1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

ĐỀ CƯƠNG giáo dục đại học thế giới và việt nam

14 425 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 34,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ CƯƠNG Giáo dục đại học Thế giới và Việt Nam 1. Phân tích ưu nhược điểm của các mô hình Giáo dục đại học trên thế giới? 2. Hãy làm rõ xu hướng phát triển của Giáo dục đại học hiện nay ? Liên hệ với thực tiễn Việt Nam hoặc nhà trường nơi AnhChị công tác ? 3. Làm thế nào để đảm bảo chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam? 4. Hiện nay nền giáo dục nước ta phát triển theo quan điểm nào : giáo dục tinh hoa, giáo dục vì nguồn nhân lực, giáo dục đại chúng,.. ?

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG Giáo dục đại học Thế giới và Việt Nam

1 Phân tích ưu nhược điểm của các mô hình Giáo dục đại học trên thế giới?

2 Hãy làm rõ xu hướng phát triển của Giáo dục đại học hiện nay ? Liên hệ với thực tiễn Việt Nam hoặc nhà trường nơi Anh/Chị công tác ?

3 Làm thế nào để đảm bảo chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam?

4 Hiện nay nền giáo dục nước ta phát triển theo quan điểm nào : giáo dục tinh hoa, giáo dục vì nguồn nhân lực, giáo dục đại chúng, ?

Câu 1 Phân tích ưu nhược điểm của các mô hình Giáo dục đại học trên thế giới ?

Xét theo lịch sử phát triển của xã hội từ trước tới nay và yêu cầu của xã hội đối với giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng, chúng ta thấy nổi lên 03 mô hình giáo dục đại học sau đây:

1 Giáo dục tinh hoa (educatiom for elite)

Giáo dục đại học theo hướng hàn lâm, tinh hoa chủ yếu trong các xã hội chậm phát triển, nền kinh tế sản xuất còn hậu, đòi hỏi về lực lượng lao động có trình độ cao rất ít Trong lịch sử, giáo dục tinh hoa xuất hiện và tồn tại chủ yếu trong nền kinh tế nông nghiệp và tiền công nghiệp Tương ứng với trình độ phát triển kinh tế xã hội, nhà nước chỉ có một nguồn lực nhất định để đầu tư cho giáo dục Do nguồn lực còn hạn chế, để sử dụng một cách có hiệu quả cho toàn xã hội, nhiều quốc gia đã đào tạo bậc đại học theo hướng “tinh hoa”, theo phương châm ít mà tinh Tư tưởng này một mặt tương ứng với khả năng cụ thể của xã hội, một mặt phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị xã hội

Gọi là giáo dục tinh hoa vì một số lí do cơ bản sau:

Thứ nhất, chỉ một số người ưu tú và những người có quyền lực trong xã hội được

hưởng nền giáo dục đại học Hầu hết nhân dân lao động không bao giờ có quyền được hưởng nền giáo dục này Vì thế, trong xã hội có rất ít người có học vấn đại học, họ là những người quyền quý đại diện cho nền văn minh của xã hội Có ít người được hưởng nền giáo dục đại học vì nhà nước không có đủ điều kiện trường lớp, tài liệu, tiền bạc, cơ sở vật chất, giáo viên…đáp ứng cho nhu cầu học tập của người dân Đặc biệt là nền sản xuất xã hội không đòi hỏi nhiều người có trình độ cao như vậy nên không tạo ra được động lực học tập của đông đảo người dân trong xã hội Mặt khác, người dân cũng không có đủ điều kiện để hưởng thụ nền giáo dục này (không có đủ tiền bạc, điều kiện, vị thế xã hội, cơ chế, chính sách của nhà nước…).

Trang 2

Thứ hai, giáo dục đại học chủ yếu học tập những tri thức tinh tuý nhất mang tính hàn

lâm, kinh viện Giáo dục đại học là nơi sáng tạo, sản sinh ra các tri thức mới và lưu truyền trong một phạm vi hẹp của xã hội Những người học đại học được xếp vào hàng ngũ trí thức

và lao động trí óc thuần khiết tách biệt với đời sống lao động chân tay của đại đa số nhân dân lao động

Nền giáo dục tinh hoa đào tạo có tính chất nhỏ giọt nhằm duy trì và phát triển văn hoá

xã hội Quá trình lựa chọn thi tuyển cũng như quá trình đào tạo rất phức tạp và rườm rà, kém hiệu quả nhưng lại đòi hỏi hết sức khắt khe và chặt chẽ Trong một quốc gia có hệ thống giáo dục tinh hoa là chính thức bao giờ cũng có sự hợp tác, bổ trợ của các hình thức và hệ thống phi chính thức

Giáo dục tinh hoa không còn phù hợp với thời đại ngày nay Nền sản xuất lớn, sản xuất theo công nghiệp hoá và hiện đại hoá, nhất là nền kinh tế tri thức đòi hỏi giáo dục phải đào tạo hàng loạt người lao động có trình độ cao Giáo dục đại học phải chuyển từ đào tạo tinh hoa sang giáo dôc đại chúng Mọi người phải được tiếp cận với nền giáo dục đại học dưới mọi hình thức để tham gia vào nền sản xuất xã hội Nền giáo dục tinh hoa không thể đáp ứng được yêu cầu của nền sản xuất mới nên người ta đã mở ra rất nhiều trường cao đẳng và đại học Tuy vậy, người ta vẫn duy trì một bộ phận giáo dục tinh hoa chất lượng cao để phát triển khoa học kĩ thuật theo hướng hàn lâm

2.Giáo dục vì nguồn nhân lực (education for manpower)

Nền sản xuất xã hội càng phát triển (yêu cầu về sản xuất, kinh doanh, dịch vụ…ngày càng tăng) thì nhu cầu nhân lực của xã hội càng tăng cả về số lượng lẫn chất lượng Ban đầu, đòi hỏi về trình độ đào tạo của lực lượng lao động chưa cao, một bộ phận của hệ thống giáo dục đảm nhiệm chức năng giảng dạy các kiến thức trực tiếp phục vụ sản xuất, dịch vụ, kinh doanh, quản lí Hiện tượng này đã diễn ra nhanh chóng trong các nước công nghiệp phương Tây Giai đoạn này là sự kết hợp hài hoà giữa giáo dục tinh hoa và giáo dục vì nguồn nhân lực.

Khi nền sản xuất xã hội càng hiện đại, đòi hỏi lực lượng tham gia lao động có trình độ ngày càng cao, những cơ sở đào tạo trực tiếp dần dần mất tác dụng Lúc này, giáo dục đại học trở thành cơ sở đào tạo lực lượng lao động chính cho xã hội Nguồn nhân lực chất lượng cao này sẽ tham gia vào các ngành sản xuất chính của xã hội như điện tử viễn thông, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học, công nghệ na nô, công nghệ vũ trụ,…và tạo ra của cải vật chất chính cho xã hội Để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực, hàng loạt các trường đại học,

Trang 3

cao đẳng được mở ra cả công lập và ngoài công lập và đào tạo với nhiều phương thức khác nhau Với quan điểm đào tạo này đã giúp cho nhiều nước tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành công.

3.Giáo dục đại chúng (Education for mass)

Khi xã hội đạt tới một mức độ phát triển nhất định về kinh tế-xã hội, đời sống vật chất

và tinh thần của đại đa số nhân dân được cải thiện, nhận thức về giá trị giáo dục được nâng cao, nhu cầu được hưởng thụ giáo dục đại học của người dân trở thành phổ biến Mọi người dân đều có nhu cầu học tập nâng cao trình độ, một mặt nhằm thoả mãn nhu cầu văn hoá tinh thần của cá nhân, một mặt nhằm đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực của xã hội Những tiến

bộ của khoa học kĩ thuật, sự phát triển sản xuất, dịch vụ, kinh doanh đòi hỏi đội ngũ nhân lực đông đảo, có trình độ ngày càng cao tạo nên trong xã hội những đòi hỏi rộng lớn về giáo dục

ở trình độ cao Trước tình hình đó đã tạo ra yêu cầu phải có một nền giáo dục đại chúng (kể

cả giáo dục đại học) nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho đông đảo nhân dân, để tất cả mọi người được học tập, phát huy nhân cách của mình và đáp ứng nhu cầu to lớn của thị trường nhân lực trong một xã hội phát triển.

Trên thế giới, nhiều nước đã có những đặc điểm của nền giáo dục đại học đại chúng Tiêu biểu là hệ thống giáo dục của Mĩ Giáo dục đại chúng thể hiện ở quy mô giáo dục rộng lớn, chất lượng giáo dục đa dạng, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục phát triển tự do, linh hoạt nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu xã hội Mọi người dân đều có quyền học tập dưới mọi hình thức phụ thuộc vào điều kiện của từng cá nhân Nhà nước có nhiều chính sách khuyến khích người dân học tập nâng cao trình độ học vấn cũng như nghề nghiệp.

Giáo dục đại chúng đang là một xu thế tất yếu trong quá trình phát triển của xã hội hiện nay Đây là một xu thế giáo dục có khả năng đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực ngày càng cao

cả về số lượng lẫn chất lượng của xã hội.

4.Giáo dục trong một xã hội học tập (Education in learning society)

Những năm cuối thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI, tốc độ phát triển khoa học kĩ thuật và công nghệ nhanh chưa từng có trong lịch sử loài người Những khả năng của khoa học và công nghệ, khả năng sản xuất và kinh doanh cũng như quản lí xã hội phát triển vượt bậc ngoài sức tưởng tượng của mỗi người Nhân loại đứng trước nhiều cơ hội và cũng phải đối mặt với nhiều thách thức Làm thế nào để phát huy và khai thác được những cơ hội và ứng phó với những thách thức? Nhân loại đã nhận thức được rằng: chỉ có phát triển giáo dục mới

có thể giải quyết một cách triệt để những vấn đề nêu trên Giáo dục là phương thức chính yếu

Trang 4

để mang lại sự phát triển nhân cách tốt đẹp, thiết lập mối quan hệ cần có giữa các cá nhân, các cộng đồng, các dân tộc và các quốc gia Nền giáo dục này phải là nền giáo dục đại chúng phục vụ cho tất cả mọi người trong xã hội Không những thế, nền giáo dục này phải đáp ứng nhu cầu học tập liên tục và suốt đời của mọi người Bất cứ ai, dù ở đâu, thời điểm nào cũng

có thể học tập theo khả năng của mình để phát triển nhân cách, tìm kiếm việc làm và thăng tiến…Một xã hội như vậy gọi là xã hội học tập (learning society) Chủ thuyết xã hội học tập

có thể xem là triết lí giáo dục của thời đại ngày nay.

Trong xã hội ngày nay đòi hỏi mỗi con người phải học liên tục mới có thể tồn tại được Nhà trường trong khi đóng vai trò chính là truyền thụ kiến thức và rèn luyện con người theo các chương trình quy định còn được bổ trợ về mọi mặt bởi tất cả các thành phần của đời sống xã hội, của mọi thiết chế xã hội, của môi trường lao động, giải trí, nghỉ ngơi…Giáo dục chuyển từ chỗ dựa vào cách tiếp cận “dạy” là chính sang cách tiếp cận “học” là chính, phát huy vai trò chủ động của người học để họ trực tiếp hấp thụ kiến thức của nhân loại Xã hội học tập trước hết phải bảo đảm quyền được giáo dục cho mọi người Khó có thể kể ra trên thế giới nước nào đã xây dựng được một xã hội học tập, song đây sẽ là xu hướng phát triển giáo dục của toàn nhân loại.

Nền giáo dục của thời đại mới phải xuất phát từ 4 trụ cột mà UNESCO đã nêu ra là: học

để biết, học để làm, học để khẳng định mình và học để biết cách cùng chung sống (Learning

to know, leerning to do, learing to be, learning to live together) Hệ thống giáo dục mới phải phục vụ nguyên tắc học tập suốt đời của mọi người, phải kết hợp giữa giáo dục trong nhà trường và giáo dục ngoài nhà trường Đó là quan điểm giáo dục đại chúng, trong đó hệ thống giáo dục ngoài nhà trường phải được phát triển rộng lớn và mạnh mẽ Hệ thống này còn phải gắn chặt với hệ đào tạo và đào tạo lại căn cứ vào yêu cầu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các diễn biến của hoạt động hằng ngày Phương thức giáo dục và đào tạo phải dựa vào khả năng tự học của học viên vào thành quả của công nghệ thông tin.

Câu 2 Hãy làm rõ xu hướng phát triển của Giáo dục đại học hiện nay ? Liên hệ với thực tiễn Việt Nam hoặc nhà trường nơi Anh/Chị công tác ?

Có 03 Xu hướng phát triển giáo dục đại học hiện nay

Thứ nhất, Đa dạng hoá các mô hình nhà trường và phương thức đào tạo

Để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng một xã hội học tập, chính phủ các nước đã phát triển giáo dục đại học theo hướng đa dạng hoá mô hình nhà trường và phương thức đào tạo Trên thế giới hiện nay tồn tại rất nhiều mô hình trường đại

Trang 5

học Trường công lập vẫn là loại hình trường phổ biến được tổ chức và vận hành dưới sự quản lí của nhà nước Ngoài hệ thống trường công lập còn có các trường tư thục, bán công, trường liên doanh với nước ngoài, với các tổ chức xã hội, công ti, doanh nghiệp, trường cao đẳng cộng đồng…

Giáo dục đại học là một nền sản xuất đặc thù Nền sản xuất này được kết hợp chặt chẽ bởi 3 yếu tố: giáo dục, nghiên cứu khoa học và sản xuất Đại chúng hoá và phổ cập giáo dục đại học chỉ có thể thực hiện bằng các con đường: Thứ nhất, tăng cường chất lượng của các trường đại học công lập Thứ hai, phát triển hệ thống các trường đại học ngoài công lâp (dân lập, tư thục…) Thứ ba, phát huy hệ thống đại học mở và đào tạo từ xa Thứ tư, xây dựng một hệ thống giáo dục đại học liên thông, chuyển đổi để tạo nên một sức mạnh tổng hợp, liên hoàn.

Đa dạng hoá các loại hình đào tạo đại học đang được chính phủ nhiều nước khuyến khích phát triển Ngoài hình thức đào tạo chính quy còn có rất nhiều hình thức khác như đào tạo tại chức, từ xa, đào tạo theo địa chỉ, đào tạo tích luỹ tín chỉ, đào tạo liên thông , đào tạo lại, đào tạo trong quá trình làm việc…Cách thức đào tạo cũng hết sức linh hoạt, học buổi tối, học vào ngày nghỉ, học theo đợt, học dựa vào công nghệ thông tin…Mỗi hình thức đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng của nó nhưng đào tạo chính quy vẫn là hình thức đào tạo cơ bản nhất để đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao Đó chính là sự kết hợp giữa quan điểm đào tạo tinh hoa và đào tạo vì nguồn nhân lực.

Giáo dục đại học sẽ được mở ra hết sức rộng rãi và phổ biến nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân và nhu cầu nguồn nhân lực của xã hội Đào tạo theo phương thức tích luỹ tín chỉ cũng rất có lợi cho người học Họ có thể học bất cứ lúc nào tuỳ theo khả năng và điều kiện của bản thân và có thể học nhiều bằng đại học khác nhau Các hình thức đào tạo liên thông cũng có rất nhiều ưu điểm, nhất là việc tạo cơ hội cho người học nâng cao trình độ chuyên môn của mình theo một nghề nghiệp mà họ gắn bó, yêu thích…

Thứ hai, Gắn kết quá trình đào tạo với nghiên cứu khoa học và quá trình sản xuất, kinh doanh trong thực tiễn

Các trường đại học ngày nay không chỉ có chức năng đào tạo mà còn có nhiều chức năng khác như nghiên cứu khoa học, tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh, kết hợp với các cơ sở sản xuất, kinh doanh để nâng cao chất lượng đào tạo, tham gia đào tạo lại… Đành rằng chức năng đào tạo là chức năng quan trọng số 1 của các trường đại học Nhưng xu thế phát triển của giáo dục đại học trên thế giới là gắn quá trình đào tạo với nghiên cứu khoa học

Trang 6

Cỏc trường đại học cú đội ngũ cỏn bộ khoa học kĩ thuật đụng đảo, cú trỡnh độ cao, đú là lực lượng nghiờn cứu khoa học cú hiệu quả và chất lượng Ngoài lực lượng cỏn bộ giảng dạy cũn cú đụng đảo sinh viờn, học viờn cao học, nghiờn cứu sinh cũng cú thể tham gia nghiờn cứu tạo ra cỏc sản phẩm khoa học nhất định

Thực tiễn cho thấy cỏc trường đại học đó cú nhiều cống hiến trong nghiờn cứu khoa học Nhiều cỏn bộ giảng dạy trường đại học trờn thế giới nhận những giải thưởng nghiờn cứu khoa học cao quý như giải Nụben Cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu trong cỏc trường đại học đó gúp phần tớch cực thỳc đẩy khoa học kĩ thuật phỏt triển Việc nghiờn cứu khoa học trong cỏc trường đại học cú rất nhiều lợi ớch, trong đú ngoài lợi ớch phỏt triển khoa học cũn cú một giỏ trị trực tiếp đú là nõng cao trỡnh độ cỏn bộ, nõng cao chất lượng đào tạo…Hai hoạt động đào tạo và nghiờn cứu khoa học hỗ trợ mật thiết cho nhau, tương tỏc với nhau để nõng cao vai trũ, vị thế của nhà trường đại học trong xó hội, nhất là vai trũ phỏt triển văn hoỏ, khoa học kĩ thuật, cụng nghệ, phỏt triển kinh tế xó hội.

Quỏ trỡnh đào tạo trong cỏc trường đại học cũn phải liờn kết với quỏ trỡnh sản xuất, kinh doanh, phục vụ cho quỏ trỡnh sản xuất, kinh doanh của xó hội Việc liờn kết này vừa làm cho quỏ trỡnh đào tạo gắn với thực tiễn, làm cho quỏ trỡnh đào tạo cập nhật được với sự tiến bộ của sản xuất xó hội, làm cho lớ thuyết gắn với thực hành, vừa phỏt huy vai trũ của cỏc cơ sở sản xuất trong quỏ trỡnh đào tạo Nhà trường cú thể mời cỏc chuyờn gia, kĩ sư, thợ bậc cao ở cỏc cơ sở sản xuất tham gia vào quỏ trỡnh đào tạo, làm cho quỏ trỡnh đào tạo hiệu quả và thiết thực hơn Việc gắn kết quỏ trỡnh đào tạo với hoạt động sản xuất, kinh doanh trong xó hội là một xu hướng tiờn tiến trong quỏ trỡnh đào tạo hiện nay

Chớnh quỏ trỡnh kết hợp này mà sinh viờn sau khi đào tạo ra trực tiếp lao động sản xuất khụng bị bở ngỡ, lỳng tỳng, họ cú thể bắt nhịp ngay vào cụng việc của mỡnh Đõy là vấn đề chỳng ta cần phải học tập và phỏt huy trong quỏ trỡnh đào tạo ở cỏc trường đại học và dạy nghề hiện nay Nhiều ngành kĩ thuật hiện nay, sinh viờn của chỳng ta đào tạo ra khụng thể vào làm ngay được mà phải đào tạo lại trong thời gian đầu học việc Nguyờn nhõn là trong quỏ trỡnh đào tạo của chỳng ta chưa gắn với quỏ trỡnh sản xuất Sinh viờn ớt được thực hành nghề nghiệp của mỡnh và hầu như khụng gắn những lớ thuyết học được với sản xuất thực tiễn

Thứ ba, Quốc tế hoỏ giỏo dục đại học

Hiện nay có nhiều nớc thực hiện quốc tế hoá giáo dục đại học Quá trình thực hiện quốc tế hoá rất đa dạng nh liên kết đào tạo với nhiều trờng đại học nổi tiếng, nhờ đào tạo cán bộ, mời thỉnh giảng, nhập khẩu nội dung, chơng trình đào tạo, mời cơ quan đánh giá ngoài kiểm định, đánh giá chất lợng theo tiêu chuẩn quốc tế, tự kiểm định, đánh giá theo tiêu chuẩn quốc tế…Nhiều nớc trên

Trang 7

thế giới đã tách quá trình đào tạo và quá trình đánh giá thành hai quỏ trỡnh riêng biệt nhau Cơ quan

đánh giá hoàn toàn độc lập với cơ quan đào tạo Nhiều trờng hợp, các trờng đại học danh tiếng đã mời các cơ quan đánh giá, kiểm định có uy tín trên thế giới tiến hành kiểm định chất l ợng đào tạo

Ví dụ, một số trờng đại học Xinhgapo đã mời tổ chức kiểm định đánh giá của Hoàng gia Anh sang

đánh giá độc lập…

Năm 1995, Liên minh Toàn cầu về Chuyển đổi Giáo dục Quốc gia (GATE) đợc thành lập tập trung vào giải quyết các vấn đề có liên quan đến chất lợng và việc chuyển đổi giáo dục giữa các quốc gia GATE đã soạn thảo một số nguyên tắc và quy ớc hoạt động thực tiễn mà các cơ sở giáo dục và đào tạo đại học nên dựa vào để xây dựng một quy trình tuân thủ bằng pháp lí theo những nguyên tắc trên Mặc dù các nguyên tắc đợc sử dụng rộng rãi và đợc quan tâm nhiều trong dịch vụ xác nhận, song việc tiếp nhận của dịch vụ vẫn còn thấp do nhiều ngời đặt vấn đề đây là một tổ chức mang tính thơng mại

Trong thực tế, nhiều trờng gửi yêu cầu cung cấp thông tin đến GATE chứ không phải là yêu cầu xem xét, đánh giá chuyển đổi giáo dục quốc gia trên phạm vi rộng về chất lợng giảng dạy và các chuẩn của trờng Vì vậy, có thể đề xuất ra loại dịch vụ nhằm đáp ứng những nhu cầu nói trên Dịch

vụ này sẽ đa lại những lợi ích lớn lao cho các trờng muốn đóng góp vai trò quan trọng vào bối cảnh quốc tế Dịch vụ này đặc biệt quan trọng đối với những nớc không có cơ quan đảm bảo chất lợng hay cơ quan kiểm định có uy tín quốc tế cao

Cách đây vài năm, Hiệp hội các trờng Đại học Châu Âu (Association of European Universities)

đa ra một dịch vụ kiểm định đối với các thành viên hiệp hội là CRE Dịch vụ này rất phổ biến khi các trờng đại học lựa chọn phạm vi kiểm định phù hợp nhất với nhu cầu của họ Việc kiểm định trở thành một hoạt động cố vấn quản lí đợc các chuyên gia quản lí về học thuật thực hiện Cũng giống

nh GATE, CRE hoạt động dựa trên cơ sở tự chi trả chi phí, (ngõn sỏch thu từ hoạt động kiểm định, đỏnh giỏ do cỏc cơ sở đào tạo thuờ)

IQR là chơng trình quản lí nhà trờng trong giáo dục đại học của OECD Hiện nay cùng với CRE và Hiệp hội Hợp tác Kiểm định đa ra kiểm định các quy trình và tiến bộ của một trờng đại học trong quá trình quốc tế hoá Cho đến nay hoạt động này vẫn tiếp tục đợc phát triển và đem lại nhiều lợi ích

Hiện nay nhiều chính phủ đang thúc đẩy sự thừa nhận song phơng về chất lợng đào tạo và hoạt

động các cơ quan đảm bảo chất lợng Hiệp ớc Washington tạo ra sự thừa nhận lẫn nhau trong các hoạt động của 8 cơ quan kiểm định và tổ chức mạng lới quốc tế bảo đảm chất lợng trong giáo dục

đại học Công nhận song phơng cũng đang vấp phải những thách thức và nhiều vấn đề đặt ra Ví dụ, cơ quan chuyên đánh giá chơng trình và cơ quan khác đánh giá cơ sở giáo dục đào tạo có công nhận các hoạt động của nhau không? Hoặc giải quyết nh thế nào khi các cơ sở giáo dục và đào tạo độc lập không sẵn sàng cấp tín chỉ cho một sinh viên học tập ở một trờng khác có kết quả đánh giá của cùng một cơ quan kiểm định về chất lợng đào tạo…

Việc quốc tế hoá giáo dục đại học không chỉ là phơng thức nâng cao chất lợng đào tạo, học hỏi lẫn nhau, giúp đỡ nhau mà còn nhằm vào việc thực hiện toàn cầu hoá lực lợng lao động tiến tới toàn cầu hoá mọi mặt của cuộc sống xã hội

Ngời ta lo ngại việc quốc tế hoá giáo dục đại học sẽ ảnh hởng quá trình giữ gìn bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc Việc lo ngại là có lí nhng không thể ngăn cản đợc xu thế này Bất cứ quá trình nào cũng có hai mặt của nó là tích cực và tiêu cực, nh cơ chế thị trờng chẳng hạn Vấn đề đặt ra là chúng

Trang 8

ta chọn con đờng nào có lợi nhiều nhất, tìm phơng thức phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực Đó mới là cách phát triển khôn ngoan, vừa hội nhập quốc tế, vừa giữ gìn đợc bản sắc của dân tộc mỡnh

Phương hướng phỏt triển giỏo dục đại học Việt Nam

Bớc vào thế kỷ XXI nền giáo dục đại học Việt Nam trong xu thế toàn cầu hoá gặp phải sự cạnh tranh không ngang sức, đòi hỏi phải có lộ trình hội nhập, đó là thách thc không nhỏ và phải hớng

đến đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực chất lợng cao của từng địa phơng, khu vực, lĩnh vực, trình độ phát triển trong mỗi giai đoạn phát triển của đất nớc trong quá trình hội nhập với nền giáo dục đại học khu vực và thế giới

Trong quá trình hội nhập, Đảng và Nhà nớc phát triển nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa, thực hiện CNH-HĐH đất nớc tạo cơ hội lớn cho giáo dục đại học nớc ta Từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nhà nớc bao cấp toàn bộ, chuyển sang kinh tế thị trờng đòi hỏi giáo dục đại học Việt Nam phải đổi mới một cách căn bản cách tiếp cận kinh tế - xã hội đối với quá trình đào tạo: tính đến các nguồn đầu t, chi phí và hiệu quả đầu t; mối tơng quan giữa lợi ích và nghĩa vụ của Nhà nớc, của xã hội và cộng đồng, của nhà đầu t, của cơ sở đào tạo, của ngời học; việc thực hiện chính sách xã hội; việc xem đào tạo nguồn nhân lực chất lợng cao là yếu tố quyết định quá trình phát triển kinh tế- xã hội Muốn vậy, giáo dục đại học Việt Nam tiến hành đổi mới mạnh mẽ chơng trình đào tạo theo hớng đa dạng hoá, chuẩn hoá, hiện đại hóa, tạo điều kiện để mau chóng tiếp thu có chọn lọc những chơng trình đào tạo của các nớc phát triển về khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ, phù hợp với yêu cầu của đất nớc, phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh tế- xã hội nói chung, của từng ngành, từng lĩnh vực, từng vùng, từng địa phơng nói riêng

Các trờng đại học quốc gia, các trờng đại học trọng điểm, các ngành đào tạo thuộc các lĩnh vực mũi nhọn của khoa học- công nghệ phải đi đầu trong việc đổi mới mục tiêu, nội dung, chơng trình và phơng pháp giáo dục Muốn vậy, cần chỳ ý thiết kế các chơng trình chuyển tiếp, các chơng trình đa giai đoạn và áp dụng quy trình đào tạo mềm dẻo nhằm tăng cơ hội học đại học cho mọi ng

-ời, nhất là những ngời ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa

BộGiỏo dục và Đào tạo đó ban hành chơng trình khung cho đại học đó tiến hành từ năm học 2001- 2002 và cho đào tạo thạc sĩ trong năm học 2002- 2003 Bên cạnh đó các trờng cao đẳng và đại học cần triển khai có kế hoạch, đạt chất lợng và hiệu quả việc đào tạo các môn học theo hệ thống tín chỉ nhằm phát huy vai trò tự học độc lập của sinh viên trên cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại hiện có của từng trờng phục vụ cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo Tuy nhiên, nhiều trờng đại học còn rất lúng túng vì không hiểu sâu sắc bản chất của học chế tín chỉ và cách xây dựng học chế tín chỉ này,

từ đó một số trờng đối phó bằng các giải pháp sửa cách tính toán, quy đổi khối lợng chơng trình một cách máy móc Bản chất học chế tín chỉ là cá nhân hoá việc học tập trong một nền giáo dục cho số

đông; do đó, một yếu tố cần nhấn mạnh khi chuyển sang học chế tín chỉ là đổi mới phơng pháp dạy học và điều kiện cơ sở vật chất để tăng thời gian tự học của sinh viên Tuy nhiờn, trong thực tiễnnhiều trờng cao đẳng, đại học lại ít chú ý đến điều đó

Đổi mới chế độ thi cử, chế độ tuyển sinh, xây dựng phơng pháp, quy trình và hệ thống đánh giá chất lợng đào tạo, chất lợng giảng viên, chất lợng sinh viên một cách khách quan chính xác Đây

Trang 9

là một biện pháp cơ bản khắc phục tính chất đối phó với thi cử của nền giáo dục hiện nay, thúc đẩy việc lành mạnh hoá quá trình giáo dục không chỉ ở trình độ giáo dục đại học, cao đẳng mà cả ở các cấp bậc giáo dục phổ thông Đặc biệt quan tâm đổi mới phơng pháp đào tạo trong các trờng s phạm, trớc hết là hai trờng đại học s phạm trọng điểm ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đổi mới phơng pháp dạy và học ở các trờng phổ thông

Phấn đấu bảo đảm các trờng đều có th viện tốt, thờng xuyên đợc cập nhật, có đủ giáo trình, tài liệu tham khảo cho sinh viên và cho giảng viên Hiện đại hoá trang thiết bị giảng dạy và học tập, phòng thí nghiệm, cơ sở thực hành Theo nhu cầu, các trờng đại học có thể tổ chức giảng dạy trực tiếp bằng tiếng nớc ngoài cho một số môn học; đảm bảo cho sinh viên sau khi tốt nghiệp sử dụng tốt máy tính để thu thập và xử lý thông tin và ít nhất một ngoại ngữ để làm việc và giao tiếp, nâng cao năng lực hội nhập quốc tế

Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp CNH- HĐH và xu thế toàn cầu hoá hiện nay là mục tiêu u tiên trong chiến lợc phát triển giáo dục vài thập kỷ tới và đang là vấn đề

đợc xã hội quan tâm, nhất là sự gắn kết giữa đào tạo nhân lực với việc làm Hiện t ợng d thừa lao

động ở một số ngành là hậu quả của việc đào tạo không đáp ứng đợc nhu cầu của thị trờng lao động, chơng trình đào tạo đã quá lỗi thời Chính vì vậy, để khắc phục điều đó cần phải đổi mới nội dung, chơng trình đào tạo nhân lực gắn với việc làm

Tuy nhiên, hệ thống đào tạo nguồn nhân lực ở nớc ta đang đứng trớc những gay cấn sau: Thứ nhất, căn cứ để đào tạo là nhu cầu về nhân lực, nhng công tác dự báo nhu cầu và kế hoạch hoá đào tạo cha làm tốt; quan hệ giữa đào tạo, sử dụng và việc làm thiếu sự gắn bó;

Thứ hai, năng lực đào tạo nhân lực của hệ thống giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học nói chung khá hạn chế, cha đáp ứng đợc những yêu cầu của thị trờng lao động, đặc biệt ở những khu vực, những ngành nghề có ứng dụng công nghệ tiên tiến, cha đáp ứng đợc những yêu cầu về phong cách làm việc công nghiệp, hiện đại; cách bố trí mạng lới cơ sở đào tạo có nhiều điều không hợp lý, khó đáp ứng yêu cầu về việc làm

Thứ ba là thiếu một hệ thống thông tin về đào tạo nhân lực và việc làm, để có thể cung cấp thờng xuyên cho mọi ngời (bao gồm nhà nớc, xã hội, nhà trờng, ngời học, ngời sử dụng nhân lực ) những thông tin đầy đủ, kịp thời về những biến động của thị trờng lao động để mọi ngời chủ động có những biện pháp điều chỉnh trong phạm vi quyền hạn, trách nhiệm của mình, kể cả sự tự điều chỉnh của bản thân ngời lao động, để cung - cầu phù hợp nhau

Thứ t là chính sách đãi ngộ cha thoả đáng, nhất là đối với nhân lực công tác ở vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là giáo viên nên ít hấp dẫn nhân lực đến, mặc dù yêu cầu về trình độ của nhân lực chỉ ở mức bình thờng, không phải ở mức cao

Thứ năm là nhìn chung, những yếu kém trên đợc phát hiện khá sớm, nhng tình hình vẫn không đợc cải thiện bao nhiêu, do cha chú trọng công tác nghiên cứu để tìm giải pháp

Thứ sáu là xã hội và ngời học còn cha đánh giá đúng vai trò, vị trí của đào tạo nghề nghiệp, vẫn còn có tâm lý chỉ thích học đại học Mặt khác thiếu sự hớng dẫn cho xã hội, t vấn cho ngời học

về các ngành nghề, các dự báo việc làm để họ lựa chọn con đờng học phù hợp với khả năng

Tóm lại: Muốn phát triển giáo dục đại Việt Nam trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế

thị trờng, đòi hỏi thực hiện chiến lợc hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá về giáo dục đại học Bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đòi hỏi phải có chiến lợc hợp tác quốc tế tích cực và mạnh mẽ về giáo dục nói chung và giáo dục đại học, cao đẳng nói riêng để trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ và bản sắc dân tộc, tận dụng các cơ hội, khai thác một cách hợp lý nguồn lực

Trang 10

giáo dục nớc ngoài; qua đó tiếp nhận thành quả khoa học - công nghệ và kinh nghiệm quản lý giáo dục trong quá trình hội nhập; đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của nền giáo dục đại học nớc

ta với nền giáo dục đại học trong khu vực và trên thế giới

- Giỏo dục ĐH vỡ nguồn nhõn lực ở Việt Nam: Ở nước ta với đặc thự xó hội đang tồn tại nhiều

nền kinh tế đan xen nhau (kinh tế nụng nghiệp, kinh tế cụng nghiệp và bắt đầu hỡnh thành một bộ phận của nền kinh tế tri thức) vỡ thế giỏo dục đại học cũng đan xen nhau giữa giỏo dục tinh hoa và giỏo dục vỡ nguồn nhõn lực Tuy vậy, giỏo dục đại học đang chuyển dần sang vỡ nguồn nhõn lực là chớnh Bằng chứng là nhiều trường đại học được mở ra cả cụng lập và ngoài cụng lập, cả trung ương

và cỏc khu vực, cỏc địa phương Tỉ lệ sinh viờn trờn một vạn dõn ngày càng cao Dự kiến đến năm

2010 tỉ lệ sinh viờn trờn một vạn dõn ở nước ta là 200 Đõy là một tỉ lệ cũn rất thấp so với khu vực

và thế giới Để tiến hành cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoỏ thành cụng và xõy dựng bảo vệ Tổ quốc chỳng ta phải nõng tỉ lệ sinh viờn đại học cao hơn nữa, tạo ra một cơ cấu lao động hợp lớ về cỏc loại trỡnh độ, cỏc vựng miền, cỏc ngành sản xuất Cỏc trường đại học phải trở thành nơi đào tạo nguồn nhõn lực chớnh cho xó hội

GDĐH đại chỳng ở Việt Nam:

- Tư tưởng giỏo dục đại chỳng xuất hiện khỏ sớm ở Việt Nam Ngay trong đề cương văn hoỏ của Đảng ta những năm 40 của thế kỉ trước đó đề cập đến việc xõy dựng một nền văn hoỏ đại chỳng Ngày nay trong sự nghiệp cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoỏ đất nước việc thực hiện tư tưởng giỏo dục đại chỳng càng cú cơ hội phỏt triển Hàng loạt trường đại học, cao đẳng đó được mở ra để đỏp ứng nhu cầu học tập của nhõn dõn và nhu cầu nguồn nhõn lực của xó hội Theo con số thống kờ năm

2007 cả nước ta cú 304 trờng đại học và cao đẳng Đại học cú 130 trường, cao đẳng cú 174 trường

Cú 2 trường đại học quốc gia và một số đại học vựng cú cỏc trường đại học thành viờn Vớ dụ, Đại học Quốc gia Hà Nội cú 4 trường đại học thành viờn, Đại học Quốc gia TP Hồ Chớ Minh cú 5 trường đại học thành viờn, Đại học Thỏi Nguyờn cú 7 trường đại học thành viờn và 1 trường cao đẳng, Đại học Huế cú 7 trường đại học thành viờn, Đại học Đà Nẵng cú 6 trường đại học thành viờn Đối với trường em cụng tỏc:

Cõu 3 Làm thế nào để đảm bảo chất lượng giỏo dục đại học ở Việt Nam

Chiến lợc hợp tác quốc tế về giáo dục phải theo hớng tăng cờng quản lý nhà nớc, đảm bảo lợi ích hợp pháp của ngời học, giảm thiểu tổn thất về ngoại tệ và chất xám; tập trung vào một số nội dung nhằm giải quyết các vấn đề đang đặt ra về du học, về liên kết đào tạo và về việc cho cơ sở giáo dục nớc ngoài thành lập các chi nhánh trên lãnh thổ Việt Nam góp phần thúc đẩy cải cách giáo dục

Cụ thể là:

Ngày đăng: 04/06/2017, 08:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w