Tác động của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường Theo định nghĩa từ giáo trình “Kinh tế Chính trị Mác – Lênin: Nền kinh tế thị trường là một nền kinh tế trong đó các quyết định kinh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
~~~~~~*~~~~~~
BÀI TẬP LỚN
TÊN HỌC PHẦN
KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN
HÀ NỘI - 2021
Trang 2MỤC LỤC
1 Phân tích tác động của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường? Các tác động này đang biểu hiện như thế nào trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay? Minh
họa bằng ví dụ cụ thể? 1
1.1 Tác động của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường 1
1.2 Biểu hiện ở nền kinh tế Việt Nam 2
1.3 Ví dụ minh họa 4
2 Phân tích các điều kiện cần tạo lập để chuyển đổi từ nền sản xuất – xã hội lạc hậu sang nền sản xuất - xã hội tiến bộ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam? 7
2.1 Tư duy phát triển 7
2.2 Thể chế và nguồn lực 8
2.3 Môi trường trong nước và quốc tế 9
2.4 Ý thức xây dựng xã hội văn minh 10
TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 31 Phân tích tác động của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường? Các tác động này đang biểu hiện như thế nào trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay? Minh họa bằng ví
dụ cụ thể?
1.1 Tác động của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
Theo định nghĩa từ giáo trình “Kinh tế Chính trị Mác – Lênin: Nền kinh tế thị trường là một nền kinh tế trong đó các quyết định kinh tế và giá cả hàng hóa và dịch
vụ được hướng dẫn bởi sự tương tác giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất của một quốc gia [1]
Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường là sự ganh đua giữa những chủ thể tham gia vào sản xuất kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ để thực hiện tốt nhất lợi ích của mình
Thứ nhất, cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế yêu cầu sự cạnh tranh với mục đích tối đa hóa lợi nhuận Vì vậy, các chủ thể sản xuất kinh doanh muốn tồn tại cần không ngừng nâng cao trình độ nguồn nhân lực, sáng tạo và ứng dụng nhiều tri thức công nghệ mới vào sản xuất Từ đó, cạnh tranh là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển nhanh hơn
Thứ hai, cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, với mục đích lợi nhuận tối đa, bên cạnh sự hợp tác, các chủ thể kinh tế luôn phải cạnh tranh với nhau để đạt được lợi nhuận tối đa Thông qua đó, nền kinh tế thị trường không ngừng được hoàn thiện hơn
Thứ ba, cạnh tranh là cơ chế điều chỉnh linh hoạt việc phân bổ các nguồn lực
Nền kinh tế thị trường yêu cầu các chủ thể cạnh tranh phải tiếp cận và sử dụng các nguồn lực xã hội hợp lý với mục đích tối đa hóa lợi nhuận Kết quả là các nguồn lực xã hội này sẽ được phân bố một cách linh hoạt
Thứ tư, cạnh tranh thúc đẩy năng lực thỏa mãn nhu cầu của xã hội
Trong nền kinh tế thị trường, mục đích của các chủ thể kinh tế là lợi nhuận tối đa
và người tiêu dùng là người quyết định thị trường Vì vậy, nhà sản xuất phải tạo ra những sản phẩm có giá thành rẻ và có khả năng thỏa mãn cao nhất nhu cầu của thị trường
Trang 4 Tác động tiêu cực
Một là, cạnh tranh không lành mạnh gây tổn hại môi trường kinh doanh
Khi các chủ thể thực hiện các biện pháp cạnh tranh thiếu lành mạnh, thậm chí là các thủ đoạn xấu để tìm kiếm lợi thế sẽ làm xói mòn đến môi trường kinh doanh, thậm chí xói mòn giá trị đạo đức xã hội Do đó, các thủ đoạn cạnh tranh thiếu lành mạnh cần được loại bỏ
Hai là, cạnh tranh không lành mạnh gây lãng phí nguồn lực xã hội
Một số chủ thể kinh tế sau khi chiếm giữ được các nguồn lực xã hội đã không phát huy vai trò của các nguồn lực đó trong sản xuất kinh doanh hoặc không đưa vào sản xuất để tạo ra hàng hóa, dịch vụ cho xã hội Do vậy, cạnh tranh đã làm cho nguồn lực xã hội bị lãng phí
Ba là, cạnh tranh không lành mạnh làm tổn hại phúc lợi của xã hội
Khi cạnh tranh không lành mạnh, các nguồn lực bị lãng phí gây ra nhiều tổn thất cho phúc lợi xã hội Vì vậy, các biện pháp cạnh tranh thiếu lành mạnh sẽ khiến phúc lợi xã hội bị ảnh hưởng
1.2 Biểu hiện ở nền kinh tế Việt Nam
Năm 1986, Việt Nam xác định nền kinh tế đi theo đường lối nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là một nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, trong đó khu vực kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, với mục tiêu dài hạn là xây dựng chủ nghĩa xã hội [1]
Thứ nhất, cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất
Khi nền kinh tế Việt Nam xóa bỏ cơ chế Bao cấp và chuyển sang kinh tế thị trường, hệ thống doanh nghiệp trong nước còn ỷ lại vào Nhà nước Tuy nhiên sau khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp này phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nước ngoài Để tồn tại, các doanh nghiệp này buộc phải thay đổi hình thức sản xuất, không ngừng nâng cao tay nghề của người lao động
Thứ hai, cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường là một nền kinh tế mở [1] Sau khi xóa bỏ nền kinh tế tập trung, nhiều doanh nghiệp nước ngoài đã tham gia vào thị trường Việt Nam và cạnh tranh trực tiếp với các doanh nghiệp trong nước
Trang 5Biểu đồ 1: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2013
Nguồn số liệu: Tổng cục thống kê
Biều đồ 1 cho thấy số lượng vốn đầu tư trực tiếp (FDI) ngày càng tăng lên Điều này khiến cho nền kinh tế thị trường không ngừng được hoàn thiện
Thứ ba, cạnh tranh là cơ chế điều chỉnh linh hoạt việc phân bổ các nguồn lực
Thị trường ở Việt Nam bao gồm các doanh nghiệp Nhà nước, các doanh nghiệp
tư nhân trong và ngoài nước Vì vậy để phát triển, Nhà nước đã đề ra nhiều chính sách kiểm tra, đánh giá các doanh nghiệp này để phân bổ nguồn lực hợp lý Luật cạnh tranh
và chống độc quyền được thông qua lần đầu năm 2004 và tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện theo thời gian Điều này yêu cầu các doanh nghiệp phải cạnh tranh để có cơ hội được cung cấp nguồn lực
Thứ tư, cạnh tranh thúc đẩy năng lực thỏa mãn nhu cầu của xã hội
Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng có quyền lựa chọn sản phẩm họ mua Sau 30 năm, Việt Nam từ một thị trường Nhà nước độc quyền phân phối hàng đến tay người dân, cung không đủ cầu đã chuyển sang thị trường tự do buôn bán ngày càng thỏa mãn nhu cầu của người mua
Một là, cạnh tranh không lành mạnh gây tổn hại môi trường kinh doanh
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, không chỉ nhiều doanh nghiệp trong nước được thành lập mà còn có những doanh nghiệp nước ngoài gia nhập vào thị trường Việt Nam Để tối đa hóa lợi nhuận, có một số doanh nghiệp đã có các hành vi cạnh tranh không lành mạnh như: so sánh, gièm pha công ty đối thủ, trốn thuế, buôn lậu
0 200 400 600 800 1000 1200 1400 1600 1800
0
2,000
4,000
6,000
8,000
10,000
12,000
14,000
2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013
Vốn đã đầu tư (triệu USD) Số dự án
Trang 6Biểu đồ 2: Thực trạng trốn tránh thuế tại Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2018
Nguồn: Tổng cục thuế, 2019
Từ biểu đồ 2 cho thấy số lượng doanh nghiệp vi phạm thuế đã tăng hơn 100% trong giai đoạn 2010 – 2018 Những vấn đề này đã làm môi trường kinh doanh bị tổn hại, xói mòn đạo đức xã hội
Hai là, cạnh tranh không lành mạnh gây lãng phí nguồn lực xã hội
Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh sẽ gây ra phân bố nguồn lực không đều Một số công ty sẽ chiếm giữ các nguồn lực, không đưa vào sản xuất kinh doanh
để tạo ra lợi ích cho xã hội
Ba là, cạnh tranh không lành mạnh làm tổn hại phúc lợi của xã hội
Khi các nguồn lực bị lãng phí, không được sử dụng hiệu quả, khả năng thỏa mãn nhu cầu của thị trường Việt Nam sẽ đi xuống Từ đó phúc lợi xã hội bị giảm bớt
1.3 Ví dụ minh họa
Phân tích cạnh tranh của Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam – Tập đoàn Bảo Việt
Thứ nhất, cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất
Vào thời kì Bao cấp ở Việt Nam, Tập đoàn Bảo Việt phục vụ một nhóm nhỏ khách hàng là các đơn vị kinh tế Nhà nước kinh doanh trong lĩnh vực xuất nhập khẩu
và tàu biển ở miền Bắc Sau năm 1986, nước ta bước vào thời kì kinh tế thị trường kéo theo sự gia nhập của nhiều công ty bảo hiểm lớn từ nước ngoài Để cạnh tranh, không
bị mất thị phần vào doanh nghiệp đối thủ, Công ty Bảo Việt đã không ngừng thay đổi
và phát triển Trong những năm qua Bảo Việt đã tăng cường đào tạo nguồn lao động, kết nối họ qua “Sổ tay văn hóa Bảo Việt” nhằm phát huy giá trị cốt lõi của doanh nghiệp Ngoài ra doanh nghiệp còn cải thiện hình ảnh, tạo niềm tin với khách hàng hơn về ngành bảo hiểm [2]
0 20 40 60 80 100 120
0
5
10
15
20
25
30
35
40
45
2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018
Tổng thuế TNTD thu được Giá trị giảm lỗ
Số DN vi phạm về thuế TNTD
Trang 7Thứ hai, cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế thị trường
Với sự gia nhập của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài, thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ cả về quy mô, sản phẩm, chất lượng dịch vụ và tính chuyên nghiệp [2]
STT Công ty BHNT Năm thành lập Quốc gia
1 Bảo Việt Nhân Thọ 02/06/1996 Việt Nam
2 Manulife Việt Nam 12/06/1999 Canada
3 Prudential Việt Nam 01/11/1999 Anh Quốc
5 Chubb Life VN 04/05/2005 Mỹ
6 Miare Asset Prévoir 17/03/2005 Pháp
7 Dai-ichi Life 18/01/2007 Nhật Bản
8 Cathay Life 21/11/2007 Đài Loan
9 Hanwha Life Việt Nam 12/06/2008 Hàn Quốc
10 Fubon Việt Nam 01/07/2008 Đài Loan
11 Generali 20/04/2011 Italia
12 Aviva Việt Nam 29/07/2011 Anh Quốc
13 Sun Life 24/01/2013 Canada
14 Phú Hưng Life 30/08/2013 Đài Loan
15 BIDV Metlife 21/07/2014 Việt Nam, Mỹ
16 MB Ageas Life 21/07/2016 Việt Nam, Thái Lan, Bỉ
Bảng 1: Danh sách doanh nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam
Nguồn: http://wikitaichinh.com
Bảng 1 cho thấy số lượng các công ty bảo hiểm tăng lên đáng kể từ con số 3 doanh nghiệp trước năm 2000 tới 17 doanh nghiệp tại thời điểm năm 2016 Sự phát triển của ngành bảo hiểm đã giúp cho nền kinh tế thị trường của Việt Nam đi lên
Thứ ba, cạnh tranh là cơ chế điều chỉnh linh hoạt việc phân bổ các nguồn lực
Người lao động và khách hàng là hai nguồn lực chính của Tập đoàn Bảo Việt Là một doanh nghiệp lớn, có mức lương và phúc lợi nhân viên hợp lý, tập đoàn đã thu hút được nhiều nguồn nhân lực có trình độ cao Đồng thời, là một doanh nghiệp nhà nước
có độ uy tín cao về ngành bảo hiểm, Bảo Việt đã được nhiều khách hàng lựa chọn để mua bảo hiểm Tính tới thời điểm năm 2020, thị phần doanh thu bảo hiểm của Bảo Việt chiếm tới 14,7% và chỉ đứng thứ hai sau Manulife [3]
Thứ tư, cạnh tranh thúc đẩy năng lực thỏa mãn nhu cầu của xã hội
Đặc biệt, để tăng thị phần trong thị trường ngành bảo hiểm đầy cạnh tranh, doanh nghiệp đã phát triển nhiều gói dịch vụ với từng phân khúc khách hàng khác nhau Và trong mỗi gói dịch vụ, doanh nghiệp có đưa ra những mức phí khác nhau phù hợp với khả năng và mục đích của khách hàng
Trang 8Bảo Việt còn sở hữu mạng lưới phân phối rộng khắp với gần 200 chi nhánh và công ty thành viên tại 63 tỉnh thành, 600 phòng phục vụ khách hàng của bảo hiểm phi nhân thọ và 400 phòng phục vụ khách hàng của bảo hiểm nhân thọ nhằm tạo sự thuận tiện cho khách hàng khi cần đến doanh nghiệp [4]
Một là, cạnh tranh không lành mạnh gây tổn hại môi trường kinh doanh
Manulife là một đối thủ cạnh tranh lớn của Bảo Việt Ngày 8 tháng 10 năm
2020, Manulife đã viết một bài so sánh hai sản phẩm bảo hiểm của Manulife và Bảo Việt [5] Hành động này đã hạ thấp hình ảnh các sản phẩm của Bảo Việt trong mắt người tiêu dùng, gây thiệt hại đến uy tín của doanh nghiệp Đây là một hành vi cạnh tranh không lành mạnh có ảnh hưởng xấu tới môi trường kinh doanh dịch vụ bảo hiểm
Hai là, cạnh tranh không lành mạnh gây lãng phí nguồn lực xã hội
Bài viết trên khiến cho khách hàng của Công ty Bảo Việt mất niềm tin vào doanh nghiệp và có thể hủy hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp này Điều này khiến cho các nguồn lực xã hội bị lãng phí
Ba là, cạnh tranh không lành mạnh gây làm tổn hại phúc lợi của xã hội
Và hành động hủy hợp đồng sẽ khiến cho khách hàng mất đi những quyền lợi vốn có của mình như lãi suất, phí hủy hợp đồng,…
Trang 92 Phân tích các điều kiện cần tạo lập để chuyển đổi từ nền sản xuất – xã hội lạc hậu sang nền sản xuất - xã hội tiến bộ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam?
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa: là “quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao.” [6]
Ðể tiến lên trình độ công nghiệp hóa ngày càng cao, Việt Nam cần phải tạo lập các điều kiện như: tư duy phát triển; hoàn thiện thể chế và nguồn lực; môi trường trong nước và quốc tế thuận lợi; ý thức xây dựng xã hội văn minh
2.1 Tư duy phát triển
Tư duy phát triển là điều kiện đầu tiên cần tạo lập để chuyển đổi từ nền sản xuất – xã hội lạc hậu sang nền sản xuất – xã hội tiến bộ trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở Việt Nam
Tư duy phát triển trước hết là sự tiến bộ, sáng tạo trong suy nghĩ của con người Những tư duy này sẽ giúp cho con người xóa bỏ những lạc hậu, yếu kém của nền sản xuất cũ, đồng thời thúc đẩy con người sáng tạo, thay đổi để phát triển một môi trường sống tốt đẹp hơn
Thật vậy, đất nước ta được hoàn toàn độc lập năm 1975 và bắt đầu bước nào phát triển nền kinh tế theo định hướng kinh tế tập trung bao cấp Hình thức kinh tế này bên cạnh những lợi ích giúp đất nước ta vượt qua những khó khăn của những ngày đầu sau giải phóng cũng bộc lộ nhiều khuyết điểm như khiến con người trì trệ, phụ thuộc, đất nước ngày càng kém phát triển Nhận thấy những tác hại đó, Đảng ta đã chuyển đổi nền kinh tế sang nền kinh tế thị trường phù hợp hơn với sự phát triển của nhân loại Thông qua đó đất nước ta ngày càng phát triển hơn Sau 35 năm phát triển trong nền kinh tế thị trường, Việt Nam từ một nước nghèo nàn lạc hậu đã trở thành một nước có vị thế cao trên trường quốc tế Điều đó được thể hiện qua mức thu nhập bình quân đầu người từ 7,5 triệu đồng vào năm 1984 tới gần 40 triệu đồng năm 2020
Trang 10Biểu đồ 3: Thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam từ năm 1984 đến năm 2020
Nguồn số liệu: Ngân hàng thế giới ( https://data.worldbank.org/ )
2.2 Thể chế và nguồn lực
Bên cạnh sự phát triển về tư duy, để có một nền sản xuất - xã hội tiến bộ, Việt Nam cũng cần phải hoàn thiện thể chế và nguồn lực quốc gia
Thể chế là những luật lệ, Hiến pháp do Nhà nước ban hành nhằm hài hòa, định hình và phát triển một xã hội tốt đẹp Đây là một điều kiện đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với sự phát triển của công nghệ và kỹ thuật Thể chế về kỹ thuật là những bộ luật về quyền sở hữu trí tuệ bảo vệ và phát triển những công nghệ tiên tiến này Trên thế giới, Mỹ là một đất nước hàng đầu về công nghệ và hiện đại Ngoài những điều kiện đãi ngộ tốt, luật sở hữu trí tuệ chặt chẽ chính là một nhân tố lớn thu hút các chuyên gia về khoa học công nghệ Giáo sư Shuji Nakamura người Nhật Bản với giải Nobel Vật Lý năm 2014 đã rời bỏ Nhật Bản đến
Mỹ Một trong những lý do là do sự thiếu chặt chẽ ở luật sở hữu trí tuệ của Nhật Bản
so với Mỹ [7]
Như vậy, thể chế là thứ thúc đẩy con người sáng tạo nhằm phát triển một nền sản xuất – xã hội tiến bộ hơn Thể chế của Việt Nam hiện nay chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc cách mạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Một ví dụ là Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam mới chỉ được thông qua và đưa vào hiệu lực từ năm 2006 Vì vậy Việt Nam cần hoàn thiện thể chế
Nguồn lực ở đây là những nguồn lực xã hội Trong đó, nguồn lực về vốn và nguồn lực về con người là hai nguồn lực chính thúc đẩy sự phát triển từ nền sản xuất
0 5000000
10000000
15000000
20000000
25000000
30000000
35000000
40000000
45000000
1984 1987 1990 1993 1996 1999 2002 2005 2008 2011 2014 2017 2020
Thu nhập bình quân đầu người