1. Trang chủ
  2. » Tất cả

63 - Le Van Truong - Giao duc dai hoc the gioi va Viet Nam

17 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 345,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo dục đại học trên thế giới đang biến đổi rất nhanh và vô cùng sâu sắc trên hầu hết phương diện, thúc đẩy các trường đại học trên thế giới cần xây dựng những chương trình và những

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN

BÀI TIỂU LUẬN HỌC PHẦN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

NHỮNG ĐẶC TRƯNG VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN

CƠ BẢN CỦA NỀN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC HIỆN ĐẠI

HỌC VIÊN: Lê Văn Trường GVHD: TS Hồ Kỳ Quang Minh LỚP: NVSP KHÓA 75

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2021

Trang 2

MỤC LỤC

I Bối cảnh thế giới và Việt Nam trong thế kỷ XXI 3

II Những đặc trưng và xu hướng phát triển cơ bản của nền giáo dục đại học hiện đại 4

II.1 Quốc tế hoá 4

II.2 Xu hướng đại chúng hóa 5

II.3 Xu hướng đa dạng hoá 6

II.4 Tư nhân hoá 6

II.5 Bảo đảm chất lượng và nâng cao khả năng cạnh tranh 7

II.6 Phát triển nạng lưới các đại học nghiên cứu 8

III Một vài điểm cần khắc phục trong giáo dục đại học thế giới và Việt Nam 8 III.1 Những điểm cần khắc phục trong giáo dục đại học thế giới 8

III.1.1 Chi phí đào tạo đại học còn khá cao ở nhiều nước 8

III.1.2 Việc đảm bảo chất lượng 10

III.2 Những điểm cần khắc phục trong giáo dục đại học Việt Nam 11

III.2.1 Nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục 11

III.2.2 Hệ thống giáo dục quốc dân không hợp lý, thiếu đồng bộ, chưa liên thông, mất cân đối 11

III.2.3 Số hóa trong giáo dục đại học 13

IV Giải pháp phát triển nền giáo dục Việt Nam trong những năm tới 14

V Kết luận 16

Trang 3

I Bối cảnh thế giới và Việt Nam trong thế kỷ XXI

Thế giới của chúng ta đã bước sang thế kỷ XXI, thế giới hiện đại với nền công nghệ phát triển Nhu cầu của con người càng ngày càng có nhiều đòi hỏi cao hơn với những thách thức mới của kỷ nguyên công nghệ và kết nối vạn vật Xã hội đòi hỏi ngày càng cao

về những yêu cầu như nguồn năng lượng, công nghệ số, vấn đề ô nhiễm môi trường, … Đặc biệt, đó chính là nguồn nhân lực có tay nghề cao, năng lực tốt Những yêu cầu trên đòi hỏi nền giáo dục nói chung và giáo dục đại học trên thế giới đang ngày càng phát triển, có nhiều đổi mới để có thể đáp ứng với nhu cầu phát triển của xã hội

Giáo dục đại học trên thế giới đang biến đổi rất nhanh và vô cùng sâu sắc trên hầu hết phương diện, thúc đẩy các trường đại học trên thế giới cần xây dựng những chương trình và những phương án đào tạo phù hợp với yêu cầu mới của thời đại

Ngày nay, sự sáng tạo là yếu tố tiên quyết, mục tiêu hướng tới của nền giáo dục thế giới, đó chính là khả năng học và thực hành những kiến thức để tạo ra “sản phẩm” sáng tạo hơn từ nền tảng kiến thức có sẵn Đồng thời, chúng ta cũng cần sẵn sàng chấp nhận những cái mới và khả năng cải biến những cái cũ để tạo ra cái mới, thậm chí là cả những thiếu sót, sai lầm Từ đó, người dạy, người hướng dẫn sẽ định hướng, đánh giá lại vấn đề và đưa ra những kết luận về kiến thức cụ thể và định hướng nhận thức cho người học

Giáo dục đại học trên thế giới đang biến đổi rất nhanh và vô cùng sâu sắc trên hầu hết phương diện, thúc đẩy các trường đại học trên thế giới cần xây dựng những chương trình và những phương án đào tạo phù hợp với yêu cầu mới của thời đại

Ngày nay, sự sáng tạo là yếu tố tiên quyết, mục tiêu hướng tới của nền giáo dục thế giới, đó chính là khả năng học và thực hành những kiến thức để tạo ra “sản phẩm” sáng tạo hơn từ nền tảng kiến thức có sẵn Đồng thời, chúng ta cũng cần sẵn sàng chấp nhận những cái mới và khả năng cải biến những cái cũ để tạo ra cái mới, thậm chí là cả những thiếu sót, sai lầm Từ đó, người dạy, người hướng dẫn sẽ định hướng, đánh giá lại vấn đề và đưa ra những kết luận về kiến thức cụ thể và định hướng nhận thức cho người học

Cùng với quá trình phát triển của khoa học - công nghệ và nền sản xuất hiện đại, những tiến bộ trong trong quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội, nền giáo dục đại học tiên tiến của nhiều nước phương Tây tiết tục phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và chất lượng,

Trang 4

hiệu quả đào tạo Mô hình đại học Mỹ ra đời và phát triển trên cơ sở kế thừa các mô hình đại học Anh, đại học Châu Âu (Pháp - Đức) với các cơ sở nổi tiếng như đại học Harvard (1636); đại học Chicago; MIT là những đại học hàng đầu trong top 20 trường đại học đẳng cấp quốc tế

II Những đặc trưng và xu hướng phát triển cơ bản của nền giáo dục đại học hiện đại

II.1 Quốc tế hoá

Về Trong thời đại hội nhập quốc tế và thế giới phẳng ngày nay, việc tham khảo có chọn lọc những kinh nghiệm phát triển giáo dục đại học nói chung và quốc tế hóa giáo dục đại học nói riêng của các nước đi trước là rất cần thiết, giúp Việt Nam giảm thiểu được chi phí cơ hội và nhanh chóng theo kịp xu thế của thế giới Trong đó, quốc tế hóa giáo dục là một trong những chủ đề được quan tâm và có ảnh hưởng sâu rộng đến sự thay đổi cấu trúc, chức năng và mô hình hoạt động của hệ thống giáo dục đại học toàn cầu

Có nhiều định nghĩa về quốc tế hoá giáo dục đại học được đưa ra, nhưng phổ biến nhất chính là: “Quốc tế hóa là quá trình nhằm tích hợp tất cả các khía cạnh quốc tế vào mục tiêu, chức năng và quá trình thực hiện giáo dục đại học” [1]

Các quốc gia được đánh giá là cởi mở nhất trong các chính sách ủng hộ việc trao đổi và quốc tế hóa là Australia, Đức, Anh, Malaysia và Trung Quốc Đây cũng là xu hướng được nhiều quốc gia có nền giáo dục tiên tiến đang hướng tới Các trường đại học lớn trên thế giới cũng tìm cách đặt các phân viện đào tạo hoặc liên kết với các trường đại học ở các quốc gia khác nhằm thu hút thêm nguồn sinh viên, đồng thời tạo lập một xu thế “du học tại chỗ” giúp sinh viên có thể giảm bớt một phần chi phí học tập

Hoạt động quốc tế hoá giáo dục đại học tạo một bước tiến trong quá trình hợp tác giữa các quốc gia về các chương trình đào tạo đại học tiên tiến, giúp cho các nền giáo dục còn chưa có nhiều dấu hiệu phát triển có thể tiếp cận và học hỏi với những cách thức vận hành, phương pháp giáo dục mới của các nền giáo dục đại học tiên tiến trên thế giới Kết quả đạt được của xu thế này đó chính là mức độ hài lòng của người học sau quá trình đào tạo có chất lượng và thuận tiện

Trang 5

Tại Việt Nam, nền giáo dục đại học của chúng ta những năm gần đây chứng kiến bước chuyển mình rất lớn khi các trường đại học trong khối trường công lập và ngoài công lập đều chủ động tìm kiếm các cơ hội để giao lưu, hợp tác, học hỏi với các trường đại học lớn trên thế giới

II.2 Xu hướng đại chúng hóa

Chuyển từ giáo dục tinh hoa (Elite) đào tạo lấy một số ít những sinh viên, người học thực sự là những tinh tú, người thông minh sang giáo dục đại chúng và phổ cập (Massification & Univerzalization) Việc thay đổi về chiến lược giáo dục này đã nhanh chóng thay đổi qui mô giáo dục đại học tăng nhanh Ở nhiều nước như Mỹ, Nhật Bản, Hàn quốc tỷ lệ sinh viên đại học trong độ tuổi 18-26 lên đến 40-60%

Ở châu Âu quan niệm giáo dục đại học tinh hoa vẫn còn duy trì, chỉ thay đổi vào các thập niên cuối của thế kỷ 20 Vào năm 1963 tỷ lệ sinh viên đại học trong độ tuổi của Vương quốc Anh chỉ đạt 5% Sau một Đạo luật về giáo dục đại học năm 1992, Anh quốc chủ trương tăng nhanh số lượng sinh viên, đạt 29% đầu thập niên 1990 và vượt ngưỡng dưới của giáo dục đại học phổ cập vào đầu thế kỷ XXI Các nước Bắc Mỹ, Tây và Bắc Âu,

Úc và New Zealand, Nhật Bản và Hàn Quốc cũng đều đạt trên ngưỡng dưới của giáo dục đại học phổ cập vào đầu thế kỷ XXI [3]

Ở Việt Nam trong thập niên cuối của Thế kỷ XXI, việc tăng quy mô giáo dục đại học là một chủ đề gây nhiều tranh luận Tuy tỉ lệ sinh viên trong độ tuổi đối với giáo dục đại học Việt Nam còn dưới 10% Tuy nhiên, một nghịch lý là ở Việt Nam khi giáo dục đại học trong những năm gần đây tăng quá nhanh nên tạo nên tình trạng "thừa thầy, thiếu thợ", cần ngừng tăng quy mô để đảm bảo tăng chất lượng hoặc có những phương án lựa chọn nghề nghiệp khác để tìm hướng đi theo nghề nghiệp cho học sinh phổ thông Vào năm

2019, trên thực tế ở Việt Nam số người trong độ tuổi đi học đại học (từ 18-29 tuổi) tham gia học đại học rất thấp, khoảng 28,3%, thuộc hàng thấp nhất thế giới [4]

Đây là một trong những thực tế để các nhà hoạch định chính sách cần có chiến lược

để phát triển giáo dục đại học hơn nữa Việc tăng qui mô đào tạo đại học sẽ phần nào tăng nhanh trình độ dân trí và năng lực chuyên môn của lực lượng lao động Việt Nam, tiệm cận với lực lượng lao động trên thế giới

Trang 6

II.3 Xu hướng đa dạng hoá

Phát triển nhiều loại hình trường với cơ cấu đào tạo đa dạng về trình độ và ngành nghề theo hướng hàn lâm (Academy) hoặc nghề nghiệp & công nghệ nặng về thực hành (proffessional)

Nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội và tính phát triển đa dạng của các nhóm sinh viên, các trường đại học trên thế giới hiện nay đã thực hiện đa dạng hoá các loại hình đào tạo từ dài hạn đến ngắn hạn, bồi dưỡng hoặc có thể đa dạng trong lĩnh vực ngành nghề đào tạo Chiến lược này giúp cho các trường có được nhiều nhất số lượng ngành nghề đào tạo, thực hiện mở rộng quy mô đào tạo mà có thể đảm bảo được chất lượng tránh trường hợp đào tạo số lượng lớn nhưng lại khó đảm bảo chất lượng

Tại Việt Nam hiện nay, hầu hết các trường đào tạo bậc đại học mỗi năm tuyển sinh mới đều có từ khoảng 20 đến 30 chuyên ngành đào tạo, mở ra nhiều hướng lựa chọn cho sinh viên theo học Đồng thời, chương trình đào tạo không chỉ dừng lại ở các chương trình đào tạo mang tính hàn lâm mà từng bước chuyển sang mở rộng nhiều chương trình đào tạo mang tính ứng dụng như Toán ứng dụng, Công nghệ thông tin ứng dụng, Sinh học ứng dụng, … từ những chương trình thuần tuý hàn lâm, các trường đại học đã hướng tới những chương trình ứng dụng cao trong thực tế

II.4 Tư nhân hoá

Để tăng hiệu quả đào tạo và thu hút nhiều nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học nhiều nước như Mỹ, Nhật Bản, Philipin v.v Phần lớn các trường đại học

là đại học tư thục thu hút lượng lớn sinh viên theo học vì chính sách tuyển sinh dễ dàng, chương trình đào tạo đa dạng

Tại nhiều quốc gia Châu Âu như Áo, Đức, Pháp, Thụy Sỹ hay Anh Quốc, các trường đại học tổng hợp hầu hết là công lập, song được hưởng một chế độ tự trị, tự quản rất cao Ngược lại, ở Hàn Quốc, Nhật Bản hay Hoa Kỳ, các trường đại học tư thục chiếm vai trò

và tỷ trọng lớn hơn, nhiều trường đại học tư thục trong các quốc gia này có chất lượng hàng đầu thế giới Ở Hoa Kỳ, Châu Mỹ La tinh, và Philipines có những trường đại học được thành lập và quản lý bởi các tổ chức tôn giáo Từ gần ba thập kỷ nay, nhiều quốc gia, trong

Trang 7

đó có cả các quốc gia đang phát triển, từng bước cho phép thành lập các trường đại học tư thục [5]

Các trường đại học tư sẽ có được sự chủ động trong việc xây dựng chương trình theo hướng ứng dụng cao và đáp ứng được nhu cầu người học, nhanh chóng nắm bắt các

xu thế mới của thời đại và các phương pháp mới trong đào tạo giúp xây dựng thương hiệu của trường đại học Mô hình trường đại học tư thục phổ biến ở một số nước như Bangladesh, Brasil, Trung Quốc, Chile, Ai Cập, Ấn Độ, Indonesia, Ireland, Nhật Bản, Malaysia, México, Pakistan, Hàn Quốc, Mỹ và Việt Nam Một số trường đại học tư thục (dân lập) tiêu biểu hàng đầu trên thế giới như: Massachusetts Institute of Technology (MIT), Stanford University, Harvard University, Yale University, Princeton University, Columbia University, University of Chicago, Washington University in St Louis

Tại Việt Nam hiện nay, nhờ đổi mới giáo dục, các trường đại học tư thục đã được thành lập nhiều và từng bước trưởng thành thành các trường lớn, thu hút nhiều sinh viên theo học Các tập đoàn giáo dục đã đầu tư cho đại học tư thục từ khá sớm, điển hình có các trường Trường Đại học Thăng Long, Trường Đại học Phú Xuân của Tập đoàn Giáo dục EQuest, Trường Đại học Hoa Sen, Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng, Đại học Gia Định của Tập đoàn Nguyễn Hoàng (NHG), Trường Đại học FPT của Tập đoàn FPT Một mô hình khá phát triển ở Việt Nam là các trường đại học dân lập nổi tiếng như trường đại học Công nghệ Tp Hồ Chí Minh (HUTECH), đại học Duy Tân – Đà Nẵng, đại học Nguyễn Tất Thành, đại học Văn Lang, đại học Tôn Đức Thắng – Tp Hồ Chí Minh, … những trường đại học dân lập, tư thục rất nhạy bén trong việc xây dựng chương trình đào tạo, đảm bảo chất lượng và việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp nên đã và đang được nhiều sinh viên lựa chọn Các trường này, cũng sớm đã có những trường đạt “4 sao”, Top 500-600 trường đại học ở Châu Á, …

II.5 Bảo đảm chất lượng và nâng cao khả năng cạnh tranh

Ðánh giá chất lượng giáo dục - đào tạo thông qua bộ công cụ là các tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ số đánh giá; có đối tượng đánh giá là các điều kiện bảo đảm chất lượng của một cơ

sở giáo dục và mục tiêu của hoạt động này là xem xét cơ sở giáo dục có đạt chuẩn về các lĩnh vực của quá trình đào tạo hay không Quy trình đánh giá loại này lấy cơ sở là các tiêu

Trang 8

chuẩn đã quy định trước về các điều kiện bảo đảm chất lượng (như tổ chức và quản lý, đội ngũ giáo viên, học sinh, sinh viên, chương trình giáo trình, cơ sở vật chất kỹ thuật )

Ngoài ra, chất lượng giáo dục đào tạo nói chung còn được đánh giá thông qua hiệu quả ngoài của nó, tức đánh giá xem sản phẩm giáo dục đào tạo đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hay không Nói cách khác, nguồn nhân lực được đào tạo (của giáo dục – đào tạo) có đáp ứng yêu cầu thay đổi nhanh chóng của thị trường lao động hay không (trong và ngoài nước) [2]

Việc đảm bảo chất lượng giáo dục đã được Chính phủ và Nhà nước của Việt Nam rất quan tâm thể hiện qua việc đề ra trong Thông tư số 17/2021/TT-BGDĐT ban hành ngày

22 tháng 6 năm 2021 với nội dung chính là các quy định về: chuẩn chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học với các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục khác được phép đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, viện hàn lâm và học viện Tuy nhiên, Thông

tư không quy định đối với các chương trình đào tạo do cơ sở đào tạo nước ngoài cấp bằng tốt nghiệp, bao gồm cả chương trình liên kết với nước ngoài theo quy định về hợp tác, đầu

tư nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục

II.6 Phát triển nạng lưới các đại học nghiên cứu

Phát triển nạng lưới các đại học nghiên cứu để trở thành các Trung tâm sản xuất, sử dụng, phân phối, xuất khẩu tri thức và chuyển giáo công nghệ mới, hiện đại Thông qua đào tạo và nghiên cứu để phát hiện và thu hút nhân tài khoa học & công nghệ

III Một vài điểm cần khắc phục trong giáo dục đại học thế giới

và Việt Nam

III.1 Những điểm cần khắc phục trong giáo dục đại học thế giới

III.1.1 Chi phí đào tạo đại học còn khá cao ở nhiều nước

Chương trình đào tạo của nền giáo dục đại học ở các nước phát triển đang được rất nhiều sinh viên lựa chọn theo học Kết quả đạt được thì chúng ta có thể nhìn thấy rất rõ tuy nhiên về chi phí đào tạo ở bậc đại học với nhóm nước có nền giáo dục phát triển như Anh,

Trang 9

Mỹ, Pháp, Đức thì khá cao Gánh nặng về chi phí học tập cũng là một trở ngại đối với sinh viên quốc tế

Theo Trung tâm Giáo dục Hoa Kỳ, chi phí giáo dục đại học ở các trường của Mỹ chênh nhau rất lớn, có trường tổng chi phí chỉ khoảng 20.000 USD/năm, nhưng cũng có trường lên đến hơn 100.000 USD/năm Mặc dù vậy thì, học phí và dịch vụ phí không có

sự tương quan nào với chất lượng của trường Hoa Kỳ là một quốc gia coi ngành giáo dục đại học là một trong những lĩnh vực có thể thu về lợi nhuận từ nhóm sinh viên quốc tế Thực tế cho thấy, hơn hai phần ba các sinh viên quốc tế học tại Hoa Kỳ trang trải chi phí học tập bằng tiền của chính họ hoặc qua sự hỗ trợ của gia đình Chỉ có khoảng 20% sinh viên quốc tế trang trải được phần lớn chi phí học tập của mình qua sự hỗ trợ tài chính của một trường cao đẳng hoặc đại học bằng học bổng

Canada cho bạn chất lượng giáo dục cao, sự đa dạng về văn hóa và bằng cấp có giá trị toàn cầu Canada là nơi có học phí thấp nhất cho du học sinh so với các nước Anh, Úc, Mỹ và New Zealand Canada trở thành điểm đến của những du học sinh có mức tài chính khá giả, đảm bảo chi trả được khoản học phí tương đối Đồng thời, các trường đại học của Canada cũng rất đa dạng về ngành nghề, phương thức đào tạo để sinh viên có thể lựa chọn

Tại New Zealand và Úc là những quốc gia có chất lượng giáo dục cao, mức học phí tương đối phù hợp và một điểm thu hút với sinh viên đó chính là thời gian được phép làm thêm đối với sinh viên bản địa và nước ngoài sẽ họ có điều kiện trang trải một phần kinh phí học tập Đồng thời qua việc làm thêm, sinh viên cũng sẽ có cơ hội giao lưu học hỏi những kiến thức mềm, kỹ năng làm việc, giúp tăng hiệu quả ứng dụng những kiến thức học tập vào trong thực tế

Vương Quốc Anh có thể xếp vào nhóm quốc gia có chi phí du học cao nhất thế giới… Tuy nhiên, khóa học sau đại học tại Anh chỉ kéo dài một năm, bằng nửa thời gian

so với các khóa học tương tự tại khối các nước nói tiếng Anh khác Ngoài khoản học phí, các chi phí cho sinh hoạt khi học tập tại Anh cũng rất đáng lưu ý Ở London, mức sinh hoạt phí sẽ cao gần gấp đôi so với các thành phố khác Tuy sinh hoạt phí ở Anh cao, nhưng sinh viên sẽ được hưởng những chế độ ưu đãi như: giảm giá tại các cửa hàng, nhà hát, rạp chiếu phim, viện bảo tàng, phòng trưng bày, xe buýt, tàu lửa…

Trang 10

Tại các nước như Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Thái Lan, … những quốc gia ở khu vực Châu Á hiện nay cũng đã có những chính sách phát triển giáo dục đại học một cách hiệu quả Tập trung đầu tư vào bậc đào tạo đại học để tạo ra nguồn nhân lực cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước được chính phủ nhiều nước quan tâm và hỗ trợ nên mức học phí cũng tương đối thấp với sinh viên trong nước

III.1.2 Việc đảm bảo chất lượng

Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học trên thế giới được xem như là một công cụ nhằm duy trì các chuẩn mực và để không ngừng cải thiện chất lượng giáo dục đại học Nó được dùng như là một thuật ngữ chung, ở các cấp độ khác nhau và theo rất nhiều cách khác nhau tuỳ thuộc vào văn hoá và tình trạng phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước Việc đảm bảo chất lượng được nhận thức và thực hiện rất khác nhau giữa các quốc gia

Ở Mỹ, đảm bảo chất lượng là một quy trình đánh giá một cơ sở hay một chương trình nhằm xác định xem các tiêu chuẩn về giáo dục đại học, học thuật và cơ sở hạ tầng có được duy trì và tăng cường không (CHEA, 2001)

Theo AUQA (2002), đảm bảo chất lượng ở Australia bao gồm các chính sách, thái

độ, hành động và quy trình cần thiết để đảm bảo rằng chất lượng đang được duy trì và nâng cao

Ở Anh quốc, đảm bảo chất lượng là một công cụ qua đó cơ sở giáo dục đại học khẳng định rằng các điều kiện dành cho sinh viên đã đạt được các tiêu chuẩn do nhà trường hay cơ quan có thẩm quyền đề ra (CHEA, 2001)

Việc đảm bảo chất lượng ở các nước Đông Nam Á cũng rất khác nhau Ở Thái Lan, đảm bảo chất lượng - được giới thiệu qua hệ thống kiểm tra chất lượng nhà trường, kiểm toán chất lượng bên ngoài và kiểm định công nhận (BHES, 2002) - nhằm vào các mục tiêu giáo dục đại học, sự thực hiện, các kết quả học tập hay các chỉ số và sự phát triển Ở Indonesia, đảm bảo chất lượng được xác định thông qua kiểm tra nội bộ các chương trình học, các quy định của chính phủ, cơ chế thị trường và kiểm định công nhận (Tadjudin, 2001) Một số nước Đông Nam Á cũng đã thành lập cơ quan kiểm định quốc gia như: BDAC (Brunei), BAN-PT (Indonesia), LAN (Malaysia), FAAP (Philipines), ONESQA (Thái Lan)

Ngày đăng: 23/02/2022, 19:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w