơn về chủng loại, gaygắt, phức tạp hơn về tính chất và quy mô Chính vì vậy, việc áp dụng hình thức vàphương thức giải quyết tranh chấp sao cho phù hợp, có hiệu quả là một đòi hỏi kháchquan để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, bảo đảm nguyêntắc pháp chế Xã hội Chủ nghĩa, thông qua đó góp phần tạo môi trường pháp lý lành mạnh
để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế
Tranh chấp kinh tế là tranh chấp biểu hiện những mâu thuẫn hay xung đột vềquyền, nghĩa vụ giữa các nhà đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch
vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời Như vậy tranh chấp kinh tế có thể phát sinhtrong cả quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội Tuy nhiên, dù tồn tại dưới hình thứcnào và có thể bắt nguồn từ nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, nhưng đặctrưng chung của tranh chấp kinh tế là luôn gắn liền với hoạt động kinh tế và chủ thể thamgia chủ yếu là các nhà doanh nghiệp Về bản chất, mỗi tranh chấp xét cho cùng đều phảnánh những xung đột về lợi ích kinh tế giữa các bên
Tranh chấp kinh tế khác với tranh chấp dân sự ở một số điểm sau:
Tranh chấp kinh tế thường chỉ gắn liền với những yếu tố tài sản, những lợi íchcủa các bên có tranh chấp và chỉ phát sinh từ các quan hệ vì mục đích kinh doanh, cáctranh chấp dân sự vừa mang tính chất tài sản, tính chất nhân thân phi tài sản
Trang 8 Giá trị tranh chấp kinh tế thường rất lớn, các tranh chấp kinh tế thường làm ảnh hưởngkinh tế không những cho bên cùng tranh chấp mà còn làm ảnh hưởng đến sản xuất kinhdoanh của cả cộng đồng kinh doanh nữa Do đó, tranh chấp kinh tế thường có tính nguyhiểm hơn tranh chấp dân sự.
Bên bị vi phạm trong quan hệ kinh tế không những được bồi thường thiệt hại (nếu có thiệt hại xảy ra) giống như bên bị vi phạm trong quan
hệ luật dân sự mà có quyền đòi hỏi phạt vi phạm hợp đồng kinh tế.
Chủ thể trong quan hệ có tranh chấp kinh tế chủ yếu là chủ thể kinh doanh khi tham giaquan hệ kinh doanh hoặc nếu không trực tiếp kinh doanh thì ít nhất họ là những ngườitiến hành hành vi đầu tư vốn nhằm mục đích kinh doanh sinh lời Trong khi đó tranh chấpdân sự chủ yếu phát sinh từ các chủ thể không tham gia kinh doanh
Tranh chấp kinh tế gồm các loại sau:
Tranh chấp Hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh
Tranh chấp giữa Công ty với thành viên Công ty hoặc giữa thành viên Công ty với nhauliên quan đến việc thiết lập hoạt động hoặc giải thể công ty
Tranh chấp đến việc mua bán chứng khoán (Cổ phiếu, Trái phiếu);
Và các tranh chấp kinh tế khác theo qui định của pháp luật;
Trong điều kiện kinh tế thị trường sự đa dạng về đối tượng cũng như sự xuất hiện của các thị trường yếu tố phi truyền thống đã làm phát sinh nhiều tranh chấp mới như tranh chấp về thương hiệu, Ly- xăng, tranh chấp về quảng cáo
Những tranh chấp kinh tế xảy ra mà được cơ quan toà án có thẩm quyền giải quyết theo
một trình tự thủ tục nguyên tắc nhất định thì được gọi là "Vụ án kinh tế".
2 Khái niệm tố tụng kinh tế:
Tố tụng kinh tế là một chế định pháp luật quan trọng của pháp luật kinh tế, là tổnghợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ tố tụng giữa cơ quan toà án vàngười tham gia tố tụng, trong quá trình toà án giải quyết các vụ án kinh tế để đảm bảoquyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tố tụng Cũng có thể hiểu tố tụng kinh tế
là quá trình cơ quan toà án có thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh tế theo một trình tựnhất định
Với nội dung khái niệm tranh chấp kinh tế như trên có thể thấy các tranh chấpkinh tế hiện nay là rất đa dạng và phức tạp, các chủ thể của nền kinh tế được mở rộng hơn
Trang 9trước và phạm vi hoạt động cũng đa dạng hơn trước Vì vậy, pháp luật áp dụng cho việcgiải quyết các tranh chấp kinh tế phải linh hoạt và mềm dẻo hơn, các cơ quan tài phánvừa phải nâng cao trình độ nghiệp vụ của mình, vừa phải thay đổi phương pháp giảiquyết tranh chấp kinh tế cho phù hợp với nền kinh tế mở như hiện nay của nước ta.
II SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA VIỆC BAN HÀNH PHÁP LUẬT
VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ
1 Sau chiến thắng mùa xuân 1975, cả nước ta bước vào
giai đoạn lịch sử mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Cơ chế
quản lý cũ tập trung, quan liêu bao cấp trong thời kỳ chiến
tranh đã không phát huy tác dụng tích cực mà còn làm trì
trệ sự phát triển kinh tế, gây nhiều hiện tượng tiêu cực
trong xã hội, trước tình hình trên Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VI (1986) đã kịp thời chỉ ra mặt yếu kém, sai lầm
chủ quan duy ý chí trong cơ chế quản lý tập trung bao cấp,
đề ra đường lối đổi mới toàn diện đặc biệt đường lối phát
triển kinh tế Đường lối đổi mới đó được hoàn thiện và
chính thức đưa vào đời sống xã hội bằng pháp luật đó là
Hiến pháp 1992, đã thừa nhận nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần theo cơ chế thị trường ở nước ta.
Việc đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống Tư pháp và các
Cơ quan tài phán nói chung và các cơ quan tài phán kinh tế nói riêng cũng nằm trong khuôn khổ của công cuộc đổi mới này Đáp ứng các đòi hỏi tất yếu khách quan đó Quốc hội nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt nam khoá IX kỳ họp thứ 4 đã thông qua luật sửa đổi bổ xung Luật
tổ chức Toà án nhân dân với những qui định và chức năng mới của toà
án là giải quyết các tranh chấp kinh tế và giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, Luật phá sản doanh nghiệp và pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế cũng được ban hành với tư cách là luật nội dung để giải quyết các tranh chấp kinh tế trong cơ chế mới.
Trang 10Pháp lệnh Hội đồng trọng tài kinh tế ban hành ngày 12/1/1990
cũng không còn phù hợp với nền kinh tế nhiều thành phần nữa Bởi
trọng tài kinh tế nhà nước là cơ quan thuộc hệ thống các cơ quan quản
lý Nhà nước nhưng lại có thẩm quyền xét xử Đây là một cơ quan vừa có chức năng quản lý lại vừa có chức năng của cơ quan tư pháp, kèm theo
đó thực lực của đội ngũ trọng tài viên còn hạn chế Các quyết định của trọng tài kinh tế không có một cơ chế thi hành hiệu quả, chủ yếu chỉ
mong vào sự tự nguyện của bên phải thi hành.
2 Nhằm hoà nhập vào nền kinh tế khu vực và quốc tế, nhà nước ta thực hiện một chính
sách kinh tế mở Mở rộng các quan hệ kinh tế quốc tế chúng ta vừa thu hút được đầu tưnước ngoài vào Việt Nam, vừa nắm bắt được những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến
và kinh nghiệm kinh doanh của các quốc gia có nền kinh tế phát triển Vấn đề đặt ra làkhi mở rộng các quan hệ kinh tế chúng ta buộc phải xem xét, chấp nhận những tập quánthương mại quốc tế và các nguyên tắc của luật pháp quốc tế về các lĩnh vực thương mạikinh doanh quốc tế
Mở rộng các mối quan hệ kinh tế quốc tế đã tác động tích cực vào nền kinh tế củachúng ta làm các hoạt động kinh doanh trở nên đa dạng, sôi động và đương nhiên dẫn đến
sẽ có phát sinh các tranh chấp trong hoạt động kinh tế ngày càng nhiều và gay gắt Cácchủ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam họ đều quan tâm đến sự bảo đảm về mặt pháp lý chohoạt động kinh doanh của mình và pháp luật phải bảo đảm đầy đủ các quyền và lợi íchchính đáng của họ khi nảy sinh các tranh chấp
Chính vì vậy khi tiến hành đầu tư vào Việt Nam ngoài các yếu tố đảm bảo về mặtpháp lý cho hoạt động kinh doanh, hiệu quả kinh doanh thì các chủ đầu tư cũng đặc biệtquan tâm đến việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, giảiquyết các tranh chấp phải nhanh chóng, có hiệu lực mới bảo đảm quyền lợi chính đángcủa họ
III CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ TẠI VIỆT NAM
Việc chuyển đổi nền kinh tế ở nước ta từ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp sang
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã làm thay đổi quan niệm về một loạt vấn
đề xung quanh các chế định hợp đồng kinh tế (HĐKT), tranh chấp kinh tế, tài phán kinh
tế, quyền tự do của các bên tranh chấp trong việc lựa chọn cơ quan, tổ chức giải quyếttranh chấp kinh tế, vị trí của cơ quan tài phán kinh tế trong bộ máy Nhà nước v.v
Trang 11Từ năm 1987 - 1990, nước ta đã có nhiều cố gắng để tiếp tục phát huy vai trò củatrọng tài kinh tế Do đó năm 1989 Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế vànăm 1990 ban hành Pháp lệnh Trọng tài kinh tế với mục đích làm cho hai chế định nàythích nghi với cơ chế quản lý kinh tế mới và mới đây Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã banhành Pháp lệnh trọng tài thương mại số 08/PL UBTVQH 11 ban hành ngày 25/2/2003nhằm từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo tính tương thích với các quy định củaluật pháp quốc tế.
Hiến pháp năm 1992 ra đời đã đánh dấu những thay đổi quan trọng trong chế độkinh tế của Nhà nước CHXHCN Việt nam và phần nào đã làm cho sự tồn tại của hệthống trọng tài kinh tế trở nên không còn phù hợp Đó là những nguyên tắc như đa dạnghóa các thành phần kinh tế, các hình thức sở hữu, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phầnkinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, cá nhân được tự do kinh doanh, tự do thành lậpdoanh nghiệp, Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanhđúng pháp luật của các doanh nghiệp
Tranh chấp kinh tế tất yếu xảy ra trong hoạt động kinh doanh vì vậy, giải quyếttranh chấp phát sinh được coi như là đòi hỏi tự thân của quá trình kinh tế Theo cách hiểuthông thường giải quyết tranh chấp kinh tế là cách thức, phương pháp cũng như các hoạtđộng để khắc phục và loại trừ các tranh chấp đã phát sinh nhằm bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của các chủ thể kinh doanh, bảo vệ trật tự, kỷ cương xã hội
Khi xảy ra tranh chấp các chủ thể kinh doanh đều muốn giải quyết tranh chấp kinh
tế được nhanh chóng và thuận lợi, từ đó các chủ thể kinh doanh có nhu cầu lựa chọn mộthình thức giải quyết các tranh chấp kinh tế phù hợp với mình
1.Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng:
1.1 Khái niệm, đặc điểm:
a Khái niệm: Thương lượng là một phương thức giải quyết tranh chấp mà theo đó các
bên cùng nhau bàn bạc, thoả thuận để tự giải quyết tranh chấp phát sinh trong quan hệhợp đồng của mình mà không có sự tham gia của bên thứ ba
b Đặc điểm:
- Thương lượng là một phương pháp tự giải quyết tranh chấp của các bên
- Thương lượng không mang tính chất bắt buộc trừ khi hợp đồng có quy định và khôngđòi hỏi sự can thiệp hành chính của bất cứ một thiết chế nào Thương lượng được ápdụng tương đối phổ biến để giải quyết tranh chấp kinh tế thời gian và chi phí giành chocuộc thương lượng thông thường phụ thuộc vào tính chất và trị giá tranh chấp Tuy nhiên,
Trang 12trong thực tế thương lượng lại phụ thuộc vào thiện trí của các bên và cách thức thươnglượng là thương lượng trực tiếp hay thông qua thư tín, telex, fax
Việc giải quyết tranh chấp bằng thương lượng nhằm gạt bỏ các ý kiến bất đồng đểđạt tới sự thống nhất, thiện trí là một phương pháp giải quyết tranh chấp rất phổ biến ởnhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia Á Đông
Theo Điều 7 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế: “ Các tranh chấp phát sinh khi thực
hiện hợp đồng kinh tế được giải quyết bằng cách tự thương lượng giữa các bên với nhau hoặc đưa ra trọng tài kinh tế” Phương thức thương lượng này đẩy nhanh tốc độ giải
quyết tranh chấp giữa hai bên bày tỏ thái độ tôn trọng bên vi phạm hợp đồng cũng như đểhai bên hiểu rõ nội dung sự việc, nội dung tranh chấp dẫn đến sự thiện trí của cả hai bên
- Trong các hợp đồng kinh tế, tại điều khoản về xử lý tranh chấp thường được ghi: “ Các
tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng trước hết được giải quyết thông qua đàm phán, thương lượng giữa các bên Nếu tranh chấp không giải quyết được bằng thương lượng sẽ được đem ra xét xử tại (toà án hoặc trọng tài) theo quy tắc của (toà án, trọng tài) phí xét xử sẽ do bên thua kiện chịu” điều này càng chức tỏ một trong những
đặc điểm nổi bật của thương lượng là " hình thức tự giải quyết tranh chấp" được áp dụng
phổ biến nhất
1.2 Cách thức thương lượng:
a Thương lượng bằng cách gặp gỡ trực tiếp: Thương lượng bằng cách gặp nhau trực
tiếp là việc các bên cử đại diện của mình gặp mặt nhau tại một địa điểm nhất định trongmột thời gian xác định để bàn bạc vấn đề tranh chấp nhằm đưa ra các giải pháp giải quyếttranh chấp
b Thương lượng thông qua thư từ, điện tín, telex
Với sự phát triển vượt bậc của công nghệ điện tử Internet, email thì việc thương lượnggiữa các bên đương sự được thực hiện hết sức thuận lợi Tuy vậy tất cả các thư từ điện tínemail đều phải được trả lời một cách nhanh chóng cho dù nguyên nhân tranh chấp là dophía mình gây ra cũng cần phải được trả lời sớm, để giải quyết thoả đáng nếu trì hoãnhoặc cố tình quên không trả lời sẽ gây ấn tượng xấu
Khi xem xét những điểm cơ bản về phương pháp giải quyết tranh chấp kinh tếthông qua thương lượng cho thấy rằng phương pháp này cũng có một số điểm hạn chếnhất định, cụ thể do sự thành công hay thất bại của việc thương lượng chủ yếu phụ thuộcvào thái độ thiện chí của các bên tranh chấp nên chỉ cần một trong các bên đương sựthiếu thiện chí thì quá trình thương lượng có thể đi đến chỗ bế tắc buộc các bên phải tìmkiếm hình thức giải quyết tranh chấp khác
Trang 13Một số bước thương lượng, đàm phán lại để gỡ rối khi các bên
tranh chấp bế tắc:
Bước 1: Trong một số trường hợp, cuộc thương lượng giải quyết tranh chấp gặp bế tắc,
điều quan trọng nhất là các bên tìm được giải pháp thích hợp, vấn đề sẽ đơn giản hơnnhiều nếu hai bên có thiện chí và tìm cách xử lý hợp lý
Khi đối mặt với những tình huống gay cấn, trước hết các bên phải thật bình tĩnh,tập trung tìm các phương pháp khắc phục những vướng mắc để đi tới thống nhất, sự bìnhtĩnh sẽ mang lại cho cả hai bên một thái độ tích cực làm cho việc giải quyết tranh chấp đitheo hướng thuận lợi
Hai bên lần lượt đưa ra các giải pháp của mình, tránh tranh luận cái nào tốt và hợp
lý hơn cái nào Sau đó, tất cả các giải pháp được gộp thành một bản danh sách lần lượtsắp xếp chúng theo thứ tự cho là thích hợp nhất Sau khi phân loại các phương án đã hoànthành, đôi bên mới bắt đầu trình bày lý do việc lựa chọn của mình, bằng cách trên mới
vượt qua được một số “điểm chết” trong quá trình thảo luận, đây là tiền đề để cho việc
tìm kiếm một phương án khả thi nhất Cuộc thảo luận nhờ đó chuyển hướng từ chỗ bế tắcsang chọn lựa một giải pháp tối ưu nhất
Bước 2: Xem xét nội dung chính của vấn đề:
Trong trường hợp này cần thiết phải tập trung vào vấn đề chính của cuộc thảoluận thay vì cân đong đo đếm xem phương án nào nặng nhẹ hơn, xem xét lại vấn đề từđầu từ chỗ khúc mắc mà hai bên chưa có cách giải quyết, tránh sa đà vào các cuộc tranhluận ngoài lề nếu cảm thấy phương án đưa ra không được phía bên kia chấp nhận, tiếp tụcđặt lại vấn đề chính yếu nhất mà cả hai bên đều có ý định đạt được trong buổi gặp gỡ
Chọn một phương án nào đó tối ưu nhất cho cả hai bên, đề nghị bên kia cũngnghiên cứu trên tinh thần xây dựng và với yêu cầu phải bám sát mục tiêu chính của cuộcthương lượng chỉ có như vậy mới không rơi vào bế tắc một lần nữa
Khi có quá nhiều vấn đề được nêu ra nhưng rút cục hai bên đều không đạt được
sự thống nhất cần thiết, các bên đương sự cần phải biết cách chẻ nhỏ vấn đề đặt riêngtừng cái một để dễ dàng nhất trí được với nhau về cách giải quyết Nếu thấy cần thiết đạidiện của các bên chủ động rút lại các vấn đề của mình, lần lượt cùng nhau xem xét và giảiquyết từng vấn đề theo thứ tự, không nên vội vàng vì nông nóng dễ làm hỏng việc
2 Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng hoà giải:
2.1 Định nghĩa và đặc điểm của hoà giải: Hoà giải là một phương pháp để giải quyết
tranh chấp, trong đó bên thứ ba là người đóng vai trò trung gian hoà giải tham gia vào các
Trang 14cuộc họp chung giữa các bên và tham gia vào các phiên họp riêng với từng bên để điềuhoà lợi ích các bên, phân tích cho họ thấy nội dung, thực chất của tranh chấp và cố gắnggiúp các bên tìm ra một giải pháp để giải quyết tranh chấp.
Từ khái niệm đó hoà giải mang những đặc điểm chủ yếu sau:
Các bên tranh chấp thoả thuận bên thứ 3 tạo điều kiện thuận lợi cho việc đàm phán
Bên thứ 3 không có quyền quyết định tranh chấp;
Khi các bên đạt được sự nhất trí trong việc giải quyết tranh chấp, thì sự nhất trí phảiđược thể hiện bằng văn bản và văn bản này có giá trị pháp lý ràng buộc các bên
Việc hoà giải thành công hay không là do sự kết hợp hai yếu tố chủ chốt trong bất
kỳ cuộc thương lượng nào, sự trao đổi thông tin và sự tin cậy lẫn nhau, Vì vậy, bên thứ 3phải là người mà các bên tranh chấp đủ tin cậy để có thể trao đổi những lập trường riêngđích thực của họ trong vụ tranh chấp Quá trình hoà giải mang tính chất tự nguyện, mềmdẻo và không bắt buộc, thông thường việc hoà giải diễn ra nhanh chóng với chi phí vừaphải Các vụ giải quyết tranh chấp bằng hoà giải có thể rất đơn giản hoặc có thể lớn vàphức tạp, có thể chỉ có hai bên hay nhiều bên tham gia tranh chấp
Trong quá trình hoà giải tính đối kháng của các bên ít quyết liệt hơn so với cáchình thức giải quyết tranh chấp bằng toà án hoặc trọng tài do vậy đặc trưng của việc hoàgiải là cho phép duy trì mối quan hệ làm ăn lâu dài và đưa ra những giải pháp hữu hiệu.Các bên có thể xoá bỏ vai trò của người hoà giải vào bất cứ thời điểm nào mà họ muốn,người hoà giải không áp đặt quan điểm riêng của mình cho các bên mà để các bên thoảthuận và thể hiện bằng văn bản có giá trị bắt buộc cho cả hai bên Khi người hoà giải nắmđược các sự kiện, nguyên nhân các tình tiết của vụ tranh chấp đồng thời lại biết đượcnhững chi tiết riêng tư trong lập trường của từng bên thì họ có thể tháo gỡ hoặc góp phầnlàm giảm đi những bất đồng, những rào cản và khác biệt trong quan điểm của các bêntheo những cách thức, lập luận, dẫn dắt của mình nếu chỉ có các bên tranh chấp với nhaucùng với những lập trường riêng của họ thì không thể giải quyết nổi
Nhìn chung hoà giải là phương pháp giải quyết tranh chấp nhanh, tiết kiệm chiphí, nỗ lực giải quyết tranh chấp của các bên cùng với sự đóng góp của hoà giải viên sẽlàm cho tiến trình hoà giải diễn ra nhanh chóng và mang lại kết quả theo mong muốn củacác bên
3 Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng tòa án.
3.1 Cơ cấu tổ chức của toà án kinh tế.
a Cơ cấu của toà án trong điều kiện mới:
Trang 15Toà án kinh tế được tổ chức thành tòa chuyên trách trong hệ thống tòa án nhândân như: Tòa dân sự, Toà hình sự, gồm có: Tòa kinh tế Tòa án nhân dân tối cao, Tòa kinh
tế thuộc Tòa án nhân dân cấp Tỉnh, Thẩm phán chuyên trách xét xử các vụ án kinh tế ởToà án cấp Huyện
Ở Trung Ương: Toà án nhân dân tối cao có toà án kinh tế tồn tại độc lập và song
song với các toà chuyên trách khác như: Toà hình sự, Toà dân sự, Toà lao động … Cơcấu tổ chức của Toà kinh tế Toà án nhân dân tối cao gồm có Chánh toà, các Phó Chánhtoà, các Thẩm phán và Thư ký toà
Ở Địa phương: Cơ cấu tổ chức của toà kinh tế toà án nhân dân cấp Tỉnh gồm có:Chánh toà, Phó chánh toà, các Thẩm phán và Thư ký toà
Ở Toà án nhân dân cấp Huyện không có tổ chức chuyên trách song TAND cấpHuyện vẫn có chức năng giải quyết các tranh chấp kinh tế và có các Thẩm phán kinh tếđảm nhận xét xử các vụ án kinh tế
b Chức năng và nhiệm vụ của toà án:
b.1 Chức năng: Theo quy định hiện nay toà kinh tế có 2 chức năng chủ yếu sau:
Chức năng xét xử các vụ án kinh tế theo qui định của
pháp luật Đây là chức năng chủ yếu thường xuyên mang
tính truyền thống của một cơ quan xét xử, toà án có thẩm
quyền nhân danh nước CHXHCN Việt Nam để tuyên án và
kết quả của việc xét xử là bản án hoặc quyết định.
Chức năng tuyên bố phá sản doanh nghiệp: Toà án nhân dân cấp Tỉnh, Toà án nhân dântối cao là cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp
b.2 Nhiệm vụ của toà án kinh tế:
Giải quyết đúng pháp luật, kịp thời các vụ án kinh tế
nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của cá
nhân, pháp nhân.
Nhiệm vụ bảo vệ pháp chế XHCN
Nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Nhiệm vụ giải quyết nhanh chóng kịp thời các vụ án kinh tế
Thực tiễn hoạt động kinh doanh yêu cầu đặt ra là phải có phương thức giải quyếttranh chấp kinh tế phù hợp với nền kinh tế thị trường, cần giải quyết tranh chấp kinh tếkịp thời đúng pháp luật và đạt hiệu quả cao, không chỉ giảm bớt những tổn thất về kinh
Trang 16tế, mà còn có tác dụng bảo vệ và khôi phục quyền lợi của các doanh nghiệp, các nhà kinhdoanh, tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển Mặt khác khuyến khíchcác cá nhân và tổ chức trong nước cũng như ở nước ngoài yên tâm bỏ vốn để đầu tư pháttriển đất nước.
Ngày 16/3/1994 Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh thủ tục giảiquyết các vụ án kinh tế, theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức tòa ánnhân dân, từ ngày 1/7/1994 giải quyết tranh chấp kinh tế được chuyển sang tòa kinh tế -Tòa chuyên trách trong hệ thống Tòa án nhân dân Ngày 28/6/1996 Tòa án nhân dân tốicao, Viện kiểm soát nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên nghành số 04 TTLThướng dẫn áp dụng Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế Trong đó quy định tổchức toà kinh tế nằm trong hệ thống tòa án nhân dân với vai trò như những tòa chuyêntrách khác, có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh tế phát sinh trong nền kinh tếthị trường
3.2 Nguyên tắc tố tụng vụ án kinh tế:
Nguyên tắc giải quyết các vụ án kinh tế là những tư tưởng chỉ đạo đối với việcgiải quyết các vụ án kinh tế được các quy phạm pháp luật về tố tụng kinh tế ghi nhận quanhững nội dung và đặc trưng cơ bản của tố tụng kinh tế Việc tuân thủ các nguyên tắc của
tố tụng kinh tế là cơ sở cho việc đảm bảo giải quyết vụ án kinh tế khách quan, đúng luật,đặc biệt cần phải tuân thủ những nguyên tắc sau đây:
3.2.1 Nguyên tắc tự định đoạt
Đây là nguyên tắc cơ bản trong tố tụng kinh tế, nó xuất phát từ quyền tự do kinhdoanh, tự do giao kết hợp đồng của các chủ thể kinh doanh Theo nguyên tắc này, thủ tụcgiải quyết các vụ án kinh tế đã quy định cho đương sự được quyền khởi kiện, quyền yêucầu toà án bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, có quyền lựa chọn Toà án giải quyếttranh chấp trong những trường hợp nhất định Nguyên đơn được quyền thay đổi nội dungđơn kiện, quyền rút đơn kiện, cũng như đương sự có quyền hoà giải, thương lượng trongquá trình giải quyết vụ án
3.2.2 Nguyên tắc đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và
chứng minh:
Trong tố tụng kinh tế, toà án không có nghĩa vụ phải điều tra xác minh sự thật của
vụ án, mà các đương sự phải có nghĩa vụ cung cấp thu thập tài liệu chứng cứ để bảo vệquyền lợi của mình Có thể nói, sự thất bại trong một vụ tranh tụng tại toà án phụ thuộcnhiều vào việc đương sự có cung cấp đầy đủ các chứng cứ bảo vệ quyền lợi của mình haykhông
Trang 173.2.3 Nguyên tắc hoà giải:
Khi có tranh chấp kinh tế xảy ra các bên đương sự phải chủ động gặp gỡ nhau đểhoà giải, thương lượng, khi sự thương lượng đó không đem lại kết quả thì bên bị vi phạm
có quyền khởi kiện vụ án kinh tế ra toà án nhân dân có thẩm quyền Trong quá trình giảiquyết vụ án kinh tế toà án có nhiệm vụ phải hoà giải giữa các bên đương sự, hoà giải làbắt buộc trong tố tụng kinh tế, nếu như khi giải quyết vụ án kinh tế Toà án không hoà giảigiữa các bên thì coi như đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Toà án chỉ đưa ra xét
xử khi hoà giải không thành Xét về nguyên tắc, hoà giải không chỉ giải quyết "Ai đúng, Ai
sai" mà chính là khuyến khích các bên thừa nhận quyền lợi chung Thực tiễn xét xử cho
thấy rằng phần lớn các vụ án kinh tế thành công ở giai đoạn hoà giải Hoà giải thật sự có
ý nghĩa quan trọng đối với cả hai bên đương sự và với cả toà án, nó giúp vụ án được giảiquyết nhanh chóng đạt được yêu cầu của cả hai bên và tạo điều kiện thuận lợi cho việcthực hiện những thoả thuận đó sau này
3.2.4 Nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh chóng kịp thời:
Đây là nguyên tắc đặc trưng của tố tụng vụ án kinh tế, bởi lẽ nó chi phối tất cả cácthời hạn tố tụng trong việc giải quyết vụ án kinh tế, nhanh chóng về thời gian là đòi hỏicủa các chủ thể kinh doanh khi giải quyết vụ án
3.2.5 Nguyên tắc xét xử công khai:
Đây là nguyên tắc hiến định đối với hoạt động của toà án Trong một số trườnghợp pháp luật cho phép toà án được xử kín: Khi xét xử các vụ án kinh tế, toà án có thể xét
xử kín nếu xét thấy cần giữ bí mật Nhà nước hoặc bí mật của đương sự theo yêu cầuchính đáng của họ Bí mật của đương sự trong tranh chấp kinh tế thường là bí quyết vềkinh doanh như phát minh sáng chế có liên quan trực tiếp đến hiệu quả hoạt động củangười kinh doanh, nếu bí quyết đó bị tiết lộ thì sẽ đem lại hiệu quả xấu cho doanh nghiệp
đó vì vậy họ có quyền đề nghị toà xét xử kín
3.3 Thẩm quyền giải quyết vụ án kinh tế của toà án.
3.3.1 Thẩm quyền của Toà án:
Khi có vụ tranh chấp kinh tế xảy ra, đương sự phải khởi kiện tại toà án có thẩmquyền hoặc các toà án phải xem xét và xử lý vụ án đúng thẩm quyền theo qui định củapháp luật tố tụng
Chúng ta hiểu thẩm quyền của toà án ở các mặt sau đây:
- Thẩm quyền chung;
- Thẩm quyền của toà án các cấp;
Trang 18- Thẩm quyền của toà án theo lãnh thổ;
- Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn;
a Thẩm quyền chung của toà án:
Theo qui định của pháp luật tố tụng thì toà án có thẩm quyền giải quyết các vụ ánkinh tế sau:
Tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cánhân có đăng ký kinh doanh
Các tranh chấp giữa công ty với thành viên của công ty, các thành viên của công ty vớinhau có liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty
Các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu
Các tranh chấp khác theo quy định của pháp luật
Do đó khi xảy ra tranh chấp và đưa đến toà án thì cần phải xác định được rằng: vụtranh chấp đó thuộc về một trong số các loại vụ việc kể trên không? Cũng cần phải lưu ýrằng đối với những tranh chấp kinh tế thuộc các loại kể trên nhưng lại có nhân tố nướcngoài thì chỉ áp dụng luật tố tụng của Việt nam để giải quyết theo thủ tục tố tụng kinh tếkhi không có điều ước quốc tế mà Việt nam tham gia, hoặc ký kết có qui định khác
b Thẩm quyền của Toà án các cấp:
Toà án kinh tế cấp Tỉnh và toà án nhân dân cấp Huyện có quyền xử sơ thẩm vụ ánkinh tế, nhưng cần phải lưu ý rằng không phải quyền xét xử Sơ thẩm mọi vụ án kinh tếđều do toà án kinh tế giải quyết, bởi lẽ toà án nhân dân cấp Huyện cũng có thẩm quyềngiải quyết các vụ án kinh tế theo quy định của pháp luật tố tụng Do đó khi có một tranhhchấp kinh tế mà chúng ta xác định nó thuộc thẩm quyền chung như đã nói ở trên thì cầnphải xác định bước tiếp theo là toà án cấp nào có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án kinh
tế đó
Toà án nhân dân cấp Huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án kinh tế có đủ
3 điều kiện sau:
- Đó là tranh chấp về hợp đồng kinh tế;
- Giá trị tranh chấp dưới 50 triệu đồng;
- Không có nhân tố nước ngoài
b.1 Thẩm quyền của toà án kinh tế - toà án nhân dân cấp Tỉnh
- Sơ thẩm: Những vụ án kinh tế trừ những vụ án thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân
cấp Huyện Tuy nhiên trong những trường hợp cần thiết toà án cấp Tỉnh có thể lấy những
vụ án kinh tế thuộc quyền của toà án nhân dân cấp Huyện lên để giải quyết do vụ án đó
Trang 19có nhiều tình tiết phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh chính trị hoặc vì lý do cần thiết nàođó.
- Phúc thẩm: Những vụ án kinh tế mà bản án, quyết định Sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp
luật của toà án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị theo qui định của pháp luật tố tụng
- Giải quyết việc phá sản doanh nghiệp theo qui định của pháp luật.
Tóm lại, thẩm quyền xét xử của Toà án Nhân dân cấp Tỉnh đối với các vụ án kinh
tế là: Giám đốc thẩm, Tái thẩm; các vụ án mà bản án, quyết định có hiệu lực pháp luậtcủa toà án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị
b.2 Thẩm quyền của toà kinh tế - toà án nhân dân tối cao:
Giám đốc thẩm, Tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
bị kháng nghị theo qui định của pháp luật tố tụng Toà kinh tế - toà án nhân dân tối caokhông có quyền xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm các vụ án kinh tế như toà hình sựtoà án nhân dân tối cao
Về phúc thẩm: Toà án Nhân dân tối cao có các Thẩm phán kinh tế được phân công giải
quyết và có thẩm quyền:
Phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luậtcủa toà án cấp dưới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị theo qui định của pháp luật tốtụng
Giải quyết khiếu nại đối với các quyết định của TAND Tỉnh, Thành phố trực thuộc
TW về tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo qui định của pháp luật
c Thẩm quyền của toà án theo lãnh thổ:
Theo qui định của pháp luật thì toà án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ ánkinh tế là toà án nơi bị đơn có trụ sở hoặc cư trú; trong trường hợp vụ án chỉ liên quanđến bất động sản, thì toà án nơi có bất động sản giải quyết
d Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn:
Theo qui định của pháp luật thì nguyên đơn có quyền lựa chọn một trong số toà
án có thẩm quyền theo những trường hợp dưới đây để khởi kiện vụ án kinh tế:
- Nếu không biết rõ trụ sở, hoặc nơi cư trú của bị đơn thì có quyền yêu cầu toà án nơi cótài sản, nơi có trụ sở hoặc nơi cư trú cuối cùng của bị đơn để giải quyết vụ án
- Nếu vụ án phát sinh là hoạt động của Chi nhánh, thì có thể yêu cầu toà án nơi doanhnghiệp có trụ sở hoặc nơi Chi nhánh đó để giải quyết
- Nếu vụ án phát sinh do vi phạm hợp đồng kinh tế, thì có
quyền yêu cầu: Toà án nơi thực hiện hợp đồng giải quyết.
Trang 20- Nếu bị đơn có trụ sở hoặc nơi cư trú khác thì có quyền yêu cầu toà án nơi có trụ sở hoặcnơi cư trú của một trong số các bị đơn giải quyết vụ án.
- Nếu vụ án không chỉ liên quan đến bất động sản thì có quyền yêu cầu toà án nơi có bấtđộng sản hoặc nơi cư trú của bị đơn giải quyết
- Nếu vụ án liên quan đến bất động sản ở nhiều nơi khác nhau thì có quyền yêu cầu toà áncủa một trong số các nơi đó giải quyết
- Trong trường hợp có tranh chấp về thẩm quyền của toà án thì do toà án cấp trên trựctiếp giải quyết
4 Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng trọng tài
4.1 Khái niện và những ưu thế cơ bản
a Khái niệm:
Trọng tài là một tổ chức trung gian được thành lập ra và có thẩm quyền giải quyếtcác tranh chấp kinh tế và tranh chấp khác phù hợp với pháp luật của nước trọng tài Giảiquyết tranh chấp bằng trọng tài là một phương thức giải quyết mà ở đó trọng tài với tưcách là người thứ 3 độc lập phán xử và quyết định tranh chấp của các bên Đó thôngthường là một cơ quan trung gian được các bên đương sự giao tranh chấp để xét xử Phánquyết của trọng tài thông thường mang tính chất chung thẩm được áp dụng phổ biến nhấthiện nay
b Những ưu thế cơ bản của trọng tài:
Cùng với việc quyết định chuyển giao việc xét xử tranh chấp kinh tế từ trọng tàikinh tế sang tòa án, Chính phủ Việt Nam chủ trương soạn thảo và ban hành Pháp luật vềtrọng tài kinh tế phi Chính phủ, nhằm tạo điều kiện cho các bên tranh chấp thực hiệnquyền tự do định đoạt phương thức giải quyết tranh chấp của mình
Vấn đề đặt ra ở đây là tại sao việc giải quyết các tranh chấp kinh tế đã có toà ánkinh tế theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, vậy trọng tài phi Chính phủđược thành lập nhằm mục đích gì? Có các nguyên nhân sau đây:
Một là: Thủ tục tố tụng của toà án có thể qua nhiều cấp xét xử khác nhau, điều đó không
phù hợp với đòi hỏi của các nhà kinh doanh về mặt thời gian Các nhà kinh doanh muốn
vụ tranh chấp được phán quyết nhanh chóng bằng thủ tục đơn giản, phù hợp với côngviệc kinh doanh của họ;
Hai là: Các nhà kinh doanh có quyền tự do kinh doanh theo luật định đồng thời cũng có
quyền lựa chọn cơ quan tài phán trong việc giải quyết tranh chấp về kinh tế Họ muốn
"chọn mặt gửi vàng" vào cơ quan tài phán mà họ tín nhiệm, muốn có "người" giải quyết
Trang 21tranh chấp do họ lựa chọn, thậm chí muốn lựa chọn về thời gian, địa điểm để giải quyết
vụ tranh chấp … Về vấn đề này tố tụng của toà án không thể đáp ứng đầy đủ được
Ba là: Các nhà kinh doanh muốn gữi bí mật, đảm bảo uy tín trong hợp đồng kinh doanh
họ thường không muốn doanh nghiệp mình phải ra "hầu toà" bị đưa tin trên các phương
tiện thông tin đại chúng, nhưng về nguyên tắc tố tụng của toà án đòi hỏi xét xử công khaitrừ trường hợp đặc biệt có lý do chính đáng;
Bốn là: Các quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta ngày càng phát triển với những hình
thức đa dạng, phong phú như hợp đồng mua bán ngoại thương, hợp đồng đầu tư… cónhững tranh chấp phát sinh từ quan hệ kinh tế Quốc tế như: tranh chấp về tài chính, tíndụng, bảo hiểm, vận tải, du lịch quốc tế trong khi các đương sự không muốn giải quyếtbằng toà án và theo thông lệ chung các nước có nền kinh tế thị trường thì những tranhchấp đó thường do Trọng tài thương mại giải quyết
Năm là: Mô hình giải quyết tranh chấp kinh tế trong kinh doanh bằng con đường trọng
tài thương mại phi Chính phủ ở các nước có nền kinh tế thị trường rất được ưa chuộngđiều này chứng tỏ một số ưu điểm độc đáo phù hợp với các nhà kinh doanh
4.2 Trung tâm Trọng tài:
Trước đây văn bản Pháp luật quan trọng điều chỉnh
tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế là Nghị định 116
ngày 5/9/1994 nhưng đã được thay thế bằng Pháp lệnh
trọng tài thương mại số 08/2003 PL - UBTVQH 11 ban
hành ngày 25/2/2003 có hiệu lực ngày 01/07/2003.
4.2.1 Khái niệm, đặc điểm:
a Khái niệm: Trung tâm trọng tài là tổ chức phi Chính phủ có tư cách pháp nhân, có con
dấu, tài khoản riêng, Trung tâm trọng tài được lập Chi nhánh, Văn phòng đại diện choTrung tâm, có Ban điều hành và các trọng tài viên có Chủ tịch, Phó chủ tịch, Tổng thưký
b Đặc điểm: Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động
thương mại được các bên thoả thuận và được tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng doPháp lệnh trọng tài thương mại ban hành ngày 25/2/2003
Tranh chấp giữa các bên được giải quyết tại Hội đồng trọng tài do Trung tâmtrọng tài tổ chức hoặc tại Hội đồng trọng tài do các bên thành lập (Điều 2 Khoản 1 vàĐiều 4)
- Về hình thức: Trọng tài thương mại là tổ chức phi Chính phủ;
Trang 22- Tổ chức hoạt động: Để tổ chức và hoạt động theo Điều lệ và Quy tắc tố tụng của mỗi
Trung tâm phù hợp với quy định của các văn bản pháp luật hiện hành nhưng không đượctrái với những qui định của Pháp lệnh số 08/2003 UBTVQH 11;
- Một đặc điểm nữa là: Các quyết định của Hội đồng trọng tài là Chung thẩm, các bênphải thi hành;
- Đặc điểm thứ tư là: Các bên có quyền thoả thuận lựa chọn Trung tâm trọng tài để giảiquyết tranh chấp
4.2.2 Thẩm quyền:
Theo qui định của Pháp lệnh số 08/PL/2003 UBTVQH 11 trọng tài có thẩm quyềngiải quyết các vụ tranh chấp phát sinh trong “hoạt động thương mại” theo sự thoả thuậncủa các bên bằng văn bản hoặc hình thức văn bản khác như thư, điện báo, telex, fax, thưđiện tử
Hoạt động thương mại là một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chứckinh doanh bao gồm: mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lýthương mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li – xăng; đầutư; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò; khai thác; vận chuyển hàng hoá, hành kháchbằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ Điều 2 khoản 3 Pháp lệnhTrọng tài Thương mại số 08/PL/2003)
4.2.3 Thành lập và chấm dứt hoạt động của Trung tâm trọng
tài:
a Điều kiện: Trung tâm trọng tài chỉ được phép thành lập khi có ít nhất năm Trọng tài
viên là sáng lập viên đề nghị và được Hội luật gia Việt nam giới thiệu, Bộ trưởng Bộ Tưpháp xem xét Quyết định cấp giấy phép thành lập Trung tâm trọng tài
Trọng tài viên phải là người có đủ các điều kiện theo qui định mới được côngnhận là Trọng tài viên: phải là công dân Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực,
vô tư, khách quan, có bằng đại học và đã qua thực tế công tác theo ngành đã học từ 05năm trở lên
Pháp luật cũng đưa ra điều kiện cấm chỉ: người đang bị quản chế hành chính,đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị kết án mà chưa được xoá án tích khôngđược làm Trọng tài, Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Chấp hành viên, Côngchức đang công tác tại Toà án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, Cơ quan thihành án không được đồng thời làm trọng tài viên (Điều 12 Pháp lệnh 08/2003 UBTVQH11)
Trang 23b Thủ tục:
- Các sáng lập viên phải gửi hồ sơ đề nghị thành lập Trung tâm trọng tài đến Bộ Tư pháp,trong thời hạn 40 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp cấpgiấy phép thành lập Trung tâm trọng tài và phê chuẩn Điều lệ của Trung tâm trọng tài,trong trường hợp từ chối, phải trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do;
- Hồ sơ đề nghị thành lập Trung tâm trọng tài gồm có các nội dung sau:
+ Đơn xin phép thành lập Trung tâm trọng tài;
+ Họ và tên, địa chỉ, nghề nghiệp của các sáng lập viên;
+ Điều lệ của Trung tâm trọng tài;
+ Văn bản giới thiệu của Hội luật gia Việt nam;
- Đơn xin phép thành lập Trung tâm trọng tài gồm có các nội dung sau:
+ Ngày, tháng, năm viết đơn;
+ Họ và tên, địa chỉ, nghề nghiệp của các sáng lập viên;
+ Lĩnh vực hoạt động của Trung tâm trọng tài:
+ Địa điểm dự định đặt trụ sở của Trung tâm trọng tài;
- Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được Giấy phép thành lập, Trung tâm trọng tàiphải đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp Tỉnh, Thành phố trực thuộc TW nơi Trung tâmtrọng tài đặt trụ sở, hết thời hạn này mà Trung tâm trọng tài không đăng ký thì giấy phép
bị thu hồi
- Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được cấp giấy đăng ký hoạt động Trung tâm trọngtài phải đăng báo hàng ngày của TW hoặc báo Địa phương nơi đăng ký hoạt động trong 3
số liên tiếp về những nội dung chủ yếu sau:
+ Tên, địa chỉ, trụ sở của Trung tâm trọng tài
+ Lĩnh vực hoạt động của Trung tâm;
+ Số giấy đăng ký hoạt động, cơ quan cấp, ngày, tháng, năm cấp;
+ Thời điểm bắt đầu hoạt động của Trung tâm trọng tài;
Trung tâm trọng tài, phải niêm yết tại trụ sở những nội dung trên và danh sáchtrọng tài viên của Trung tâm trọng tài
c Chấm dứt hoạt động:
Điều 18 Pháp lệnh Trọng tài thương mại số 08/2003 UBTVQH 11 thì Trung tâmtrọng tài chấm dứt hoạt động trong các trường hợp sau:
Trang 24- Các trường hợp qui định tại Điều lệ của Trung tâm trọng tài;
- Bị thu hồi Giấy phép thành lập;
Khi chấm dứt hoạt động, trung tâm trọng tài phải nộp lại Giấy phép thành lập cho
cơ quan đã cấp giấy phép
4.2.4 Giải quyết tranh chấp kinh tế của Trung tâm trọng tài kinh tế.
a Nộp đơn:
Khi yêu cầu giải quyết tranh chấp Nguyên đơn phải gửi đơn hợp lệ cho Trung tâmtrọng tài mà các bên đã thoả thuận bằng văn bản về việc đưa vụ tranh chấp ra giải quyếttại trung tâm trọng tài
Đơn yêu cầu phải có đầy đủ những nội dung sau:
+ Ngày, tháng, năm viết đơn;
+ Tên và địa chỉ của các bên;
+ Tóm tắt nội dung tranh chấp;
+ Các yêu cầu của Nguyên đơn;
+ Trị giá tài sản mà Nguyên đơn yêu cầu;
+ Trọng tài viên của Trung tâm mà Nguyên đơn chọn;
- Để giải quyết vụ tranh chấp tại Hội đồng trọng tài do các bên thành lập nguyên đơn phảilàm đơn kiện gửi cho bị đơn nội dung đơn kiện như trên đã qui định
- Kèm theo đơn kiện nguyên đơn phải gửi bản chính hoặc bản sao thoả thuận trọng tài,bản chính , bản sao các tài liệu, chứng cứ, bản sao phải có chứng thực hợp lệ
- Tố tụng trọng tài bắt đầu khi Trung tâm trọng tài nhận được đơn kiện của nguyên đơnhoặc từ khi bị đơn nhận được đơn kiện của nguyên đơn, nếu vụ tranh chấp được giảiquyết tại Hội đồng trọng tài do các bên thành lập;
Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ khi nhận được đơn kiện, Trung tâm trọng tài phảigửi cho bị đơn bản sao đơn kiện của nguyên đơn và những tài liệu, chứng cứ;
b Bản tự bảo vệ:
- Đối với vụ tranh chấp mà các bên đã chọn Trung tâm trọng tài để giải quyết nếu các bênkhông có thoả thuận khác thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn kiện vàcác tài liệu kèm theo của nguyên đơn do Trung tâm trọng tài gửi đến, bị đơn phải gửi cho
Trung tâm trọng tài bản tự bảo vệ;
- Đối với vụ tranh chấp được giải quyết tại Hội đồng trọng tài do các bên thành lập, nếukhông có thoả thuận khác thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn kiện của
Trang 25nguyên đơn và các tài liệu kèm theo bị đơn phải gửi cho nguyên đơn bản tự bảo vệ và tênTrọng tài mà mình lựa chọn.
Bản tự bảo vệ phải gồm có các nội dung sau:
+ Ngày, tháng, năm viết bản tự bảo vệ;
+ Tên và địa chỉ của bị đơn;
- Lý lẽ và chứng cứ để tự bảo vệ trong đơn bao gồm việc phản bác một phần hoặc toàn bộnội dung đơn kiện của nguyên đơn Ngoài những nội dung qui định tại điểm này, nếu bịđơn cho rằng vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài không cóthoả thuận trọng tài hoặc thoả thuận trọng tài vô hiệu thì có quyền nêu ra trong bản tự bảovệ
- Thời hạn bị đơn gửi bản tự bảo vệ kèm theo chứng cứ có thể dài hơn 30 ngày nhưngphải trước ngày Hội đồng trọng tài mở phiên họp
c Thành lập Hội đồng trọng tài:
Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn kiện Trung tâm trọngtài phải gửi cho bị đơn bản sao đơn kiện, tên Trọng tài viên mà nguyên đơn chọn và cáctài liệu kèm theo cộng với danh sách trọng tài viên của Trung tâm trọng tài;
- Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được tài liệu và các tài liệu kèm theo do Trungtâm trọng tài gửi đến, bị đơn phải chọn Trọng tài viên có tên trong danh sách Trọng tàiviên đã gửi và báo cho Trung tâm trọng tài biết hoặc yêu cầu Chủ tịch Trung tâm trọngtài chỉ định trọng tài viên cho mình Hết thời hạn này nếu bị đơn không chọn Trọng tàiviên cho mình hoặc không yêu cầu Chủ tịch Trung tâm trọng tài chỉ định Trọng tài viênthì trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày hết hạn qui định này, Chủ tịch trung tâmtrọng tài chỉ định trọng tài viên có tên trong danh sách của Trung tâm cho bị đơn
- Trong trường hợp vụ tranh chấp có nhiều bị đơn mà các bị đơn không thống nhất chọnđược trọng tài viên trong thời hạn 30 ngày thì trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngàynhận được yêu cầu chọn Trọng tài viên Chủ tịch trung tâm trọng tài chỉ định Trọng tàiviên có tên trong danh sách của Trung tâm trọng tài cho các bị đơn
- Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hai Trọng tài viên được các bên chọn, các Trọng tàiviên này phải chọn Trọng tài viên thứ 3 có tên trong danh sách trọng tài viên của Trungtâm làm Chủ tịch hội đồng trọng tài Hết thời hạn trên mà hai Trọng tài viên được chọnkhông chọn được Trọng tài viên thứ 3 làm Chủ tịch thì trong thời hạn 7 ngày kể từ ngàyhết hạn theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Chủ tịch Trung tâm trọng tài chỉ địnhTrọng tài viên thứ 3 có tên trong danh sách Trọng tài viên làm Chủ tịch Hội đồng trọngtài
Trang 26- Trong trường hợp các bên thoả thuận vụ tranh chấp do Trọng tài viên duy nhất củaTrung tâm trọng tài giải quyết nhưng không chọn được Trọng tài viên thì theo yêu cầucủa mỗi bên, Chủ tịch trung tâm trọng tài chỉ định Trọng tài viên duy nhất cho các bêntrong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu và thông báo cho các bên (Điều 25khoản 4 Pháp lệnh 08/2003 UBTVQH11).
d Hội đồng trọng tài do các bên thành lập:
Tương tự như thành lập Hội đồng Trọng tài tại Trung tâm trọng tài việc giải quyếttranh chấp kinh tế có thể được giải quyết bởi một Hội đồng trọng tài gồm 3 trọng tài viênhoặc do một trọng tài viên duy nhất thực hiện Tuy nhiên trong trường hợp này Chánh ánToà án Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương giao cho một Thẩm phán chỉ định Trọngtài viên cho bị đơn nếu bị đơn không chọn được Trọng tài viên theo yêu cầu của nguyênđơn trong thời hạn 7 ngày làm việc
- Chánh án Toà án cấp Tỉnh cũng thực hiện việc giao cho một Thẩm phán chỉ định trọngtài viên thứ 3 làm Chủ tịch Hội đồng, trong thời hạn 15 ngày nếu hai Trọng tài viên đượcchọn hoặc người được chỉ định không chọn được trọng tài viên thứ 3 làm Chủ tịch Hộiđồng trọng tài;
- Trọng tài viên do các bên chọn hoặc toà án chỉ định có thể là trọng tài viên trong danhsách hoặc ngoài danh sách trọng tài viên của các trung tâm trọng tài của Việt Nam Trongtrường hợp các bên có thoả thuận giao vụ tranh chấp do một trọng tài viên giải quyếtnhưng không thoả thuận được việc chọn Trọng tài viên duy nhất thì theo yêu cầu của mộtbên Chánh án Toà án nhân dân cấp Tỉnh nơi bị đơn có trụ sở hoặc cư trú giao cho mộtThẩm phán chỉ định Trọng tài viên duy nhất cho các bên trong thời hạn 15 ngày kể từngày nhận được yêu cầu và thông báo cho các bên
- Trọng tài viên duy nhất làm nhiệm vụ như một Hội đồng trọng tài, Quyết định của trọngtài viên này có hiệu lực thi hành như quyết định của Hội đồng trọng tài
4.3 Giải quyết tranh chấp:
Trọng tài viên nghiên cứu hồ sơ và tiến hành các công việc cần thiết cho việc giải quyếttranh chấp trọng tài viên có thể nghe các bên trình bày ý kiến, yêu cầu các bên cung cấpcác bản giải thích, các bằng chứng và tài liệu khác có liên quan hoặc có thể tìm hiểu sựviệc có liên quan từ những người khác với sự có mặt của các bên hoặc sau khi đã báo cáocho các bên biết
Trong trường hợp cần thiết, Hội đồng trọng tài có thể tự mình thu thập chứng cứ, mờigiám định theo yêu cầu của một bên hoặc các bên và phải thông báo cho các bên biết, bên
Trang 27yêu cầu giám định phải nộp tạm ứng phí giám định (Điều 32, khoản 2 Pháp lệnh Trọngtài thương mại số 08/2003 UBTVQH 11).
Thời gian địa điểm phiên họp giải quyết vụ tranh chấp do Chủ tịch Hội động trọng tàiquyết định Giấy triệu tập các bên tham dự phiên họp giải quyết vụ tranh chấp phải gửicho các bên chậm nhất 30 ngày trước ngày mở phiên họp Phiên họp giải quyết vụ tranhchấp không công khai, trong trường hợp có sự đồng ý của các bên, Hội đồng trọng tài chophép những người khác tham dự phiên họp (Điều 38 Pháp lệnh số 08/2003 PL UBTVQH11)
Theo đề nghị của các bên hoặc được các bên chấp thuận vụ tranh chấp có thể được giảiquyết không có mặt của các bên Trong trường hợp nguyên đơn vắng mặt mà không có lý
do chính đáng hoặc bỏ phiên họp mà không được Hội đồng trọng tài đồng ý thì được coi
là rút đơn kiện, Hội đồng trọng tài tiếp tục giải quyết vụ tranh chấp nếu bị đơn yêu cầuhoặc có đơn kiện lại Bị đơn vắng mặt mà không có lý do chính đáng hoặc bỏ phiên họp
mà không được Hội đồng trọng tài đồng ý thì việc giải quyết tranh chấp được tiến hànhcăn cứ vào tài liệu và chứng cứ hiện có Hội đồng trọng tài có thể căn cứ vào hồ sơ đểgiải quyết vụ tranh chấp mà không cần các bên có mặt (Điều 40 Pháp lệnh 08/2003 Pháplệnh UBTVQH 11)
Các bên có thể trực tiếp hoặc uỷ quyền cho người đại diện tham dự phiên họp giảiquyết vụ tranh chấp hoặc có quyền mời nhân chứng, Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của mình trong việc giải quyết tranh chấp (Điều 39 Pháp lệnh)
Trong trường hợp quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại hoặc có nguy cơ trựctiếp bị xâm hại thì các bên có quyền làm đơn đến Toà án cấp Tỉnh nơi Hội đồng trọng tàithụ lý vụ tranh chấp yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời như kê biên tài sản,
kê biên niêm phong tài sản ở nơi gửi giữ, phong toả tài khoản tại ngân hàng, bảo toànchứng cứ trong trường hợp đang bị tiêu huỷ hoặc có nguy cơ bị tiêu huỷ
Việc giải quyết tranh chấp được tiến hành căn cứ vào những điều khoản của hợp đồng
và pháp luật hiện hành, mọi diễn biến của phiên họp giải quyết tranh chấp phải được Thư
ký Trung tâm trọng tài ghi thành biên bản Biên bản phải được các Trọng tài viên và Thư
lý cùng ký và phải có chữ ký của Chủ tịch Hội đồng trọng tài Khi quyết định Hội đồngđược thiết lập theo nguyên tắc đa số, trừ trường hợp vụ tranh chấp do Trọng tài viên duynhất giải quyết, ý kiến của thiểu số được ghi vào biên bản phiên họp (Điều 42, Pháp lệnh08/2003 UBTVQH 11)
Quyết định trọng tài phải có các nội dung chủ yếu sau:
+ Ngày tháng, năm ra quyết định trọng tài;
Trang 28+ Tên Trung tâm trọng tài;
+ Tên, địa chỉ của các Nguyên đơn, Bị đơn;
+ Họ tên các trọng tài viên hoặc trọng tài viên duy nhất;
+ Tóm tắt đơn kiện và các vấn đề tranh chấp;
+ Cơ sở để quyết định trọng tài;
+ Quyết định về vụ tranh chấp, quyết định phí trọng tài và các chi phí khác;
+ Thời hạn thi hành quyết định trọng tài;
+ Chữ ký của các trọng tài viên hoặc trọng tài viên duy nhất
Quyết định trọng tài có hiệu lực kể từ ngày công bố
- Quyết định trọng tài có thể được công bố ngay tại phiên họp cuối cùng hoặc có thể công
bố sau nhưng chậm nhất là 60 ngày, kể từ ngày kết thúc phiên họp Toàn văn quyết địnhtrọng tài phải được gửi cho các bên ngay sau ngày công bố
- Sau khi quyết định trọng tài được công bố, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đượcquyết định trọng tài một bên có thể yêu cầu Hội đồng trọng tài sửa chữa những lỗi về tínhtoán, lỗi đánh máy hoặc những lỗi khác Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đượcđơn yêu cầu, Hội đồng trọng tài tiến hành chỉnh sửa và phải thông báo cho các bên biết(Điều 46 Pháp lệnh 08/2003 của UBTVQH 11)
- Các bên có quyền yêu cầu huỷ quyết định trọng tài trong thời hạn 30 ngày kể từ ngàynhận được quyết định trọng tài, nếu không đồng ý với quyết định trọng tài này thì cóquyền làm đơn gửi toà án cấp Tỉnh nơi Hội đồng trọng tài ra quyết định trọng tài yêu cầuhuỷ quyết định trọng tài, nếu các bên gửi đơn quá hạn vì có sự kiện bất khả kháng thì thờigian có sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hạn yêu cầu huỷ quyết định trọng tài
Đơn yêu cầu huỷ quyết định trọng tài gồm các nội dung sau:
+ Ngày, tháng, năm viết đơn;
+ Tên và địa chỉ của bên có yêu cầu huỷ quyết định trọng tài;
+ Lý do yêu cầu hủy quyết định trọng tài;
+ Kèm theo đơn yêu cầu phải có các giấy tờ sau:
Bản chính hoặc bản sao quyết định trọng tài đã được chứng thực hợp lệ;
Bản chính hoặc bản sao thoả thuận trọng tài đã được chứng thực hợp lệ;
Giấy tờ kèm theo yêu cầu bằng tiếng nước ngoài phải được dịch ra tiếng Việt
và bản dịch phải được chứng thực hợp lệ;
- Toà án phải thông báo ngay cho các bên và yêu cầu nộp lệ phí, toà án có quyền yêu cầubên nộp đơn giải thích những điều chưa rõ trong đơn yêu cầu huỷ quyết định trọng tài;
Trang 29- Sau khi thụ lý đơn yêu cầu huỷ quyết định trọng tài, toà án phải thông báo cho Trungtâm trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài do các bên thành lập, các bên tranh chấp và Việnkiểm sát cùng cấp Trong trường hợp vụ tranh chấp do Trung tâm tổ chức giải quyết thìtrong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của toà án, trung tâmtrọng tài phải chuyển hồ sơ cho toà án.
- Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thụ lý, Chánh án Toà án chỉ định một Hội đồng xét
xử gồm 3 Thẩm phán, trong đó có một Thẩm phán làm chủ toạ mở phiên toà xét đơn yêucầu huỷ quyết định trọng tài, toà án phải chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp trongthời hạn 7 ngày làm việc, trước ngày mở phiên toà
- Phiên toà được tiến hành với sự có mặt của các bên tranh chấp, Luật sư (nếu có), Kiểmsát viên cùng cấp, nếu một trong các bên vắng mặt không có lý do chính đáng thì Hộiđồng xét xử vẫn tiến hành xét đơn yêu cầu huỷ quyết định trọng tài;
- Hội đồng xét xử không xét lại nội dung vụ tranh chấp mà chỉ kiểm tra giấy tờ theo quyđịnh của pháp luật, chứng cứ, đối chiếu với những căn cứ để huỷ quyết định trọng tài.Các căn cứ để huỷ quyết định trọng tài như sau:
+ Không có thoả thuận trọng tài;
+ Thoả thuận trọng tài vô hiệu;
+ Thành phần Hội đồng trọng tài, tố tụng trọng tài không phù hợp với thoả thuậncủa các bên;
+ Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài
+ Các bên chứng minh được có trọng tài viên vi phạm nghĩa vụ trọng tài viên quyđịnh tại Khoản 2, Điều 13 Pháp lệnh 08/2003 UBTVQH 11;
+ Quyết định trọng tài trái với lợi ích công cộng của nước CHXHCN Việt nam Hội đồng xét xử có quyền ra quyết định huỷ hoặc không huỷ quyết định trọng tài theoquy định của Pháp luật
- Điều 55 của Pháp lệnh Trọng tài quy định: Trong thời hạn 15 ngày các bên có quyềnkháng cáo quyết định của toà án, Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát nhân dân tốicao có quyền kháng nghị quyết định của toà án Đơn kháng cáo, quyết định, kháng nghịphải nêu rõ lý do yêu cầu của kháng cáo, kháng nghị và phải gửi cho toà án ra quyết định.Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát nhân dântối cao là 30 ngày kể từ ngày toà án ra quyết định Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngàynhận được quyết định kháng nghị hoặc nhận đơn kháng cáo và người kháng cáo đã nộp lệphí kháng cáo tòa án ra quyết định phải chuyển hồ sơ lên toà án nhân dân tối cao
Trang 30- Xét kháng cáo, kháng nghị: Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ kháng
cáo hoặc quyết định kháng nghị, toà án nhân dân tối cao phải mở phiên toà xem xét quyếtđịnh Nếu cần phải yêu cầu người kháng cáo, kháng nghị giải thích những nội dungkháng cáo, kháng nghị thì thời hạn mở phiên toà được kéo dài thêm nhưng không quá 60ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ kháng cáo, kháng nghị toà án phải chuyển hồ sơ choViện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 7 ngày làm việc trước ngày mở phiên toà
+ Thành phần Hội đồng xét kháng cáo, kháng nghị gồm 3 thẩm phán, trong đó cómột Thẩm phán làm chủ toạ do toà án nhân dân tối cao chỉ định;
+ Phiên toà được tiến hành với sự có mặt của các bên tranh chấp, Luật sư của cácbên (nếu có), Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp;
+ Sau khi xem xét đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị, tài liệu kèm theo chứng
cứ (nếu có), nghe ý kiến của các bên được triệu tập, của Kiểm sát viên, Hội đồngxét xử thảo luận và quyết định theo đa số;
+ Hội đồng xét xử có quyền giữ nguyên, sửa một phần hoặc toàn bộ quyết định củatoà án cấp sơ thẩm, đình chỉ việc xét kháng cáo trong trường hợp Viện kiểm sátrút quyết định kháng nghị, bên kháng cáo rút kháng cáo hoặc đã được triệu tậphợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng bỏ phiên họp mà không được Hộiđồng xét xử đồng ý Quyết định của toà án nhân dân tối cao là quyết định cuốicùng và có hiệu lực thi hành
- Thi hành Quyết định trọng tài: Sau thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn thi hành
quyết định trọng tài, nếu một bên không tự nguyện thi hành cũng không yêu cầu huỷquyết định trọng tài, thì bên thi hành quyết định trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu cơquan thi hành án cấp Tỉnh nơi có trụ sở, nơi cư trú hoặc nơi có tài sản của bên phải thihành, thi hành quyết định trọng tài
Trong trường hợp một trong các bên có yêu cầu toà án huỷ quyết định trọng tài thì quyếtđịnh trọng tài được thi hành kể từ ngày quyết định toà án không huỷ quyết định trọng tài
có hiệu lực
Trình tự thủ tục và thời hạn thi hành quyết định trọng tài theo quy định của pháp luật thihành án dân sự
4.4 Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam
4.4.1 Khái quát chung:
a Đặc điểm của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam:
Trang 31- Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam là tổ chức trọng tài phi Chính phủ được thành lậpbên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam có thẩm quyền giải quyết cáctranh chấp kinh tế có yếu tố nước ngoài là chủ yếu.
- Về tổ chức của hệ thống trọng tài Quốc tế Việt nam: Chỉ có một Trung tâm trọng tàiQuốc tế Việt nam duy nhất đặt trụ sở ở Hà nội, không tổ chức theo cấp quản lý từ Trungương đến địa phương
- Trọng tài viên của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam do Phòng Thương mại vàCông nghiệp Việt nam chọn và có thể mời chuyên gia nước ngoài làm trọng tài viên củaTrung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam, các trọng tài viên có thể kiêm nhiệm và khôngphải dự thi để được cấp thẻ trọng tài viên vì thế tư cách trọng tài viên của họ chỉ được xácđịnh khi họ giải quyết tranh chấp do trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam giao cho
- Các phán quyết của Uỷ ban trọng tài có giá trị chung thẩm, nếu phán quyết đó khôngđược tự giác thi hành trong thời hạn qui định thì sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế theopháp luật của nước nơi phán quyết được yêu cầu thi hành
Trước đây ở nước ta có Hội đồng trọng tài Ngoại thương và Hội đồng trọng tàiHàng hải Để thống nhất hoạt động của hai tổ chức này, tránh sự chồng chéo về thẩmquyền cũng như thi hành quyết định trọng tài, ngày 28/4/1993 Thủ tướng Chính phủ banhành Quyết định số 204/TTg về tổ chức trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam (VIAC)trên cơ sở sáp nhập Hội đồng trọng tài Ngoại thương và Hội đồng trọng tài Hàng hải banhành kèm theo Quyết định này là Điều lệ tổ chức Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam
b Về tổ chức của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam
Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam có Chủ tịch và hai Phó Chủ tịch do cáctrọng tài viên của Trung tâm bầu ra với nhiệm kỳ 4 năm
Trung tâm có một Thư ký thường trực do Chủ tịch Trung
tâm Trọng tài Quốc tế Việt nam chỉ định Các trọng tài
viên của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam là những
người có kiến thức và kinh nghiệm trong các lĩnh vực pháp
luật Ngoại thương, Tài chính, Ngân hàng, Bảo hiểm, Đầu
tư Trọng tài viên do Ban thường trực Phòng Thương mại
và Công nghiệp Việt nam lựa chọn, với nhiệm kỳ 4 năm,
sau mỗi nhiệm kỳ các trọng tài viên có thể được chọn lại,
Trang 32Chuyên gia nước ngoài cũng có thể được mời làm trọng tài
viên của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam.
c Thẩm quyền của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam:
Theo qui định tại Điều lệ tổ chức Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam ban hànhkèm theo Quyết định 204 TTg và Quyết định 114 TTg ngày 26/2/1996 của Thủ tướngChính phủ, thì Trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam có thẩm quyền giải quyết các tranhchấp sau đây:
- Tranh chấp phát sinh từ quan hệ kinh tế quốc tế như các hợp đồng mua bán ngoạithương, các hợp đồng đầu tư, vận tải, du lịch và bảo hiểm quốc tế, chuyển giao côngnghệ, tín dụng thanh toán Quốc tế v.v Khi có đủ các điều kiện sau đây:
+ Một hoặc các bên đương sự là thể nhân hay pháp nhân nước ngoài;
+ Nếu trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp, các bên đương sự thoả thuận đưa vụviệc ra trước Trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam để giải quyết hoặc có một điềuước quốc tế ràng buộc các bên phải đưa vụ tranh chấp ra trước Trung tâm trọngtài quốc tế Việt nam để giải quyết
Các quan hệ phát sinh từ quan hệ kinh doanh trong nước nếu các bên thoả thuậnđưa vụ việc đó ra Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam để giải quyết (Điều 1 Quyết định
114 TTg) Như vậy, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt nam không những có thẩm quyềngiải quyết các tranh chấp phát sinh quan hệ kinh tế quốc tế mà hiện nay tổ chức này còn
có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp kinh doanh trong nước, nếu các bên đương sựthoả thuận lựa chọn tổ chức này giải quyết tranh chấp Tuy nhiên, Pháp lệnh trọng tàithương mại số 08/PLUBTVQH ban hành ngày 25/2/1003 có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2003thì các Quyết định số 204TTg ngày 28/4/1993 và Quyết định 114 TTg ngày 16/2/1996hết hiệu lực do vậy Trung tâm trọng tài Quốc tế sẽ phải sửa đổi bổ sung Điều lệ, Quy tắc
tố tụng trọng tài cho phù hợp với quy định của Pháp lệnh số 08/PLUBTVQH trong thờihạn 12 tháng kể từ ngày Pháp lệnh này có hiệu lực
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Từ khi chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần chúng ta đã đạt được nhữngthành tựu đáng kể về kinh tế, nhất là những năm gần đây liên tục tăng trưởng Các quan
Trang 33hệ pháp luật kinh tế cũng ngày càng được củng cố và phát triển, các quan hệ hợp đồngkinh tế giữa các chủ thể trong nước với nhau và giữa chủ thể trong nước với chủ thể nướcngoài cũng ngày càng phát triển đa dạng tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện cácmục tiêu kinh tế - xã hội do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đề ra.
Thời gian qua tranh chấp hợp đồng kinh tế xảy ra chủ yếu và có tính chất phổ biến
ở các lĩnh vực hoạt động kinh tế: Xây dựng cơ bản, vận chuyển hàng hoá, vay tín dụng,thương mại, bảo hiểm Đồng thời các tranh chấp có yếu tố nước ngoài trong lĩnh vựcmua bán hàng hoá, vận tải, bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu với nội dung phức tạp vìliên quan đến luật pháp quốc tế, pháp luật Hàng hải, liên quan đến các loại tài sản có giátrị lớn như tàu biển, hàng hóa xuẩt nhập khẩu
Tranh chấp kinh tế thường liên quan đến nhiều đối tượng, có những vụ án các đốitượng có quyền và nghĩa vụ liên quan lại là các chủ thể tham gia các quan hệ tố tụng khác(hình sự, dân sự, hành chính ) nên việc giải quyết gặp không ít khó khăn phức tạp vàmất nhiều thời gian để điều tra xác minh, thu thập chứng cứ và áp dụng pháp luật
Đương sự trong các vụ án kinh tế thường có trình độ học vấn cao, có hiểu biếtnhất định về mặt pháp luật, có nhiều mánh lới trong làm ăn kinh tế nên thường lợi dụngnhững hạn chế, những kẽ hở của pháp luật trong ký kết, thực hiện hợp đồng kinh tế hoặctrong giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế, mặt khác, nếu thực hiện tốt việc phân tích,thuyết phục thì hai bên đương sự cũng dễ dàng chấp nhận, thoả thuận với nhau bằng biệnpháp thương lượng, hòa giải để giải quyết các tranh chấp kinh tế đã phát sinh giữa cácbên
I CÁC LOẠI TRANH CHẤP PHỔ BIẾN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1 Tranh chấp phát sinh do một bên vi phạm nghĩa vụ giao hàng hoặc thực hiện lao vụ:
Trong thực tế kinh doanh tranh chấp phát sinh do một bên vi phạm nghĩa vụ giaohàng hoặc thực hiện lao vụ thường sảy ra rất phổ biến do tập quán và đặc thù khinhdoanh ở nước ta Những tranh chấp này thường do các bên thực hiện không đầy đủ cácđiều khoản của hợp đồng, không thực hiện nghĩa vụ giao hàng, thậm chí không thực hiệnhợp đồng
Dưới đây là một ví dụ điển hình của loại tranh chấp này:
Quan hệ kinh tế giữa công ty P và doanh nghiệp tư nhân T (DNTN) hình thành từ
các hợp đồng mua bán gạo, Ngày 03/02/1994 hai bên đã ký hợp đồng số 20 Futher, theo
đó DNTN T bán cho công ty P 500 tấn gạo 5% tấm với đơn giá là 2150đ/kg với tổng trị giá là 1.075.000.000 đồng Công ty P ứng trước cho DNTN T 1.000.000.000 đồng sau đó
Trang 34DNTN T đã giao cho công ty P 399 tấn gạo 5% tấm, trị giá 857.850.000 đồng Hết thời hạn hợp đồng DNTN T vẫn không giao đủ hàng và còn nợ lại công ty P là 142.150.000
đồng, Hai bên đã tiến hành thanh lý hợp đồng 20.Futher và cùng thống nhất chuyển sốtiền 142.150.000 đồng từ hợp đồng 20.Futher sang hợp đồng 21B.Futher ký ngày
16/4/1994, theo hợp đồng số 21B.Futher, DNTN T bán cho công ty P 317,8 tấn gạo 5%
tấm, đơn giá 2150đ/kg với tổng trị giá hợp đồng là 799.370.000 đồng, Hai bên đã thoảthuận chuyển số tiền 142.150.000 đồng từ hợp đồng số 20 Futher sang hợp đồng 21B
Futher đồng thời công ty P ứng trước cho DNTN T 912.650.250 đồng để thực hiện hợp đồng 21B Futher DNTN T đã giao hàng cho công ty P 317,8 tấn gạo trị giá 799.370.000 đồng Hết hạn hợp đồng DNTN T vẫn không giao đủ số gạo theo hợp đồng và còn nợ công ty P 255.430.250 đồng Hai bên đã tiến hành thanh lý hợp đồng và cũng thống nhất
chuyển số nợ này sang hợp đồng số 71.Futher, Hợp đồng số 71 Futher được ký ngày
7/5/1994, theo đó DNTN T bán cho công ty P 500 tấn gạo 5% tấm với đơn giá 2080
đồng/kg và trị giá hợp đồng là 1.040.000.000 đồng, trong hợp đồng số 71.Futher hai bêncòn thoả thuận chuyển số nợ là 255.430.250 đồng từ hợp đồng số 21B Futher sang hợp
đồng 71 Futher và công ty P ứng trước cho DNTN T 930.000.000 đồng Thực hiện hợp đồng này DNTN T đã giao hàng cho công ty P 200 tấn gạo trị giá 420.000.000 đồng và hoàn trả lại bằng tiền mặt cho công ty P 240.000.000 đồng Hết hạn hợp đồng này DNTN
T giao hàng thiếu và còn nợ công ty P số hàng tương ứng với số tiền là 525.430.250 đồng
và 6.432.000 đồng bao bì Ngày 11/7/1994 hai bên ký phụ lục số 01/PK điều chỉnh lại
đơn giá từ 2080đồng/ Kg lên 2100 đồng/ Kg Thực hiện hợp đồng này DNTN T giao cho công ty P 200 tấn gạo trị giá 420.000.000 đồng và hoàn trả lại bằng tiền mặt cho công ty
P 240.000.000 đồng Hết hạn hợp đồng DNTN T vẫn chưa giao đủ hàng cho công ty P và còn nợ công ty P số hàng tương ứng với 525.430.250 đồng và 6.432.000 đồng tiền bao
bì Ngày 14/7/1994 hai bên tiền hành thanh lý hợp đồng số 71.Futher và thống nhấtchuyển số nợ là 531.862.250 đồng sang hợp đồng số 112.Futher
Cùng ngày 14/7/1994 hai bên đã ký hợp đồng số 112.Futher theo đó DNTN T bán cho công ty P 500 tấn gạo với đơn giá 1690 đồng/ Kg và trị giá hợp đồng là 845.000.000
đồng Hai bên còn thoả thuận chuyển số tiền 531.862.250 đồng từ hợp đồng 71.Futher
sang hợp đồng 112.Futher Trong hợp đồng số 112.Futher công ty P không ứng tiền cho DNTN T DNTN T không thực hiện hợp đồng 112 Futher Hai bên cũng không tiến hành làm biên bản thanh lý hợp đồng, mà DNTN T làm bản cam kết trả lại số tiền 531.862.250 đồng cho công ty P và nếu chậm trả thì phải chịu lãi suất 2,1% theo lãi ngân hàng, DNTN T đã thực hiện cam kết và đã trả được 470.640.000 đồng Tính đến ngày 5/10/1996 DNTN T còn nợ công ty P là 61.222.250 đồng Công ty P đã nhiều lần gửi
Trang 35công văn đòi nợ DNTN T nhưng vẫn không lấy lại được tiền Giám đốc hai bên đã gặp
nhau để giải quyết nhưng vẫn không đi đến thoả thuận cuối cùng Ngày 5/10/1996 Công
ty P gửi đơn kiện đến Toà kinh tế Toà án Nhân dân Tỉnh Long An yêu cầu giải quyết vụ tranh chấp Tại phiên toà ngày 15/10/1996 Công ty P yêu cầu DNTN T trả 61.222.250
đồng nợ gốc và 50.353.136 đồng tiền lãi theo mức lãi suất 2,1% tháng từ 7/5/1994 đến
5/10/1996 Ông Hà, chủ DNTN T thừa nhận là có quan hệ buôn bán với công ty P qua
các hợp đồng số 20 Futher, 21B.Futher, 71.Futher, 112 Futher và đã không thực hiệnhợp đồng số 112 Futher đã cam kết trả dần số tiền 531.862.250 đồng và đã trả được470.640.000 đồng còn nợ gố là 61.222.250 đồng Ông Hà xin Toà không trả tiền lãi.Sau khi đọc hồ sơ và nghe các bên trình bày, Toà án Nhân dân Tỉnh Long An tuyên rằng
các HĐKT số 20.Futher, 21B.Futher, 71.Futher, 112.Futher được ký giữa công ty P và DNTN T là hoàn toàn phù hợp với ngành nghề kinh doanh và tư cách chủ thể Hợp đồng
được tiến hành trên cơ sở tự do thoả thuận, thống nhất và bình đẳng giữa các bên, phùhợp với quy định của pháp luật Các điều khoản được thoả thuận trong Các hợp đồng số20.Futher, 21B.Futher, 71.Futher (trừ hợp đồng số 112 Futher), sau khi ký kết hai bêntiến hành thực hiện các điều khoản trong hợp đồng, hết hạn hợp đồng, hai bên tiến hành
làm bản thanh lý, mặc dù các hợp đồng này DNTN T không giao đủ hàng nhưng hai bên
thống nhất chuyển số nợ sang hợp đồng tiếp theo, hoàn toàn phù hợp với luật định Riêng
hợp đồng số 112 Futher, hai bên thoả thuận ký kết nhưng phía DNTN T không thực hiện
hợp đồng và sau khi hết hạn hợp đồng hai bên không tiến hành thanh lý Tuy nhiên, haibên đã gặp nhau thoả thuận về việc trả số tiền còn lại bằng tiền mặt, được tiến hành bằng
văn bản cam kết có chữ ký của cả hai bên Bị đơn đã công nhận nợ trước công ty P là
61.222.250 đồng Riêng phần lãi nhận thấy đây là số nợ phát sinh từ hoạt động kinhdoanh giữa hai đơn vị kinh tế việc chịu lãi suất, bồi thường thiệt hại hay bị phạt vi phạm
từ hành vi vi phạm của mình là lẽ đương nhiên Do vậy, yêu cầu không tính lãi của ông
Hà không được chấp nhận, Về phía Nguyên đơn yêu cầu thanh toán khoản nợ gốc61.22.250 đồng là hoàn toàn hợp lý Còn phần lãi là 50.353.136đồng tính theo lãi suất2,1% tháng từ 7/5/1994 đến 5/10/1996 là chưa phù hợp, Theo biên bản thanh lý hợp đồng
số 71.Futher ngày 14/7/1994 thì hai bên chuyển số nợ 531.862.250 đồng sang hợp đồng
số 112.Futher và cùng ngày hợp đồng số 112.Futher đã được ký Từ ngày ký hợp đồng
cho đến khi hết hạn DNTN T không thực hiện hợp đồng và cả hai bên không ký kết phụ
lục gì thêm nên việc tính lãi suất chỉ được tính từ ngày ký hợp đồng số 112.Futher đến
ngày 5/10/1996 Có nghĩa là DNTN T phải trả 61.222.250 đồng nợ gốc và 47.002.404
đồng tiền lãi tính theo lãi suất 2,1%/Tháng từ ngày 14/7/1994 đến 5/10/1996 Toà án còn
Trang 36tuyên xử buộc DNTN T phải trả toàn bộ án phí cho Nguyên đơn Cách giải quyết của Toà
án Tỉnh Long An là thoả đáng được hai bên chấp nhận và cam kết thực hiện
2 Tranh chấp phát sinh do một bên vi phạm nghĩa vụ thanh
toán và tiếp nhận hàng hoá công việc:
Trong hoạt động kinh doanh việc một bên vi phạm nghĩa vụ thanh toán hoặc tiếonhận hàng hoá công việc thường xuyên sảy ra, bởi nó liên quan đến tiền hàng, nhiều khicác bên chưa có tiền, chưa giao kịp hàng thậm chí có rồi nhưng vì một lý do tế nhị nào đó
mà các bên không thực hiện nghĩa vụ thanh toán và tiếp nhận hàng hoá công việc dẫn đếntranh chấp sảy ra Sau đây là 02 ví dụ về vấn đề này:
Vụ tranh chấp thứ nhất:
Nguyên đơn là một doanh nghiệp Việt Nam, Bị đơn là một công ty Hoa Kỳ cácvấn đề cần được giải quyết là nghĩa vụ trả tiền hàng của Bị đơn, tính tiền lãi suất
Tóm tắt sự việc:
Nguyên đơn và Bị đơn đã ký 02 hợp đồng mua bán số 24 -X2 ngày 08/7/1999 và
số 29- X2 ngày 29/7/1999 theo đó Nguyên đơn bán cho Bị đơn 44MT hạt tiêu đen theođiều kiện FOB Cảng Thành phố Hồ Chí MInh thanh toán bằng D/P, các chứng từ đượcyêu cầu gồm: vận đơn hoàn hảo đã xếp hàng lên tàu (Clean on board B/L), hoá đơnthương mại, giấy chứng nhận số lượng và phẩm chất, giấy chứng nhận kiểm dịch thựcvật, phiếu đóng gói
Thực hiện hợp đồng số 24-X2, Nguyên đơn đã giao 14 MT hạt tiêu đen, lấy vận đơn hoànhảo đã xếp hàng lên tàu ký ngày 24/7/1999, Nguyên đơn lập bộ chứng từ nhờ ngân hàng
A ở Tiền Giang thu hộ 61.230 USD, ngân hàng A đã đồng ý thu hộ Ngân hàng A đã gửi
bộ chứng từ tới ngân hàng North Banc (Hoa kỳ) nhờ ngân hàng này thu tiền theo D/P.Sau đó ngân hàng A và Nguyên đơn đã nhiều lần gửi Fax đòi tiền từ ngân hàng NorthBanc và Bị đơn nhưng vẫn không được trả
Thực hiện hợp đồng số 29-X2 Nguyên đơn đã giao cho Bị đơn 30 MT hạt tiêu đen, lấyvận đơn hoàn hảo đã xếp hàng lên tàu ký ngày 20/8/1999, Nguyên đơn lập bộ chứng từnhờ ngân hàng Việt nam B ở Hậu Giang thu hộ 124.150 USD theo D/P, ngân hàng ViệtNam B đã đồng ý và đã gửi bộ chứng từ cho ngân hàng North Banc (Hoa kỳ) nhờ ngânhàng này thu tiền theo D/P Tiếp theo ngân hàng Việt Nam B cùng và Nguyên đơn đãnhiều lần gửi Telex, Fax, thư đòi tiền từ ngân hàng NorthBanc và Bị đơn nhưng vẫn chưađược trả tiền
Trang 37Mặc dù, chưa thanh toán tiền hàng nhưng theo thông báo của hãng tàu, Bị đơn đãnhận cả hai lô hàng bằng vận đơn gốc do hãng tàu ký phát, chuyến cuối cùng nhận ngày10/9/1999.
Sau ngày 10/9/1999 Nguyên đơn tiếp tục gửi nhiều điện, fax đòi Bị đơn trả tiềnhàng nhưng Bị đơn vẫn chưa trả Ngân hàng A và Ngân hàng Việt Nam B đã gửi thư,điện, fax đòi ngân hàng Nothr Banc gửi trả tiền hoặc trả lại bộ chứng từ nhưng ngân hàngNothr Banc không trả lời
Ngày 14/12/1999 Bị đơn gửi Fax cho Nguyên đơn yêu cầu Nguyên đơn kéo dàithêm một thời gian nữa cho việc thanh toán 61.230 USD và 13.150 USD tiền hàng và Bịđơn sẵn sàng trả lãi suất theo mức 9%/năm Ngày 15/12/1999 Nguyên đơn đã gửi fax cho
Bị đơn không chấp nhận đề nghị trong bản fax ngày 14/12/1999 của Bị đơn Đồng thờiNguyên đơn tuyên bố nếu đến ngày 20/12/1999 mà Bị đơn không trả tiền hàng thìNguyên đơn sẽ kiện Bị đơn theo quy định của Hợp đồng Hết ngày 30/12/1999 vẫn khôngnhận được tiền hàng, Nguyên đơn đã khởi kiện Bị đơn ra trọng tài đòi bị đơn trả195.380USD tiền hàng và lãi suất 9%/năm, tính từ ngày nhận hàng 10/9/1999 đến ngàytrọng tài xét xử
Phân tích và quyết định của Trọng tài:
- Về nghĩa vụ trả tiền hàng của Bị đơn: Đã ký hợp đồng mua hàng, Bị đơn có nghĩa vụ trảtiền hàng cho Nguyên đơn theo phương thức thanh toán D/P, Bị đơn phải trả tiền hàngcho Nguyên đơn thì mới nhận được bộ chứng từ từ ngân hàng, trong đó có vận đơn đểnhận hàng Trên thực tế, Bị đơn chưa trả tiền hàng nhưng đã nhận được hàng và đã bán lôhàng đó cho người khác Điều này được chứng minh bởi thông báo của hãng tàu BCLWord Link International Ltd cho Cảng Sài Gòn và bản Fax ngày 14/12/1999 của Bị đơngửi cho Nguyên đơn đã nhận được hàng thì Bị đơn có nghĩa vụ trả tiền hàng cho Nguyênđơn Đồng thời trong bản fax ngày 24/12/1999 Bị đơn đề nghị kéo dài thêm một thời giannữa cho việc thanh toán 195.380USD Như vậy, rõ ràng Bị đơn đã thừa nhận là Bị đơn cónghĩa vụ thanh toán tiền hàng là 195.380USD cho Nguyên đơn Đến ngày trọng tài xét xử
vụ kiện (8/7/2000) Bị đơn vẫn chưa trả tiền hàng cho Nguyên đơn, rõ ràng Bị đơn đã cốtình vi phạm nghĩa vụ trả tiền hàng Vì vậy trọng tài quyết định buộc Bị đơn phải trả choNguyên đơn 195.380USD tiền hàng
- Về tiền lãi suất:
Ngày 10/9/1999 là ngày Bị đơn nhận xong hàng, do đó nếu Bị đơn làm thủ tục trảtiền hàng ngay thì tiền hàng cũng phải qua hệ thống ngân hàng rồi mới tới tay Nguyênđơn Vì thế, trọng tài xác định mốc thời gian hợp lý để tính lãi suất sẽ là từ ngày
Trang 3820/9/1999 Mức lãi suất 9%/năm do Nguyên đơn tính toán là quá cao và không phù hợpvới mức lãi suất tiền vay do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố Từ đó, trọng tàichấp nhận đối với thời gian chậm trả tiền hàng từ ngày 20/9/1999 đến ngày 8/7/2000(ngày trọng tài xét xử) Nguyên đơn chỉ được hưởng lãi suất theo mức lãi suất tiền vaytrung bình do ngân hàng Nhà nước Việt nam công bố vào thời gian này là 5%/năm.
(Nguồn số liệu trích từ sách Tranh chấp từ hợp đồng XNK án lệ trọng tài và kinh nghiệm của PGS.TS Hoàng Ngọc Thiết)
Vụ tranh chấp thứ 2: Là vụ tranh chấp giữa Xí nghiệp
muối Phương Cự và Xí nghiệp muối trộn Iốt số 2 sau đây
phát sinh cũng do nguyên nhân không thanh toán sòng
phẳng và dứt điểm tiền hàng cho bên kia:
Ngày 29/5/1993, Xí nghiệp muối Phương Cự (bên A)
ký hợp đồng số 41/HĐ với xí nghiệp trộn muối Iốt số 2
(Bên B), theo đó bên A bán cho bên B 2000 tấn muối hạt
với đơn giá 70.000 đồng/tấn thành tiền là 140.000.000 đồng.
Hợp đồng quy định bên B phải giao tiền cho bên A ngay
sau khi ký hợp đồng và hàng sẽ được giao tại kho T1, T2,
T3 của Bên A vào tháng 11 và 12 năm 1993 nếu trong
tháng 12/1993 bên B không nhận hết hàng thì phải chịu chi
phí lưu kho 500đ/tấn/tháng theo số lượng còn lại Thực
hiện hợp đồng này, bên B tiến hành vay tiền của ngân hàng
và đến ngày 3/12/1993 thì cắt séc chuyển tiền cho bên A Do
khó khăn về nguồn tiêu thụ, bên B đã đặt vấn đề với bên A
ngày 27/11/1993 hai bên đã gặp nhau và thống nhất kéo dài
thời hạn giao hàng sang năm 1994 Sau đó bên B vẫn
không chịu nhận hàng với lý do là chưa tìm được nguồn
tiêu thụ Với thiện chí thực hiện hợp đồng và muốn tạo
điều kiện thuận lợi cho bên B, bên A lại cho phép bên B
thoả thuận lại Ngày 26/4/1994 Giám đốc của hai bên đã
thống nhất phương hướng giải quyết như sau: Cho bên B
Trang 39tiến hành khảo sát tìm thị trường tiêu thụ và thông báo cho
bên A biết để thống nhất và tiến hành thực hiện hợp đồng
từ tháng 5 đến tháng 12/1994 và sẽ không bắt bên B trả
tiền lưu kho trong khoảng thời gian trên Nếu quá
31/12/1994 bên B không nhận hàng thì hai bên sẽ tiến hành
thanh lý hợp đồng và bên B phải bồi thường cho bên A kể
cả những thiệt hại do thiên tai, bão lụt gây ra sau ngày
31/12/1994 với điều kiện bên A phải cung cấp đủ bằng
chứng hợp lý.
Sau khi thoả thuận như vậy bên B vẫn chưa thoả mãn và vẫn tiếp tục đưa ra yêusách, xin bên A gia hạn thêm với quyết tâm thực hiện hợp đồng, một lần nữa bên A đãchấp nhận yêu cầu của bên B, Ngày 30/4/1994 hai bên lại hẹn gặp nhau để ký phụ lục số19/HĐ bổ xung và điều chỉnh hợp đồng số 41 HĐ với tinh thần cụ thể hoá những thoảthuận hai bên đã đạt được trong ngày 26/4/1994 và bên A tiếp tục gia hạn thực hiện hợpđồng đối với bên B Nội dung của phụ lục là:
+ Bên A gia hạn thực hiện hợp đồng số 41/HĐ đến hết ngày 31/5/1995;
+ Bên B không phải chịu chi phí lưu kho từ ngày ký phụ lục số 19/HĐ cho đến ngày31/5/1995;
+ Khi nhận hàng bên B phải thông báo trước 5 ngày để bên A tổ chức thực hiện;
+ Phụ lục hợp đồng này có hiệu lực từ ngày 1/5/1994 đến 31/5/1995
Tuy đã được gia hạn nhiều lần nhưng bên B vẫn không chịu nhận hàng Ngày10/5/1994 bên B có công văn số 53/XN gửi bên A đề nghị huỷ bỏ hợp đồng số 41/HĐ vàphụ lục kèm theo
Nhận được công văn đòi huỷ hợp đồng số 41/HĐ và phụ lục 19/HĐ ngày3/6/1994 bên A có văn bản số 26/XNM không chấp nhận huỷ bỏ HĐKT số 41/HĐ và phụlục số 19/HĐ theo đề nghị của bên B, văn bản này còn nói rõ rằng nếu bên B huỷ hợpđồng thì phải bồi thường những thiệt hại do việc huỷ hợp đồng gây ra
Ngày 9/7/1994 bên B có đơn số 61/XN gửi Toà án Nhân dân Tỉnh Ninh Thuận đề nghịToà án xử lý huỷ hợp đồng số 41/HĐ và phụ lục số 19/HĐ, bên B đưa ra lý do là bên A
đã tự ý bán hàng và khi bên B đưa khách hàng đến kho của bên A để nhận hàng thì bên Akhông còn hàng tốt để giao, bên B yêu cầu bên A hoàn lại số tiền đã nhận là 140.000.000đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại (khoản lãi phát sinh trong quá trình bên A giữ tiền)
Trang 40Nhận được đơn kiện của bên B, Toà án nhân dân Tỉnh Ninh Thuận đã tổ chức hoà giảigiữa hai bên Ngày 18/7/1994 Giám đốc xí nghiệp muối trộn Iốt số 2 uỷ quyền cho Ông Lvới nội dung thay mặt Giám đốc, Ông L đòi huỷ hợp đồng số 41/HĐ và phụ lục 19/HĐ
và yêu cầu bên A bồi thường thiệt hại cho bên B
Tại giấy uỷ quyền số 42/UQ ngày 13/7/1993, Giám đốc xí nghiệp muối Phương Cự uỷquyền cho Ông T tham gia hoà giải trên tinh thần hiệp thương đã thống nhất trong hộiđồng xí nghiệp, văn bản uỷ quyền này không nêu rõ lý do nội dung cụ thể trong văn bản
uỷ quyền của Giám đốc xí nghiệp muối trộn Iốt số 2
Khi đại diện hai bên đến hoà giải, Toà án nhân dân Tỉnh Ninh Thuận không yêucầu hai bên xuất trình bất kỳ bằng chứng gì về việc uỷ quyền mà chỉ tiến hành hoà giảigiữa hai bên Sau nhiều lần hoà giải không thành, ngày 12/8/1994 hai bên đã đi đến thoảthuận
+ Huỷ hợp đồng số 41/HĐ ký ngày 29/5/1993 và phụ lục hợp đồng số 19/HĐ kýngày 30/4/1994;
+ Xí nghiệp muối Phương Cự có nghĩa vụ trả lại số tiền 140.000.000 đồng cho Xínghiệp muốn trộn Iốt 2
+ Xí nghiệp muối trộn Iốt số 2 có nghĩa vụ trả cho xí nghiệp muối Phương Cự4.000.000 đồng phí lưu kho của 2000 tấn muối từ 30/4/1994 đến 12/8/1994 và2.000.000 đồng các thiệt hại khác
Ngày 13/8/1994 Toà án Nhân dân Tỉnh Ninh Thuận đã ra quyết định số 01/QĐCNSTTcông nhận sự thoả thuận của hai bên với nội dung như trong biên bản hoà giải thành màhai bên đã ký ngày 12/8/1994 Sau khi quyết định trên đã có hiệu lực ngày 22/8/1994,Giám đốc Xí nghiệp muối trộn Iốt số 2 có đơn kháng cáo gửi đến Toà án nhân dân tối cao
đề nghị xét xử lại theo hướng huỷ hợp đồng 41/HĐ và phụ lục 19/HĐ, buộc xí nghiệpmuối Phương Cự bồi thường thiệt hại Kháng cáo cũng nêu rằng việc Ông L ký vào biênbản hoà giải thành có nội dung như đã nêu trên là vượt quá phạm vi uỷ quyền Nhận đượcđơn kháng cáo của Xí nghiệp muối trộn Iốt số 2 và sau khi xem xét vụ việc ngày31/12/1994 Phó Chánh toà án nhân dân tối cao có kháng nghị số 02/KT kháng nghị phầnquyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự số 01/QĐCNSTT ngày 13/8/1994của Toà án Nhân dân Tỉnh Ninh Thuận buộc xí nghiệp muối trộn Iốt số 2 bồi thường cho
xí nghiệp muối Phương Cự 4.000.000 đồng phí lưu kho và 2.000.000 đồng chi phí thiệthại khác do vượt quá phạm vi uỷ quyền, đề nghị Toà án kinh tế Toà án nhân dân tối caoxét xử theo trình tự Giám đốc thẩm, huỷ bỏ phần quyết định nói trên để giải quyết lạitheo thủ tục chung phần yêu cầu bồi thường thiệt hại của xí nghiệp muối trộn Iốt số 2