1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÀI GIẢNG KINH DOANH QUỐC TẾ

157 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI GIẢNG KINH DOANH QUỐC TẾ BÀI GIẢNG KINH DOANH QUỐC TẾ BÀI GIẢNG KINH DOANH QUỐC TẾ BÀI GIẢNG KINH DOANH QUỐC TẾ BÀI GIẢNG KINH DOANH QUỐC TẾ BÀI GIẢNG KINH DOANH QUỐC TẾ BÀI GIẢNG KINH DOANH QUỐC TẾ BÀI GIẢNG KINH DOANH QUỐC TẾ BÀI GIẢNG KINH DOANH QUỐC TẾ BÀI GIẢNG KINH DOANH QUỐC TẾ

Trang 1

BÀI GIẢNG KINH DOANH QUỐC TẾ - 2019

MỤC LỤC

Chương 1: KINH DOANH QUỐC TẾ TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA (6,2) 4

1.1 Toàn cầu hóa 4

1.1.1 Khái niệm về toàn cầu hóa 4

1.1.2 Nội dung của toàn cầu hóa 5

1.1.3 Các nhân tố thúc đẩy toàn cầu hóa 11

1.2 Khái quát về kinh doanh quốc tế 14

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của hoạt động kinh doanh quốc tế 14

1.2.2 Các hoạt động kinh doanh quốc tế 17

1.2.3 Chủ thể của hoạt động kinh doanh quốc tế 18

1.2.4 Mục đích tiến hành hoạt động kinh doanh quốc tế 18

1.3 Cơ hội và thách thức của toàn cầu hóa đối với hoạt động kinh doanh quốc tế 21

1.3.1 Cơ hội 21

Chương 2: MÔI TRƯỜNG KINH DOANH QUỐC TẾ (6,1) 23

2.1 Khái niệm và đặc điểm của môi trường kinh doanh quốc tế 23

2.1.1 Khái niệm về môi trường kinh doanh quốc tế 23

2.1.3 Sự cần thiết của việc tìm hiểu về môi trường kinh doanh quốc tế 25

2.2 Những yếu tố thuộc môi trường kinh doanh quốc tế 27

2.2.1 Môi trường chính trị 27

2.2.2 Môi trường pháp luật 30

2.2.4 Môi trường xã hội 42

2.2.5 Môi trường nhân khẩu học 45

2.2.6 Môi trường địa lý kinh tế 46

2.2.7 Môi trường văn hóa 47

Chương 3: CHIẾN LƯỢC KINH DOANH QUỐC TẾ VÀ CẤU TRÚC TỔ CHỨC

Trang 2

CỦA CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH QUỐC TẾ (5,2) 55

3.1 Khái niệm và vai trò của chiến lược kinh doanh quốc tế 55

3.1.1 Khái niệm về chiến lược kinh doanh quốc tế 55

3.1.2 Vai trò của chiến lược kinh doanh quốc tế 55

3.2 Các yếu tố ảnh hưởng chiến lược kinh doanh quốc tế 56

3.3 Các loại hình chiến lược kinh doanh quốc tế 59

3.3.1 Chiến lược quốc tế 60

3.3.2 Chiến lược đa nội địa 62

3.3.3 Chiến lược toàn cầu 65

3.3.4 Chiến lược xuyên quốc gia 67

3.4 Cấu trúc tổ chức của doanh nghiệp kinh doanh quốc tế 69

3.4.1 Mô hình cấu trúc theo chức năng 69

3.4.2 Mô hình cấu trúc theo sản phẩm 70

3.4.3 Mô hình cấu trúc theo khu vực địa lý 71

3.4.4 Mô hình cấu trúc theo sản phẩm – khu vực địa lý 73

3.5 Nguyên tắc quản lý 74

3.5.1 Quản lý tập trung 74

3.5.2 Quản lý phân quyền 74

Chương 4: THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ (8,2) 77

4.1 Thâm nhập thị trường thông qua thương mại quốc tế 78

4.1.1 Xuất khẩu 78

4.1.2 Nhập khẩu 82

4.1.3 Mua bán đối lưu 84

4.1.4 Thuê ngoài 87

4.2.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài 91

4.2.2 Đầu tư gián tiếp 92

4.3 Thâm nhập thị trường thông qua hợp đồng 94

4.3.1 Hợp đồng mua bán giấy phép 94

4.3.2 Hợp đồng nhượng quyền thương mại 95

Trang 3

4.3.3 Hợp đồng chìa khóa trao tay 96

4.3.4 Hợp đồng cho thuê 97

4.4 Cơ sở lựa chọn phương thức thâm nhập thị trường quốc tế 97

4.4.1 Những nhân tố khách quan từ môi trường kinh doanh 98

4.4.2 Những nhân tố chủ quan từ phía doanh nghiệp 98

Chương 5: QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP KINH DOANH QUỐC TẾ (6,1) 99

5.1 Quản trị chuỗi cung ứng 99

5.1.1 Khái niệm về chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng 99

5.1.2 Vai trò của quản trị chuỗi cung ứng 101

5.1.3 Nội dung của quản trị chuỗi cung ứng quốc tế 101

5.2 Quản trị marketing quốc tế 103

5.2.1 Khái niệm về quản trị marketing quốc tế 103

5.2.2 Vai trò của quản trị marketing quốc tế 105

5.2.3 Nội dung của quản trị marketing quốc tế 105

5.3 Quản trị tài chính trong kinh doanh quốc tế 113

5.3.1 Khái niệm về quản trị tài chính trong kinh doanh quốc tế 113

5.3.2 Vai trò của quản trị tài chính trong kinh doanh quốc tế 114

5.3.3 Nội dung của quản trị tài chính trong kinh doanh quốc tế 114

5.4 Quản trị nguồn nhân lực quốc tế 115

5.4.2 Vai trò của quản trị nguồn nhân lực quốc tế 116

5.4.3 Chính sách nhân sự quốc tế 116

5.4.3.3 Chính sách đa tâm: 117

5.4.3.4 Chính sách địa tâm: 117

5.4.4 Đào tạo và phát triển đội ngũ quản lý 118

5.4.5 Đánh giá hiệu quả công việc của nhân viên 118

5.4.6 Chính sách lương 122

.Chương 6 ĐẠO ĐỨC KINH DOANH VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH

Trang 4

NGHIỆP KINH DOANH QUỐC TẾ (4,1) 122

6.1 Đạo đức kinh doanh 123

6.1.1 Khái niệm về đạo đức kinh doanh 123

6.1.2 Những chuẩn mực đánh giá đạo đức kinh doanh 124

6.1.3 Vai trò của đạo đức kinh doanh đối với doanh nghiệp kinh doanh quốc tế 136

6.2 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp kinh doanh quốc tế 142

6.2.1 Khái niệm và bản chất của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 142

6.2.2 Vai trò của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với doanh nghiệp

kinh doanh quốc tế 148

6.3 Mối quan hệ giữa đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội của doanh

nghiệp 149

Chương 1: KINH DOANH QUỐC TẾ TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA (6,2) 1.1 Toàn cầu hóa 1.1.1 Khái niệm về toàn cầu hóa Trong quá trình toàn cầu hóa và khu vực hóa, nổi lên xu hướng liên kết kinh tế dẫn đến sự ra đời của tổ chức kinh tế, chính trị, thương mại, tài chính quốc tế và khu vực như: Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Liên minh Châu Âu (EU), Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), khu thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), thị trường tự do Nam Mỹ (Mercosur)

Cũng trong quá trình toàn cầu hóa về kinh tế đã tác động mạnh mẽ đến chính trị dẫn đến sự ra đời của các tổ chức chính trị quốc tế như Liên hợp quốc và các tổ chức của nó như UNDP, UNFPA, UNESCO, UNICEP, INCTAD, FAO đang tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của các nước trên phạm vi toàn cầu Cùng với sự hình thành các tổ chức chính trị quốc tế, quá trình toàn cầu hóa đã hình thành luật pháp quốc tế như công ước quốc tế về luật biển năm 1982, tuyên bố thế giới về nhân quyền, công ước LHQ về quyền trẻ em mà Việt nam là nước tham gia ký kết sớm nhất châu Á Như vậy, không có quá trình toàn cầu hóa thuần nhất về kinh tế Toàn cầu hóa diễn ra ở mọi lĩnh vực đời sống bao gồm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Dưới đây là một số cách hiểu về toàn cầu hóa:

Trang 5

- Thứ nhất, toàn cầu hóa là thuật ngữ được sử dụng để mô tả về quá trình

quốc tế hóa thị trường hàng hóa và dịch vụ, các phương tiện sản xuất, hệ thống tàichính,… Đây cũng là quá trình thúc đẩy dòng lưu chuyển của vốn, quá trình đổi mớicông nghệ trở nên nhanh hơn và làm tăng tính phụ thuộc, làm nhất thể hóa thị trườngcác quốc gia1

- Thứ hai, toàn cầu hóa là quá trình liên kết, hội nhập giữa các cá nhân,

công ty và chính phủ ở các quốc gia khác nhau, quá trình đó phát triển nhờ có hoạtđộng thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế, và được hỗ trợ bởi công nghệ thông tin Toàncầu hóa có tác động đối với môi trường, văn hóa, hệ thống chính trị, phát triển kinh tế

và đời sống của con người2

- Thứ ba, toàn cầu hóa liên quan quá trình nhất thể hóa trật tự kinh tế

thông qua việc giảm dần những rào cản đối với thương mại quốc tế như thuế quan, phí

XK, hạn ngạch NK Theo đó, các nền kinh tế khu vực, các xã hội và các nền văn hóatrở nên hội nhập thông qua liên lạc, vận tải và thương mại Toàn cầu hóa dường nhưđược nhắc đến với ý nghĩa là quá trình toàn cầu hóa kinh tế, đó là quá trình hội nhậpcủa nền kinh tế các quốc gia với nền kinh tế thế giới thông qua thương mại, đầu tư, dichuyển thể nhân, và sự phát triển của khoa học công nghệ Quá trình toàn cầu hóa chịu

sự tác động bởi các yếu tố kinh tế, khoa học công nghệ, văn hóa xã hội, chính trị, côngnghệ sinh học…3

1 “The term globalisation is generally used to describe an increasing internationalisation of markets for goods and services, the means of production, financial systems, competition, corporations, technology and industries Amongst other things this gives rise to increased mobility of capital, faster propagation of technological

innovations and an increasing interdependency and uniformity of national markets” Nguồn: OECD glossary statistical terms, 2008

2 Globalization is a process of interaction and integration among the people, companies, and governments of different nations, a process driven by international trade and investment and aided by information technology

This process has effects on the environment, on culture, on political systems, on economic development and prosperity, and on human p h ysical wel l - being in societies around the world

( http://www.globalization101.org/What_is_Globalization.html )

3 Globalization refers to the increasing unification of the world's economic order through reduction of such barriers to international trade as tariffs, export fees, and import quotas The goal is to increase material wealth, goods, and services through an international division of labor by efficiencies catalyzed by international relations, specialization and competition It describes the process by which regional economies, societies, and cultures have become integrated through communication, transportation, and trade The term is most closely associated with the term economic globalization: the integration of national economies into the international economy through trade , foreign direct investment , capital flows , migration, the spread of technology, and military

presence [1] However, globalization is usually recognized as being driven by a combination of economic, technological, sociocultural, political, and biological factors [2] The term can also refer to the transnational circulation of ideas, languages, or popular culture through acculturation An aspect of the world which has gone through the process can be said to be globalized ( http://en.wikipedia.org/wiki/Globalization )

Trang 6

- Thứ tư, toàn cầu hóa là quá trình hội nhập của các xã hội, các nền văn

hóa và các nền kinh tế khác nhau Trong lĩnh vực kinh tế, toàn cầu hóa là quá trình tạo

ra một thị trường chung, nơi đó có trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các quốc gia màkhông bị giới hạn gì4

Như vậy, qua những cách hiểu trên đây cho thấy, theo nghĩa rộng, toàn cầu hoá

là một hiện tượng, một quá trình, một xu thế liên kết trong quan hệ quốc tế làm tăng sựphụ thuộc lẫn nhau về nhiều mặt của đời sống xã hội (từ kinh tế, chính trị, an ninh, vănhoá đến môi trường, v.v…) giữa các quốc gia Theo nghĩa hẹp, toàn cầu hoá là mộtkhái niệm kinh tế chỉ quá trình hình thành thị trường toàn cầu làm tăng sự tương tác vàphụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia

1.1.2 Nội dung của toàn cầu hóa

Nếu tiếp cận toàn cầu hóa từ góc độ mang tính khái quát, toàn cầu hóa được thểhiện qua 3 dấu hiệu sau đây:

Thứ nhất, toàn cầu hóa thể hiện qua sự gia tăng ngày càng mạnh mẽ của các luồng giao lưu quốc tế về hàng hoá, dịch vụ và các yếu tố sản xuất như vốn, công nghệ, nhân công Có thể nói thương mại quốc tế là thước đo đầu tiên của mức độ

toàn cầu hóa và sự phụ thuộc lẫn nhau của các nước Khi các nước trao đổi hàng hóa

và dịch vụ cho nhau đó cũng chính là quá trình các nước xóa nhòa dần sự biệt lập giữacác nền kinh tế quốc gia Thương mại thế giới đã tăng lên nhanh chóng Trong vòng

100 năm từ 1850 – 1948, thương mại thế giới tăng lên 10 lần, trong giai đoạn 50 nămtiếp theo từ 1948 -1997, tăng 17 lần Từ giữa thập niên 1970 đến giữa thập niên 1990,mức tăng bình quân của xuất khẩu thế giới là 4,5% Trong giai đoạn này, đánh dấu bắtđầu từ năm 1985, hàng năm tốc độ tăng bình quân của xuất khẩu hàng hóa thế giới là6,7%, trong khi đó sản lượng thế giới chỉ tăng lên 6 lần Sự phát triển của thương mạithế giới và khoảng cách ngày càng tăng giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ pháttriển thương mại quốc tế thể hiện mức độ toàn cầu hóa ngày càng cao

Sự phát triển trao đổi dịch vụ giữa các nước ngày càng có vị trí quan trọng trongthương mại quốc tế và đóng góp tích cực vào xu hướng toàn cầu hóa Trong vòng 10năm từ 1986 đến 1996, thương mại dịch vụ thế giới tăng gấp gần 3 lần, từ 449 tỷ USDlên 1.260 tỷ USD Các nước phát triển có mức tăng thương mại dịch vụ cao gấp 3 lần

4 Globalization is the integration of different societies, cultures and economies In economic terms, globalization

is the creation of a common global market, where the exchange of goods and services between nations is not restricted

( http://www.whatisglobalization.org/#read )

Trang 7

so với mức tăng thương mại hàng hóa và trở thành khu vực đóng góp chủ yếu vàoGDP (Hoa Kỳ là 76%, Canada là 80%, Nhật Bản là 65%, EC là 64%)

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và sự di chuyển tư bản (vốn và tiền tệ) giữacác nước là một yếu tố ngày càng quan trọng đối với từng nền kinh tế quốc gia nóiriêng và toàn bộ nền kinh tế thế giới nói chung Các luồng FDI có tốc độ tăng nhanhhơn cả mức tăng của thương mại hàng hóa và dịch vụ quốc tế, đóng góp quan trọngvào sự phát triển của toàn cầu hóa Trong những năm 1970, các luồng FDI hàng năm ởvào khoảng 27 – 30 tỷ USD; trong nửa đầu của thập niên 1980, con số này là 50 tỷUSD; trong nửa cuối của thập niên của 1980 là 170 tỷ USD; năm 1995 gần 400 tỷ USD, 1998 là 845 tỷ USD, năm 2000 vượt trên 1.000 tỷ USD, năm 2007 là 1.900 tỷ USD Đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ tăng nhanh, hiện nay chiếm khoảng 50% Cac luồngFDI vào các nước phát triển chiếm ¾ tổng số FDI trên thế giới Tuy nhiên, đầu tư vàolĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu, gắn với luồng lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ bêntrong hệ thống của các công ty đa quốc, xuyên quốc gia vào các nước đang phát triển

từ năm 1990 có xu hướng tăng lên

Thứ hai, toàn cầu hóa thể hiện qua sự hình thành và phát triển các thị trường

thống nhất trên phạm vi khu vực và toàn cầu Trong thời gian nửa đầu của thập kỷ

1990, theo thống kê của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) có tới 33 thỏa thuậnliên kết kinh tế khu vực dưới dạng các thỏa thuận thương mại ưu đãi, khu vực mậudịch tự do, liên minh thuế quan, liên minh kinh tế được ký kết đã thông báo cho Banthư ký của WTO Số lượng này nhiều gấp 3 lần số lượng các thỏa thuận được ký trongthập kỷ 1980 và bằng gần 1/3 tổng số các thỏa thuận liên kết khu vực được ký tronggiai đoạn 1947 – 1995 Riêng trong giai đoạn từ 2000 – 2008, có trên 140 thỏa thuậnliên kết khu vực đã được thông báo cho WTO Cùng với các thỏa thuận trên, nhiều tổchức hợp tác kinh tế đa phương thế giới và khu vực đã ra đời, ngày càng được tăngcường về số lượng và cơ chế tổ chức Theo số liệu thống kê của Liên minh các Tổchức Quốc tế, nếu như tính vào năm 1909, số lượng các tổ chức quốc tế trên toàn cầuchỉ là 213 thì đến năm 1960, con số này là 1.422 tổ chức, năm 1981 là 14.273, năm

1991 là 28.200; năm 2001 là 55.282 và 2006 là 58.859 tổ chức Trên phạm vi toàn cầu,ngoài các tổ chức kinh tế - tài chính được thành lập trước đây như hệ thống các tổ chứcthuộc Liên Hợp quốc, năm 1995, trên cơ sở Hiệp định chung về Thương mại và Thuếquan (GATT), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã được hình thành Tính đếntháng 3 năm 2013, WTO có 159 thành viên, chiếm tới trên 90% tổng giá trị thương mạithế giới Ở phạm vi khu vực, các tổ chức và cơ chế liên kết kinh tế cũng được tăngcường Tại Châu Âu, Liên minh Châu Âu EU với số lượng 27 nước thành viên hiệnnay đã trở thành một liên kết quốc tế chặt chẽ toàn diện ở hầu hết mọi lĩnh vực Ở

Trang 8

Châu Á-Thái Bình Dương, Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), Hiệp hội hợptác khu vực Nam Á (SAARC), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương(APEC) đã ra đời và ngày càng tích cực đóng góp vào quá trình tăng cường liên kếtquốc tế về thương mại trong khu vực Tại Châu Mỹ, ta có thể sự hình thành liên kếtkhu vực qua việc hình thành Khu vực mậu dịch tự do Bắc Hoa Kỳ (NAFTA), Hiệp hộiliên kết Hoa Kỳ La Tinh (LAIA), Thị trường chung Nam Hoa Kỳ

(MERCOSUR), nhóm các nước ANDEAN, Cộng đồng Caribe và Thị trường chung(CARICOM), Thị trường chung Trung Hoa Kỳ (CACM) Tại Châu Phi, Cộng đồngkinh tế các nước Tây Phi (ECOWAS), Liên minh kinh tế và thuế quan Trung Phi(UDEAC), Cộng đồng phát triển miền Nam Châu Phi (SADC), Liên minh Châu Phi(AU) là những nỗ lực để hình thành những khối thị trường chung và thống nhất trongkhu vực

Thứ ba, toàn cầu hóa thể hiện qua sự gia tăng số lượng, quy mô và vai trò ảnh

hưởng các công ty xuyên quốc gia tới nền kinh tế thế giới Theo số liệu của UNCTAD,

năm 1998 có 53.000 công ty xuyên quốc gia với 450.000 công ty con ở nhiều nướckhác nhau trên thế giới Năm 2000, trên thế giới có khoảng 63.000 công ty xuyên quốcgia với 700.000 các công ty con ở khắp các nước Năm 1995, các công ty xuyên quốcgia bán ra một lượng hàng hóa và dịch vụ có giá trị bằng 7.000 tỷ

USD Năm 1999, tổng doanh số ban ra của công ty xuyên quốc gia đã đạt đến giá trị14.000 tỷ USD Hiện nay, các công ty xuyên quốc gia chi phối và kiểm soát trên 80%thương mại thế giới, 4/5 nguồn vốn đầu tư trực tiếp ở nước ngoài và 9/10 kết quảnghiên cứu chuyển giao công nghệ trên thế giới Hệ thống dày đặc các công ty xuyênquốc gia này không những đã tạo ra một bộ phận quan trọng của lực lượng sản xuất thếgiới mà còn liên kết các quốc giá lại với nhau ngày càng chặt chẽ hơn, góp phần làmcho quá trình toàn cầu hóa trở nên sâu sắc hơn bao giờ hết

Nếu tiếp cận toàn cầu hóa dưới góc nhìn của doanh nghiệp kinh doanh quốc tế,toàn cầu hóa có thể nhìn nhận ở góc độ toàn cầu hóa thị trường và toàn cầu hóa quá

trình sản xuất

Toàn cầu hóa các thị trường (The globalization of markets)

Toàn cầu hóa các thị trường đề cập tới việc gắn kết (hợp nhất) các thị trườngquốc gia vốn riêng rẽ và tách biệt thành một thị trường rộng lớn mang tính toàn cầu Việc hạ thấp các hàng rào đối với hoạt động thương mại giữa các nước giúp cho việcbán hàng hóa trên phạm vi quốc tế trở nên dễ dàng hơn Đôi khi có những ý kiến chorằng sở thích và thị hiếu của người tiêu dùng ở các quốc gia khác nhau đang dần trởnên có sự đồng nhất, điều này giúp cho tạo nên thị trường toàn cầu Các sản phẩm tiêu

Trang 9

dùng như thẻ tín dụng Citigroup, đồ uống Coca – Cola, các trò chơi video SonyPlayStation, bánh humberger McDonald’s, và cà phê Starbucks thường được lấy làm ví

dụ điển hình cho xu hướng này Các doanh nghiệp như Citygroup, Coca-Cola,McDonald’s, Starbucks và Sony không đơn thuần chỉ là những người được hưởng lợi

mà còn là những nhân tố tạo thuận lợi cho sự phát triển của xu hướng này Bằng việccung cấp các sản phẩm cơ bản ra thị trường nước ngoài, họ đang góp phần giúp tạonên một thị trường toàn cầu Một doanh nghiệp không cần phải có quy mô khổng lồnhư một tập đoàn đa quốc gia mới có thể gặp thuận lợi và thu được lợi ích từ việc toàncầu hóa các thị trường Ví dụ như ở Mỹ, gần 90% số lượng các doanh nghiệp có hoạtđộng xuất khẩu là những doanh nghiệp quy mô nhỏ với số lượng lao động ít hơn 100người, và tỷ trọng của họ trong tổng sản lượng xuất khẩu của Mỹ đang tăng dần trongsuốt thập niên vừa qua và hiện đang vượt quá 20% Các doanh nghiệp với số lượng laođộng ít hơn 500 người chiếm khoảng 97% số lượng các nhà xuất khẩu của Mỹ vàchiếm 30% trong tổng giá trị xuất khẩu Điển hình trong số đó là Hytech, nhà sản xuấttấm nền năng lượng mặt trời có trụ sở tại New York đạt doanh thu hàng năm là 3 triệuUSD và 40% trong số đó là từ việc xuất khẩu sang 5 quốc gia khác Hay B&S AircraftAlloys một doanh nghiệp khác ở New York cũng là ví dụ phù hợp khi mà 40% trongcon số 8 triêu USD doanh thu hàng năm cũng đến từ hoạt động xuất khẩu Tình trạngnày cũng tương tự như ở một số quốc gia khác Ví dụ như ở Đức, các doanh nghiệp với

ít hơn 500 lao động chiếm khoảng 30% số lượng các doanh nghiệp có hoạt động xuấtkhẩu của quốc gia này Bất chấp sự phổ biến của thẻ tín dụng Citygroup, bánhhumberger Mc Donald’s hay cà phê Starbucks, cần lưu ý rằng không nên đẩy quanđiểm tiếp cận đi quá xa khi cho rằng các thị trường quốc gia sẽ bị thay thế hoàn toànbằng thị trường toàn cầu Có nhiều khác biệt đáng kể tồn tại giữa thị trường các nướctheo các yếu tố liên quan, bao gồm sở thích và thị hiếu của người tiêu dùng, các kênhphân phối, hệ thống các giá trị văn hóa, hệ thống kinh doanh và các quy định pháp lý Các khác biệt này thường đòi hỏi khi đưa ra chiến lược marketing, đặc trưng sản phẩm,

và tác nghiệp trong thực tế cần có những điều chỉnh cho phù hợp nhất với điều kiệnthực tế ở mỗi quốc gia Ví dụ như các công ty ô tô sẽ xúc tiến bán các mẫu xe khácnhau căn cứ theo các yếu tố như chi phí nhiên liệu ở địa phương đó, mức thu nhập,tình trạng tắc nghẽn giao thông, và các giá trị văn hóa Tương tự như vậy, nhiều doanhnghiệp cần điều chỉnh định hướng sản phẩm và tác nghiệp giữa các quốc gia tùy theo

sở thích và thị hiếu của từng nơi Toàn cầu hóa thị trường hiện nay chủ yếu không phảidành cho các sản phẩm tiêu dùng – khi mà giữa các quốc gia vẫn có những khác biệt

về sở thích và thị hiếu và đây vẫn là những nhân tố quan trọng góp phần kìm hãm xu

Trang 10

hướng toàn cầu hóa Toàn cầu hóa các thị trường hiện này chủ yếu dành cho các hànghóa và vật liệu công nghiệp đáp ứng cho nhu cầu trên phạm vi toàn cầu Điều này baogồm thị trường cho các hàng hóa như nhôm, dầu mỏ, và lúa mì; thị trường đối với cácsản phẩm công nghiệp như vi mạch, DRAMs (chip nhớ của máy tính), và máy baythương mại; thị trường cho phần mềm máy tính; và các thị trường đối với các loại tàisản tài chính từ như tài sản của Mỹ, trái phiếu Châu Âu, đồng peso Mehico Ở nhiềuthị trường toàn cầu, các doanh nghiệp cùng ngành thường đương đầu với nhau ở cácthị trường quốc gia Ví dụ như hai đối thủ kình địch trên phạm vi toàn cầu là CocaCola và PepsiCo, hay như giữa Ford và Toyota, Boeing và Airbus, Caterpillar vàKomatsui trong lĩnh vực thiết bị đào đất, hay Sony, Nintendo và Microsoft trong lĩnhvực trò chơi video Nếu một doanh nghiệp tiến vào một thị trường nơi các đối thủ cạnhtranh chưa tiếp cận thì chắc chắn các doanh nghiệp kình địch sẽ theo chân vào thịtrường này để ngăn chặn đối thủ của mình thu được lợi ích và chiếm ưu thế Do cáccông ty nối đuôi nhau trên phạm vi toàn cầu nên họ thương mang theo mình các tài sản

để phục vụ hoat động sản xuất và kinh doanh ở các thị trường các quốc gia, bao gồmcác sản phẩm, chiến lược hoạt động, chiến lược tiếp thị, các tên nhãn hiệu, tạo nên tínhđồng nhất ở khắp các thị trường Vì thế, tính đồng nhất ngày một tăng lên và dần thaythế cho tính đa dạng Ngày một nhiều các lĩnh vực sản xuất, khái niệm thị trường Đức,thị trường Mỹ, thị trường Brazin hay thị trường Nhật Bản dường như không còn tồn tạinữa mà thay vào đó đối với nhiều doanh nghiệp chỉ tồn tại duy nhất một thị trườngtoàn cầu

Toàn cầu hóa hoạt động sản xuất (The globalization of production)

Toàn cầu hóa hoạt động sản xuất đề cập đến việc sử dụng các nguồn lực về hànghóa và dịch vụ từ các địa điểm khác nhau ở khắp nơi trên thế giới nhằm khai thácnhững lợi ích do sự khác biệt giữa các quốc gia về chi phí và chất lượng của các yếu tốphục vụ sản xuất như (lao động, năng lượng, đất đai và vốn) Bằng cách này, các công

ty hy vọng có thể hạ thấp cấu trúc chi phí chung/hoặc cải thiện chất lượng hoặc tăngkhả năng chuyên môn hóa các chức năng trong hoạt động sản xuất, điều này cho phépcác doanh nghiệp cạnh tranh hiệu quả hơn Xem xét trường hợp đối với mẫu máy baythương mại 777 của hãng Boeing Có tám nhà cung cấp Nhật Bản tham gia sản xuấtcác phần như thân, cửa và cánh máy bay; một doanh nghiệp từ Singapore cung cấp cửacho càng hạ cánh; ba nhà cung cấp từ Italia chế tạo vỏ cánh máy bay… Tổng cộng cókhoảng 30% giá trị của chiếc máy bay 777 được cung cấp bởi các công ty nước ngoài.Đối với chiếc máy bay 787, Boeing còn định đẩy mạnh xu hướng này nhiều hơn, họ dựđịnh tới 65% giá trị của chiếc máy bay sẽ được thuê ngoài từ các công ty nước ngoài

Trang 11

và 35% trong số đó sẽ đến từ 3 công ty lớn của Nhật Bản Một phần lý do căn bản củaBoeing khi thuê ngoài khá nhiều trong hoạt động sản xuất đó là vì các nhà cung ứngnước ngoài này thực sự là những doanh nghiệp giỏi nhất trong lĩnh vực chuyên môncủa họ Một mạng lưới toàn cầu các nhà cung cấp sẽ tạo ra những sản phẩm cuối cùngtốt hơn, điều này cho phép Boeing có thêm cơ hội dành thị phần nhiều hơn trong tổngđơn hàng máy bay thương mại so với đối thủ chính của họ là Airbus Bên cạnh đó, việcBoeing outsource một số hoạt động sản xuất ở các nước khác là nhằm tăng cơ hội dànhđược các đơn hàng quan trọng từ các hãng hàng không có trụ sở ở nước đó

Một ví dụ khác về mạng lưới các hoạt động toàn cầu, hãy xem xét chiếc laptopX31 của IBM Sản phầm này được các kỹ sư của IBM thiết kế tại Mỹ vì IBM tin rằngđây là địa điểm tốt nhất cho việc thiết kế các mẫu sản phẩm Vỏ máy, bàn phím và ổđĩa cứng được sản xuất tại Thái Lan; màn hình hiển thị và bộ nhớ được sản xuất tạiHàn Quốc; card không dây gắn trong được sản xuất tại Malaysia, và vi mạch xử lýđược chế tạo tại Mỹ Trong mỗi case, các linh kiện này được sản xuất tại các địa điểmtối ưu với các khoản chi phí sản xuất và vận chuyển Các linh kiện này sẽ được chuyểntới bộ phận của IBM tại Mehico để lắp ráp trước khi được chuyển về Mỹ để tiêu thụ.IBM thực hiện việc lắp ráp máy tính ThinkPad tại Mehico vì các nhà quản lý tính toánrằng do chi phí nhân công ở quốc gia này khá rẻ, nên họ có thể giảm thiểu chi phí lắpráp khi thực hiện tại đây Chiến lược marketing và bán hàng đối với thị trường Bắc Mỹ

do nhân sự của IBM tại Mỹ xây dựng và phát triển, chủ yếu là do công ty này tin rằngdựa trên sự am hiểu về thị trường địa phương, nhân sự của IBM ở Mỹ sẽ tạo thêm giátrị cho sản phẩm thông qua các nỗ lực marketing của họ hơn là nhân sự ở nơi khác.(Năm 2005, bộ phận kinh doanh các sản phẩm máy tính cá nhân của IBM, bao gồm cảThinkPad, đã được công ty Lenovo của Trung Quốc mua lại và công ty này đã nhanhchóng chuyển trụ sở chính của mình về Mỹ vì tin rằng đây là nơi tốt nhất đề điều hànhcông việc kinh doanh) Trong khi các hoạt động thuê ngoài (outsource) chủ yếu nhưBoeing và IBM giới hạn đối với các doanh nghiệp chế tạo thì ngày càng nhiều công tytận dụng sự tiến bộ của công nghệ truyền thông, đặc biệt là Internet để outsource cáchoạt động dịch vụ sang các nhà sản xuất với chi phí thấp ở các nước khác Ví dụ,Internet cho phép các bệnh viện ở Mỹ thuê ngoài (outsource) công việc liên quan đếnchẩn đoán bệnh thông qua phim chụp sang Ấn Độ, nơi mà hình ảnh của chụp cộnghưởng từ và các phương pháp tương tự được phân tích vào ban đêm khi các bác sĩ điềutrị ở Mỹ ngủ và kết quả sẵn sàng cho họ vào sáng hôm sau Tương tự như vậy vàotháng 12 năm 2003, IBM tuyên bố công ty này sẽ chuyển công việc của khoảng 4,300

kỹ sư phần mềm từ Mỹ sang Ấn Độ và Trung Quốc (sản xuất phần mềm được coi làmột loại hoạt động dịch vụ) Nhiều công ty phần mềm hiện đang sử dụng kỹ sư người

Trang 12

Ấn Độ để thực hiện chức năng bảo trì đối với các phần mềm được thiết kế tại Mỹ Do

sự khác biệt về thời gian, các kỹ sư Ấn Độ có thể thực hiện công việc kiểm tradebugging đối với các phần mềm được viết ở Mỹ khi các kỹ sư bên Mỹ đi ngủ, vàchuyển các mã đã được sửa lỗi về Mỹ thông qua kết nối Internet được bảo mật và sẵnsàng cho các kỹ sư bên Mỹ tiếp tục công việc vào ngày hôm sau Việc phân tách cáchoạt động tạo ra giá trị theo cách này có thể rút ngắn thời gian và giảm chi phí cần thiết

để phát triển các chương trình phần mềm mới Các doanh nghiệp khác từ các công tysản xuất máy tính đến các ngân hàng cũng đang thực hiện việc outsource các chứcnăng dịch vụ khách hàng, chẳng hạn như trung tâm giải đáp điện thoại, sang các quốcgia đang phát triển nơi mà chi phí lao động rẻ hơn Robert Reich người đã từng đảmnhiệm vị trí bộ trưởng lao động dưới thời chính quyền Clinton, cho rằng xu hướng màcác công ty như Boeing, Microsoft hay IBM đang thực hiện dẫn tới kết quả là giờ đâynhiều trường hợp không còn thích hợp khi nói đến hàng hóa của Mỹ, của Nhật Bản,của Đức hay của Hàn Quốc Theo Reich, khi việc outsourcing các hoạt động sản xuấtsang các nhà cung ứng khác đang ngày một tăng như hiện nay thì kết quả tất yếu củahoạt động toàn cầu hóa, người ta đã đề cập đến “sản phẩm toàn cầu” Tuy nhiên, giốngnhư với việc toàn cầu hóa các thị trường, người ta cũng phải cẩn trọng tránh việc đẩytoàn cầu hóa hoạt động sản xuất đi quá xa Có rất nhiều trở ngại gây khó khăn cho cácdoanh nghiệp khi họ tìm cách phân tán hoạt động sản xuất ra nhiều nơi trên phạm vitoàn cầu một cách tối ưu Những trở ngại này bao gồm các rào cản chính thức hoặckhông chính thức cản trở hoạt động thương mại giữa các nước, các rào cản đối với đầu

tư nước ngoài, chi phí vận chuyển và các vấn đề liên quan đến rủi ro kinh tế và chínhtrị Ví dụ, như các quy định của Chính phủ hạn chế việc các bệnh viện thực hiệnoutsource công việc chẩn đoán bệnh qua ảnh chụp cộng hưởng từ sang các nước đangphát triển nơi mà chi phí cho bác sĩ Xquang rẻ hơn Tuy nhiên, chúng ta đang tiến bước

về một tương lai được đặc trưng bởi toàn cầu hóa các thị trường và hoạt động sản xuất.Các doanh nghiệp hiện đại đóng vai trò nhân tố quan trọng trong xu thế này khi cáchoạt động của họ góp phần thúc đẩy toàn cầu hóa Tuy vậy, các doanh nghiệp này cũngphản ứng lại một cách hiệu quả với những thay đổi về điều kiện trong môi trường hoạtđộng

1.1.3 Các nhân tố thúc đẩy toàn cầu hóa

Có hai nhân tố chính thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa, đó là việc dỡ bỏ các ràocản trong các hoạt động thương mại và đầu tư ở các lĩnh vực; và sự phát triển của cáchmạng khoa học và công nghệ

Việc dỡ bỏ các rào cản trong các hoạt động thương mại, đầu tư, dịch vụ, công

nghệ, sở hữu trí tuệ giữa các nước và lãnh thổ trên phạm vi khu vực và toàn cầu cùng

Trang 13

với sự hình thành và tăng cường các quy định, nguyên tắc, luật lệ chung với cơ chế tổchức để điều chỉnh và quản lý các hoạt động, giao dịch kinh tế quốc tế theo hướng tự

do hoá là động lực quan trọng thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa Đối với lĩnh vực hànghóa, trong khuôn khổ của Hiệp định GATT, thương mại hàng hóa là lĩnh vực thể hiện

rõ nét nhất việc dỡ bỏ các rào cản theo hướng tự do hóa Từ năm 1947 đến nay đã diễn

ra 8 vòng đàm phán để cắt giảm thuế quan Kết quả của các vòng đàm phán đã đưathuế quan của các nước công nghiệp phát triển giảm xuống từ 40% năm 1947 xuốngcòn gần 10% vào cuối thập niên 1960 và dưới 4% sau khi hoàn thành thực hiện cáccam kết của vòng đàm phán Urugoay Hiệp định đạt được tại vòng đàm phán Urugoaylàm giảm tới 38% mức thuế quan của hàng nghìn mặt hàng trên thế giới Về hàng ràophi thuế quan, tổ chức WTO cũng như các khuôn khổ khu vực đều đưa vào trongchương trình đàm phán Vòng đàm phán Urugoay đã đề cập tới một các lĩnh vực liênquan tới các hàng rào phí thuế quan như biện pháp vệ sinh an toàn và kiểm dịch độngthực vật, các rào cản kỹ thuật, các quy định về định giá hải quan, quy tắc xuất xứ Trên phạm vi khu vực, hàng rào thuế quan nội khối đã được gỡ bỏ như trong EU, NAFTA, AFTA Đối với lĩnh vực thương mại dịch vụ, Hiệp định GATS trong khuônkhổ của WTO là nỗ lực đầu tiên nhằm xây dựng các quy định trên phạm vi toàn cầu đểquản lý các luồng lưu chuyển dịch vụ giữa các quốc gia Hiệp định đã đưa ra cácnguyên tắc mang tính chất khung, dựa vào đó các nước đưa ra những cam kết cụ thể về

mở cửa và tiếp cận thị trường

Sự phát triển của cách mạng khoa học và công nghệ có tác động mạnh mẽ

tới quá trình toàn cầu hóa, là động lực quan trọng thúc đẩy quá trình này Những tiến

bộ của khoa học – kỹ thuật và công nghệ bao gồm những phát minh, sáng chế, các biệnpháp kỹ thuật tiên tiến, các giống mới, các phương pháp công nghệ hiện đại, các lýthuyết và phương thức quản lý mới trong mọi lĩnh vực được áp dụng vào thực tiễn sảnxuất, kinh doanh làm tăng năng suất lao động, tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm thặng

dư cho xã hội với chi phí thấp hơn, giá rẻ hơn, tạo ra tiền đề thúc đẩy sự hình thành vàphát triển sự phân công, chuyên môn hóa lao động, sản xuất và kinh doanh theo ngànhnghề, vùng lãnh thổ và giữa các quốc gia Nhờ đó, thương mại và trao đổi quốc tế vềhàng hóa, dịch vụ, vốn, lao động và tri thức ngày một tăng

Sự phát triển của khoa học – công nghệ, đặc biệt là cuộc cách mạng côngnghiệp lần thứ nhất và lần thứ hai đã mở đường cho sự hình thành và phát triển nhanhchóng của thị trường thế giới Nếu cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất chủ yếudựa vào máy hơi nước, sắt và than thì cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai chủ yếudựa vào máy chạy bằng nhiên liệu lỏng, điện và năng lượng nguyên tử và những vậtliệu đặc biệt: kim loại không sắt, chất dẻo, sợi hóa chất, đặc biệt là dựa vào những

Trang 14

thành tựu của lĩnh vực thông tin và phương thức quản lý mới Việc ứng dụng các tiến

bộ khoa học công nghệ trong ngành giao thông và kỹ thuật thông tin làm cho thế giới

bị thu nhỏ lại về không gian và thời gian Các chi phí về vận tải, về thông tin ngàycàng giảm, sự cách trở về địa lý dần được khắc phục, các quốc gia và dân tộc trở nêngần gũi hơn với những hình ảnh và thông tin được truyền hình liên tục về các sự kiệnđang xẩy ra ở mọi nơi trên trái đất

Trong thế kỷ XIX, sự ra đời của đường sắt đã làm giảm chi phí vận tải khoảng

85 – 95% Trong khoảng 10 – 15 năm, phí vận tải đường biển đã giảm khoảng 70%;phí vận tải hàng không giảm mỗi năm khoảng 3 – 4% Sự phát triển của máy tính cánhân và thương mại điện tử đã diễn ra với tốc độ nhanh chóng hơn Năng suất trongngành công nghệ thông tin suốt trên ba thập kỷ tăng khoảng 5% một năm, cao gấp 5lần so với tốc độ tăng năng suất chung của tất cả các ngành Dưới tác động của cuộccách mạng công nghệ về công nghệ thông tin, kinh tế tri thức đang hình thành trong đótri thức trở thành một lực lượng sản xuất ngày càng quan trọng, chiếm tỷ trọng ngàycàng lớn trong nền kinh tế nói chung và từng loại hàng hóa và dịch vụ được sản xuất

và tiêu thục trên thị trường quốc tế nói riêng

Khoa học và công nghệ từ cuối thập niên 1970 đã trở thành lực lượng sản xuấttrực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất toàn cầu, làm thay đổi hầu hết mọi mặt hoạtđộng sản xuất cả về lượng và chất và mang tính quốc tế hóa cao độ Cuộc cách mạngkhoa học công nghệ này đã làm cho nền kinh tế thế giới phát triển với tốc độ trên 3%/năm trong vòng hơn 20 năm Hai cuộc cách mạng công nghiệp trước đây đã manglại những biến đổi to lớn trong đời sống kinh tế và xã hội toàn cầu, đặc biệt là sự pháttriển nhanh chóng của sản xuất, tạo ra nguồn của cải phong phú cho loài người Tuynhiên, với hai cuộc cách mạng đầu tiên, hàm lượng vật chất (năng lượng, nguyên nhiênliệu, thiết bị máy móc, vốn và lao động) vẫn chiếm phần lớn trong một sản phẩm Vớicuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện nay, hàm lượng vật chất trong các sảnphẩm ngày càng giảm, hiện nay chỉ còn chiếm tỷ lệ bình quân từ 25 – 30% trong mộtsản phẩm, phần còn lại là hàm lượng tri thức Đặc điểm này cũng thể hiện tính toàncầu, tính quốc tế hóa của hoạt động lao động sản xuất ngày càng cao

Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ lần thứ ba gắn với sự ra đời của nhữngcông nghệ cao trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực sinh học, thông tin, tự độnghóa, vật liệu mới và năng lực

Trong lĩnh vực sinh học, việc khám phá ra cấu trúc ADN, hiểu biết được mật mãcủa sự sống là một bước ngoặt trong lịch sử sinh học Với những kỹ thuật về di truyềnhọc, về gien và nuôi cấy tế bào, nhiều loại giống cây trồng, vật nuôi và nguồn dinhdưỡng mới được tạo ra, góp phần nâng cao năng suốt nông nghiệp, tạo ra lương thực

Trang 15

và thực phẩm dồi dào cho con người sử dụng và trao đổi Trong vòng ba thập kỷ, sảnxuất lương thực thế giới tăng trên 100% trong khi dân số tăng trên 60%

Lĩnh vực thông tin chứng kiến những tiến bộ phi thường, đóng vai trò quantrọng trong việc thúc đẩy xu thế toàn cầu hóa Với hệ thống các phương tiện và kỹthuật thông tin hiện đại, cách mạng thông tin toàn cầu như điện thoại, fax, Internet mối liên hệ qua lại và giao dịch giữa các cá nhân và doanh nghiệp ở mọi nơi trên thếgiới trở nên nhanh chóng, thường xuyên và thuận tiện với chi phí ngày càng giảm dần;biên giới giữa các quốc gia trên nhiều phương diện đã và đang bị xóa mờ Sự biến đổitrong lĩnh vực thông tin, đặc biệt đã biến thông tin trở thành môt thứ hàng hóa, truyềnthông trở thành một trong những ngành công nghiệp hàng đầu trên thế giới Nhờ vàocông nghệ thông tin, thương mại điện tử ra đời và phát triển ngày càng mạnh mẽ Nhờvào công nghệ thông tin, phương thức tổ chức và quản lý sản xuất – kinh doanh đãthay đổi vô cùng nhanh chóng Một số nhà phân tích dự đoán rằng “Nền kinh tế điệntử„ sẽ tạo ra nhiều công ty với quy mô nhỏ, hoạt động thông qua mạng điện tử với cơchế tạm thời hoặc không cần phải có một trụ sở làm việc chung

Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ cũng tạo ra nhiều loại vật liệu mới cóchất lượng tốt hơn, chi phí thấp hơn thay thế những vật liệu truyền thống Từ nhữngnăm 1980 cho đến nay, thế giới đã tăng cường sử dụng những nguồn năng lượng và vậtliệu mới, khiến cho lượng dầu lửa do các nước công nghiệp tiêu thụ giảm đi trung bình

1 tỷ tấn/năm Tỷ lệ nguồn điện nguyên tử, thủy điện, năng lượng mặt trời được sử dụngngày càng cao trong sản xuất và đời sống Các vật liệu mới như chất dẻo đặc biệt, vậtliệu tổng hợp, sợi quang học, gốm sứ thay thế ngày càng nhiều nguyên liệu truyềnthống Tự động hóa cũng trở thành một nét đặc trưng của khoa học – công nghệ, nhiềukhâu trong sản xuất được tự động hóa, lập trình khoa học

1.2 Khái quát về kinh doanh quốc tế

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của hoạt động kinh doanh quốc tế

Ngày nay, nhiều doanh nghiệp ở các quốc gia trên thế giới thực hiện mở rộnghoạt động kinh doanh vượt ra khỏi biên giới quốc gia của mình Ví dụ:

- Honda (Nhật Bản) xây dựng các nhà máy lắp ráp ô tô, xe máy và hệthống các cửa hàng bán lẻ tại thị trường Việt Nam

- Viettel (Việt Nam) đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở dịch vụ viễn thông vàcung cấp dịch vụ viễn thông tại Campuchia, Lào, Haiti, Mozambic,

- Quá trình mở rộng hoạt động sang thị trường Việt Nam của HSBC: Vớitrụ sở chính tại Luân Đôn, Tập đoàn HSBC có 7.200 văn phòng tại 85 quốc gia vàvùng lãnh thổ Tổng giá trị tài sản của Tập đoàn tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2011 là

Trang 16

2.556 tỉ đô la Mỹ Năm 1870 HSBC mở văn phòng đầu tiên tại Sài Gòn (nay là TP HồChí Minh) Tháng 8 năm 1995, chi nhánh TP Hồ Chí Minh được cấp phép hoạt động

và cung cấp đầy đủ các dịch vụ tài chính ngân hàng HSBC khai trương chi nhánh HàNội và thành lập Văn phòng Đại diện tại Cần Thơ vào năm 2005

Ngày 29 tháng 12 năm 2005, HSBC mua 10% cổ phần của Ngân hàng Cổ phần

Kỹ thương Việt Nam (Techcombank), một trong các ngân hàng thương mại cổ phầnlớn nhất tại Việt Nam xét về vốn Tháng 07 năm 2007, HSBC mua thêm 5% cổ phầntại Techcombank Tháng 09 năm 2008, HSBC hoàn tất việc nâng cổ phần sở hữu tạiTechcombank từ 15% lên 20%, trở thành ngân hàng nước ngoài đầu tiên tại Việt Nam

sở hữu 20% cổ phần tại một ngân hàng trong nước

Tháng 09 năm 2007, HSBC ký hợp đồng mua 10% cổ phần của Tập Đoàn BảoViệt, tập đoàn bảo hiểm và tài chính hàng đầu của Việt Nam và trở thành đối tác chiếnlược nước ngoài duy nhất của Bảo Việt Tháng 10 năm 2009, HSBC ký thoả thuận tăng

tỷ lệ cổ phần nắm giữ tại Bảo Việt từ mức 10% lên 18% với trị giá 1,88 nghìn tỷ đồng(khoảng 105,3 triệu Đôla Mỹ)

Ngày 01 tháng 01 năm 2009, HSBC chính thức đưa ngân hàng con đi vào hoạtđộng, trở thành ngân hàng nước ngoài đầu tiên đưa ngân hàng con vào hoạt động tạiViệt Nam sau khi nhận được giấy phép của Ngân hàng Nhà Nước để thành lập Ngânhàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam vào tháng 09 năm 2008 Ngân hàng mới cótên Ngân hàng TNHH một thành viên HSBC (Việt Nam) đặt trụ sở chính ở tòa nhàMetropolitan, 235 Đồng Khởi, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh Với số vốn đăng kí3.000 tỷ đồng, Ngân hàng TNHH một thành viên HSBC (Việt Nam) thuộc 100% sởhữu của Ngân hàng Hồng Kông và Thượng Hải, đơn vị sáng lập và thành viên chínhthức của tập đoàn HSBC

Tính đến tháng 7 năm 2011, mạng lưới hoạt động của HSBC Việt Nam mở rộnglên đến 16 điểm trên toàn quốc bao gồm một hội sở, một chi nhánh và năm phòng giaodịch tại thành phố Hồ Chí Minh; một chi nhánh, ba phòng giao dịch và một quỹ tiếtkiệm tại Hà Nội và bốn chi nhánh tại Bình Dương, Cần Thơ, Đà Nẵng và Đông Nai

Trang 17

doanh nghiệp đang thực hiện các hoạt động kinh doanh quốc tế Có một số cách hiểu

về “Kinh doanh quốc tế” như sau:

Kinh doanh quốc tế là tất cả các giao dịch mang tính thương mại của tư nhânhoặc chính phủ giữa hai hay nhiều quốc gia5 Các công ty tư nhân thực hiện các giaodịch này vì mục đích lợi nhuận, các chính phủ thực hiện các giao dịch này có thể vìmục đích lợi nhuận hoặc không Những giao dịch này bao gồm bán hàng, đầu tư, vậntải Như vậy, theo cách hiểu này, Kinh doanh quốc tế là hoạt động mua bán hàng hóa

và dịch vụ, hoặc hoạt động đầu tư giữa các chủ thể ở hai hay nhiều quốc gia Cũngtrong cuốn sách này, một cách hiểu khác về Kinh doanh quốc tế được đưa ra, đó là cáchoạt động gắn liền với lợi nhuận được thực hiện qua biên giới của quốc gia Một lầnnữa, cách hiểu này cho thấy kinh doanh quốc tế bao gồm những hoạt động vượt quabiên giới của quốc gia, được thực hiện vì mục đích sinh lợi

Một cách hiểu khác về Kinh doanh quốc tế, đó là: Kinh doanh quốc tế(international business), hiểu đơn giản, là việc thực hiện hoạt động đầu tư vào sản xuất,mua bán, trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi có liên quan tới haihay nhiều nước và khu vực khác nhau6 Khái niệm này cho thấy những hoạt động cụthể của kinh doanh quốc tế, bao gồm đầu tư, mua bán hàng hóa và dịch vụ, đó là nhữnghoạt động được thực hiện nhằm mục đích sinh lợi, có liên quan giữa hai hay nhiềuquốc gia hoặc khu vực khác nhau

Như vậy, từ những cách hiểu về Kinh doanh quốc tế được trình bày ở trên cho

thấy Kinh doanh quốc tế là những hoạt động được thực hiện bởi các chủ thể từ hai hay

nhiều quốc gia khác nhau nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm những hoạt động như đầu

tư, trao đổi thương mại hàng hóa và dịch vụ

Từ những khái niệm và ví dụ về kinh doanh quốc tế trên đây cho thấy kinhdoanh quốc tế có những đặc điểm cơ bản như sau:

- Chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh quốc tế có trụ sở ở các quốc gia khác nhau.Đây là đặc điểm cơ bản đầu tiên có ý nghĩa quyết định tính quốc tế của hoạt động kinhdoanh quốc tế Chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh quốc tế chủ yếu là các doanhnghiệp ở mọi lĩnh vực, mọi loại hình, các loại quy mô, từ những doanh nghiệp vừa vànhỏ tới những doanh nghiệp lớn, các tập đoàn kinh tế, các công ty quốc tế, công ty đaquốc gia, xuyên quốc gia Trong đó, các công ty đa quốc gia và các công ty xuyênquốc gia là những chủ thể có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy dòng lưu chuyểnhàng hóa dịch vụ giữa các quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các nước, thậm chícác công ty đó còn là những chủ thể có vai trò đáng kể trong việc thúc đẩy quá trình

5 Marios I.Katsioloudes, Spyros Hadjidakis, International Business – A global perspective, 2007

6 TS Nguyễn Thị Hồng Yến, Giáo trình KDQT, 2011

Trang 18

hình thành thị trường chung và quá trình liên kết giữa các quốc gia, phát triển các mốiquan hệ quốc tế

- Hoạt động kinh doanh quốc tế chịu sự tác động bởi các yếu tố thuộc môi trường kinhdoanh mang tính quốc tế, bao gồm môi trường chính trị, pháp luật, kinh tế, văn hóa Sựkhác biệt về chính trị, luật pháp, kinh tế, văn hóa ở các quốc gia khác nhau yêu cầu cácdoanh nghiệp kinh doanh quốc tế phải có chiến lược và cách thức thực hiện sao chophù hợp nhằm đạt được mục đích kinh doanh của doanh nghiệp Ví dụ “Tại Lào, thóiquen không làm việc ngoài giờ và nghỉ toàn bộ các ngày cuối tuần của nhân viên bản

xứ khiến cho Viettel đã gặp nhiều khó khăn trong việc đảm bảo việc phục vụ kháchhàng 24/7 như các công ty viễn thông cần phải làm Trong giao tiếp và làm việc, nhânviên người Lào thích được nói chuyện nhẹ nhàng, chứ không quen với tác phong quânđội, chấp hành mệnh lệnh Chính vì vậy, bộ máy nhân viên Viettel đã quyết định vừaphải thay đổi bản thân, vừa phải thay đổi chính cách nhìn và làm việc của nhân viênbản xứ”6

- Đồng tiền được sử dụng trong kinh doanh quốc tế cũng mang tính quốc tế Trong kinhdoanh quốc tế, chủ thể có thể sử dụng đồng tiền của quốc gia mình, cũng có khi sửdụng đồng tiền của quốc gia của đối tác, hoặc sử dụng đồng tiền của một nước thứ ba.Khi đó cần có sự chuyển đổi giữa các đồng tiền theo một tỷ giá nhất định Doanhnghiệp có thể có lợi hoặc bất lợi trước một diễn biến của tỷ giá mà diễn biến này phátsinh do cung cầu thị trường hoặc do tác động từ một văn bản pháp luật của Nhà nước

- Quản trị tại các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh quốc tế khác với quản trị tại cácdoanh nghiệp chỉ có hoạt động kinh doanh trong nước, đòi hỏi nhà quản trị phải có kỹnăng và nghệ thuật quản trị trong môi trường có tính quốc tế với nhiều cơ hội nhưngkhông ít khó khăn thách thức, nhà quản trị cũng phải có tầm nhìn mang tính chiến lượctrên một phạm vi thị trường rộng lớn với rất nhiều yếu tố từ môi trường kinh doanh tácđộng tới hoạt động kinh doanh quốc tế của doanh nghiệp Điều này xuất phát từ chính

sự khác biệt về chính trị, pháp luật, văn hóa, kinh tế giữa các quốc gia

1.2.2 Các hoạt động kinh doanh quốc tế

- Xuất khẩu

- Nhập khẩu

- Mua bán đối lưu

- Thuê ngoài/ gia công quốc tế

- Đầu tư trực tiếp

6 Mạnh Chung, Viettel đầu tư ra nước ngoài, kỹ thuật đi trước Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2012 tại

http://vneconomy.vn/20110208100937782P0C5/viettel - dau - tu - ra - nuoc - ngoai - ky - thuat - di - truoc.htm

Trang 19

- Đầu tư gián tiếp

- Nhượng quyền thương mại

- Mua bán giấy phép

1.2.3 Chủ thể của hoạt động kinh doanh quốc tế

Người tiêu dùng, các công ty, các tổ chức tài chính, các chính phủ, tất cả đềuliên quan tới hoạt động kinh doanh quốc tế và có vai trò quan trọng đối với các hoạtđộng kinh doanh quốc tế Bởi lẽ người tiêu dùng có nhu cầu đối với hàng hóa và dịch

vụ từ các công ty quốc tế, các công ty này chính là người sản xuất và cung cấp hànghóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, các tổ chức tài chính giúp các công

ty trong quá trình tham gia hoạt động kinh doanh quốc tế thông qua việc tài trợ vốn,trao đổi ngoại tệ, chuyển tiền, còn chính phủ là người xây dựng các văn bản pháp lý đểđiều chỉnh các dòng trao đổi hàng hóa, dịch vụ, con người, vốn giữa các quốc gia

Tuy nhiên, chủ thể thực hiện các hoạt động kinh doanh quốc tế chủ yếu là cáccông ty, bao gồm các công ty ở tất cả các loại hình, các loại quy mô và ở tất cả cácngành nghề lĩnh vực Tất cả các công ty sản xuất, công ty dịch vụ, công ty bán lẻ đềutìm kiếm khách hàng ngoài biên giới quốc gia của mình Một công ty kinh doanh quốc

tế là công ty tham gia trực tiếp vào bất kỳ hình thức kinh doanh quốc tế nào như xuấtkhẩu, nhập khẩu hay sản xuất quốc tế, đầu tư quốc tế Nếu xét theo khía cạnh quy mô

về vốn và lao động, bên cạnh những doanh nghiệp nhỏ và vừa là các công ty mang tầm

cỡ lớn như công ty đa quốc gia, công ty xuyên quốc gia7 Những công ty này có nguồnvốn lớn hơn cả GDP của một quốc gia, thậm chí có khả năng vận động các chính phủđưa ra những văn bản pháp luật có lợi cho họ Nếu căn cứ vào chiến lược kinh doanh

7 công ty đa quốc gia (MNC – multinational company), công ty xuyên quốc gia (TNC – transnational company): Công ty đa quốc gia hay doanh nghiệp đa quốc gia (MNE) và công ty xuyên quốc gia đôi khi được sử dụng thay thế cho nhau HIện nay chưa có nghiên cứu nào đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh về MNC và TNC Từ năm

1973, Liên hợp quốc đưa ra 21 định nghĩa về MNC trong khi trong các báo cáo hàng năm về đầu tư của thế giới

do UNCTAD công bố, tổ chức này chỉ đưa ra định nghĩa về công ty xuyên quốc gia và thường có những thông

kê về hoạt động của các công ty này Nhìn chung, đây là những công ty có trụ sở chính/ công ty mẹ ở một quốc gia (nước chủ nhà, nước chủ đầu tư – home country) và có hệ thống các chi nhánh, các công ty con ở nhiều quốc gia khác nhau (nước tiếp nhận đầu tư – host country) thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 9 công ty đa quốc nội (MDC - multidomestic company): là một tổ chức luôn cố gắng cá biệt hóa sản phẩm, chiến lược marketing và các hoạt động khác nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu của thị trường ở từng quốc gia Công ty toàn cầu (GC – global company): là một tổ chức luôn cố gắng tiêu chuẩn hóa và nhất thể hóa các hoạt động trên phạm vi toàn thế giới ở mọi bộ phận chức năng Hay nói cách khác, công ty toàn cầu không có chiến lược cá biệt hóa sản phẩm, chiến lược marketing hay các hoạt động khác theo những thị trường cụ thể Công ty quốc tế (IC - international company): là công ty vừa có hoạt động ở thị trường trong nước, vừa có hoạt động ở thị trường nước ngoài.

Trang 20

của công ty, chúng ta có thể gọi các công ty kinh doanh quốc tế với các tên gọi: công ty

đa quốc nội, công ty toàn cầu, công ty quốc tế9

Tóm lại chủ thế tham gia kinh doanh quốc tế chính là các doanh nghiệp, cáccông ty ở các loại hình, các loại quy mô, ở các lĩnh vực ngành nghề, thực hiện các hoạtđộng kinh doanh vượt ra khỏi biên giới của quốc gia và mang tính quốc tế như hoạtđộng xuất khẩu, nhập khẩu, đầu tư quốc tế,…

1.2.4 Mục đích tiến hành hoạt động kinh doanh quốc tế

Các chủ thể thực hiện kinh doanh quốc tế vì những mục đích cơ bản sau:

Thứ nhất, các công ty thực hiện kinh doanh quốc tế nhằm mở rộng thị trường,

tăng doanh thu, lợi nhuận, thị phần và củng cố năng lực cạnh tranh Mục đích chínhcủa các công ty khi thực hiện hoạt động kinh doanh là lợi nhuận Vì vậy, để tăng lợinhuận, các công ty phải tìm kiếm các cơ hội giúp tăng doanh thu và giảm chi phí Mởrộng thị trường là một trong những cách giúp công ty có thể tăng doanh thu, tăng thịphần, từ đó có thể nâng cao vị thế và năng lực cạnh tranh của công ty

Ví dụ, năm 2006, Viettel bắt đầu nghiên cứu tìm kiếm thị trường ngoài nước.Tháng 2/2009, Viettel đã chính thức khai trương mạng di động Metfone tại Cam-puchia, khởi đầu quá trình kinh doanh tại nước ngoài Ngay sau đó, Viettel tiếp tục mởrộng thị trường sang Lào với mạng di động mang thương hiệu Unitel vào tháng10/2009 Tháng 9/2011, Viettel tiến sang thị trường châu Mỹ với việc khai trươngmạng di động Natcom tại Ha-i-ti Ngày 15/5/2012, Tập đoàn Viễn thông Quân đội(Viettel) đã chính thức khai trương mạng di động tại Mozambique, thị trường nướcngoài thứ 5 của Viettel và là thị trường đầu tiên tạo đà để tập đoàn tiến quân mạnh hơnvào châu Phi Thương hiệu của Viettel tại Mozambique có tên là Movitel Movitel làliên doanh giữa Viettel, SPI và Invespar (Mozambique), trong đó Viettel chiếm 70%vốn Các mạng viễn thông mà Viettel đầu tư và kinh doanh ở nước ngoài chỉ sau hainăm đều bắt đầu có lãi và trở thành công ty lớn ở nước sở tại Năm 2011, Unitel trởthành công ty số một tại Lào (về cả hạ tầng, thuê bao và doanh thu) với 42,23% thịphần Doanh thu năm 2011 của Unitel đạt 110 triệu USD, chiếm 1,4% tổng GDP củaLào Còn tại Cam-pu-chia, mặc dù là DN thứ tám tham gia thị trường viễn thông nướcnày nhưng chỉ sau hai năm hoạt động, Metfone cũng đã dẫn đầu thị trường với 49% thịphần Doanh thu năm 2011 của Metfone là 255 triệu USD, chiếm gần 2% tổng GDPcủa Cam-pu-chia Tại Ha-i-ti, là DN thứ ba tham gia thị trường nhưng ngay tại thờiđiểm khai trương, Natcom cũng đã là công ty số một tại Ha-i-ti về hạ tầng mạng viễnthông với 1.300 trạm thu phát sóng di động 2G và 3G (tương đương 74% tổng số trạmcủa toàn Ha-i-ti)

Trang 21

Hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Viettel đã đóng góp đáng kể vào con sốdoanh thu của Viettel Năm 2011, Viettel đạt doanh thu gần sáu tỷ USD và có 60 triệuthuê bao đang hoạt động trên toàn cầu Sau ba năm kinh doanh ở nước ngoài, Viettel

đã bắt đầu chuyển lợi nhuận về nước Năm 2011, Tập đoàn chuyển về nước hơn 40triệu USD, lớn hơn số tiền mà Viettel đầu tư vào thị trường Cam-pu-chia Dự kiến lợinhuận năm 2012 Viettel sẽ chuyển về nước đạt hơn 80 triệu USD8

Thứ hai, các công ty thực hiện kinh doanh quốc tế để sử dụng các nguồn lực

một cách hiệu quả, đó là nguồn lực về vốn, khoa học công nghệ, lao động và các yếu tốsản xuất khác Để đạt được mục đích sinh lợi, các công ty không chỉ mở rộng thịtrường cho sản phẩm, dịch vụ nhằm tăng doanh thu, lợi nhuận, thị phần mà họ còn phảithực hiện tối thiểu hóa chi phí đầu vào thông qua các hoạt động như mua bán quốc tếhàng hóa và dịch vụ, đầu tư quốc tế, tiếp nhận đầu tư quốc tế Với những công ty có lợithế về vốn, khoa học công nghệ, họ sẽ thực hiện đầu tư ra nước ngoài, vào những thịtrường có nhu cầu về vốn, khoa học công nghệ, đủ điều kiện đảm bảo an toàn cho hoạtđộng đầu tư, thậm chí đó là những thị trường có lợi thế về lao động giá rẻ, nguồn tàinguyên dồi dào, phong phú,… Đồng thời, chính công ty tiếp nhận đầu tư được giảiquyết nhu cầu về vốn, công nghệ Như vậy, các bên có thể sử dụng hiệu quả hơn nguồnlực thông qua hoạt động kinh doanh quốc tế Ví dụ, khi HONDA đầu tư vào Việt Nam,xây dựng nhà máy và đầu tư công nghệ lắp ráp ô tô, xe máy tại Việt Nam, HONDA có

cơ hội sử dụng nguồn lao động với chi phí thấp hơn ở thị trường Nhật Bản, nhờ đó gópphần giảm giá thành của sản phẩm khi được lắp ráp tại Việt

Nam Một ví dụ khác là các doanh nghiệp sản xuất phần mềm ở Mỹ đặt gia công sảnxuất phần mềm ở các nước khác như Trung Quốc, Việt Nam, Ấn Độ với mục đích làtranh thủ nguồn nhân công có trình độ, có tay nghề nhưng chi phí cho người lao độngthấp hơn ở Mỹ

Thứ ba, các công ty thực hiện kinh doanh quốc tế để có thể tranh thủ những

điều kiện thuận lợi từ thị trường bên ngoài, đặc biệt khi thị trường trong nước không có

đủ những điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của công ty Doanh nghiệp cầnnhững điều kiện thuận lợi nhất định để phát triển hoạt động kinh doanh của mình, đó lànhững điều kiện thuận lợi về khung pháp luật, cơ chế, chính sách, hay về điều kiệncạnh tranh, nhu cầu của khách hàng, Vì vậy, các doanh nghiệp phát triển hoạt độngkinh doanh sang thị trường nước ngoài nhằm tranh thủ những điều kiện thuận lợi hơn

8 Tổng hợp từ các nguồn: http://www.nhandan.org.vn/cmlink/nhandandientu/thoisu/kinh - te/kinh - t - tin - chung/v n - ra - th

- tr - ng - n - c - ngoai - 1.348965?mode=print và http://vneconomy.vn/201205160902510P0C16/viettel - khai truong - mang - di

- dong -o- mozambique.htm ngày 15/7/2012

Trang 22

mà tại thị trường trong nước doanh nghiệp không có Chẳng hạn, tại thị trường trongnước khi xuất hiện nhiều nhà cung cấp dịch vụ viễn thông, thị trường trong nước cũngtrở nên bão hòa, Viettel đã mở rộng hoạt động kinh doanh của mình sang các thịtrường nước ngoài, vừa để tăng doanh thu, lợi nhuận, nâng cao vị thế của doanhnghiệp, vừa để tránh áp lực cạnh tranh tại thị trường trong nước khi xuất hiện nhiềunhà cung cấp dịch vụ và nhu cầu trong nước đã được đáp ứng tương đối đầy đủ

Thứ tư, các doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh quốc tế để phân tán,

giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh Việc đa dạng hóa lĩnh vực kinh doanh, đa dạng hóathị trường giúp doanh nghiệp có thể phân tán, giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh thay

vì chỉ tập trung vào một hay một số thị trường hay đối tác Ví dụ các doanh nghiệpxuất khẩu thủy sản của Việt Nam không chỉ xuất khẩu sang các thị trường khu vựcchâu Âu mà còn mở rộng sang thị trường các nước thuộc khu vực châu Á, châu Mỹ,… Qua đó, các doanh nghiệp vừa có cơ hội tăng doanh thu, lợi nhuận, vừa có cơ hội giảmthiểu rủi ro trước những biến động từ một thị trường cụ thể

1.3 Cơ hội và thách thức của toàn cầu hóa đối với hoạt động kinh doanh quốc tế

1.3.1 Cơ hội

Toàn cầu hóa vừa tạo cơ hội, vừa tạo thách thức cho các doanh nghiệp khi thựchiện hoạt động kinh doanh quốc tế Về mặt tích cực, toàn cầu hóa mang lại cho cácdoanh nghiệp kinh doanh quốc tế những cơ hội như:

- Thứ nhất, các doanh nghiệp có cơ hội mở rộng thị trường, tăng doanh

thu, lợi nhuận, thị phần Đặc biệt, khi các quốc gia là thành viên của các liên kết khuvực, ở đó quan hệ thương mại giữa các thành viên là các thỏa thuận thương mại tự do(chẳng hạn các nước ASEAN ký kết thỏa thuận thương mại tự do AFTA, các nướcthuộc khu vực Bắc Mỹ ký kết thỏa thuận thương mại tự do NAFTA) hoặc khi các quốcgia là thành viên của một tổ chức kinh tế quốc tế, chẳng hạn Tổ chức thương mại thếgiới (WTO), ở đó quan hệ thương mại được điều chỉnh bởi những nguyên tắc và quyđịnh nhằm đảm bảo thương mại càng trở nên thông thoáng và khả đoán thì điều kiệntiếp cận thị trường trở e, thuận lợi hơn Đây chính là cơ hội tốt đối với các doanhnghiệp trong việc thâm nhập và mở rộng thị trường kinh doanh của mình

- Thứ hai, toàn cầu hóa giúp các doanh nghiệp có thể tiếp cận và sử dụng

được các nguồn lực một cách tối ưu Khi điều kiện tiếp cận thị trường trở nên thôngthoáng, thuận lợi thì việc di chuyển các nguồn lực giữa các quốc cũng trở nên dễ dàng,

đó là sự di chuyển của nguồn vốn, nguồn lao động,kỹ thuật, công nghệ,… Nhờ đó, các

Trang 23

doanh nghiệp có thể tiếp cận với nguồn lực có chi phí thấp, góp phần giảm chi phí vànâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

- Thứ ba, toàn cầu hóa giúp doanh nghiệp có cơ hội củng cố, nâng cao khả

năng cạnh tranh của doanh nghiệp Dưới tác động của toàn cầu hóa, nền kinh tế mởcửa và hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, bởi vậy thị trường được mở rộng

và thị trường trong nước cũng trở thành thị trường quốc tế Do đó, áp lực cạnh tranhđối với các doanh nghiệp tăng lên, đòi hỏi các doanh nghiệp phải củng cố và nâng caonăng lực cạnh tranh để có thể giữ vững vị thế tại thị trường trong nước và ngoài nước.Điều đó cũng có nghĩa là toàn cầu hóa đã mang lại cho các doanh nghiệp kinh doanhquốc tế cơ hội củng cố khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

1.3.2 Thách thức

Bên cạnh những tác động tích cực theo hướng tạo cơ hội cho các doanh nghiệpkinh doanh quốc tế, toàn cầu hóa còn có những tác động không tích cực, tạo ra nhữngthách thức cho các doanh nghiệp Những thách thức của quá trình toàn cầu hóa đối vớicác doanh nghiệp kinh doanh quốc tế bao gồm:

- Thứ nhất, toàn cầu hóa khiến các doanh nghiệp phải đối mặt với áp lực

cạnh tranh ngày càng lớn

- Thứ hai, toàn cầu hóa đặt ra cho các doanh nghiệp những thách thức

trong việc củng cố năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như hoạt động quản trịdoanh nghiệp

- Thứ ba, toàn cầu hóa cũng đặt ra những thách thức cho các doanh nghiệp

trong việc đáp ứng những quy định pháp luật quốc gia và quốc tế, những yêu cầu, đòihỏi của thị trường ở các quốc gia khác nhau

Trang 24

Chương 2: MÔI TRƯỜNG KINH DOANH QUỐC TẾ (6,1)

2.1 Khái niệm và đặc điểm của môi trường kinh doanh quốc tế

2.1.1 Khái niệm về môi trường kinh doanh quốc tế

KDQT khác rất nhiều so với hoạt động kinh doanh nội địa bởi vì một công ty hoạt động vượt ra khỏi biên giới quốc gia phải đối mặt với các yếu tố 3 thuộc cả bamôi trường - môi trường quốc gia, môi trường nước ngoài, và môi trường quốc tế.9 Tuynhiên, một công ty dù chỉ hoạt động trong phạm vi biên giới một quốc gia cũng cầnphải đặc biệt chú ý không chỉ môi trường kinh doanh quốc gia mà còn phải chú ý tớihai MTKD còn lại Không một công ty nào có thế hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởicác yếu tố thuộc môi trường kinh doanh nước ngoài hoặc môi trường kinh doanh quốctế; bởi vì, với xu thế toàn cầu hóa hiện nay thì các công ty nội địa luôn phải cạnh tranhvới sản phẩm nhập khẩu từ nước ngoài hay sản phẩm của các công ty nước ngoài có cơ

sồ kinh doanh tại quốc gia họ Để hình thành khái niệm về môi trường KDQT, cần tìmhiểu các yếu tố của MTKD và hoạt động của chúng trong cả ba môi trường trên

Các yếu tố cấu thành trong môi trường kinh doanh

Môi trường kinh doanh là sự tổng hợp các yếu tố có liên quan và tác động tới sự tồntại và phát triển của mỗi doanh nghiệp Các yếu tố đó được phân chia thành các yếu tốbên trong và các yếu tố bên ngoài Thêm vào đó, các nhà quản lý không thể kiểm soáttrực tiếp các yếu tố đó, dù họ có nhiều cố gắng trong việc tác động tới chúng như: vậnđộng hành lang đối với việc thay đổi các điều luật, tăng cường các hoạt động xúc tiếnthương mại cho sản phẩm mới tung ra thị trường nhằm thay đổi thái độ cấa người tiêudùng

Yếu tố bên ngoài thường được gọi là yếu tố không kiểm soát được (uncontrollable íorces), gồm có các yếu tố sau:

- Cạnh tranh - dựa vào vị trí và hoạt động mà có rất nhiều kiểu cạnh tranh và nhiều đốithấ cạnh tranh

- Phân phối - các công ty trong nước và quốc tế cung cấp hàng hóa, dịch vụ theo mạngphân phối hàng hóa và dịch vụ

- Kinh tế-các biến số kinh tế như GNP, chi phí lao động theo đơn vị, mức chi tiêu cá

- Kinh ténhân, ảnh hưởng tới khả năng kinh doanh cấa mỏi doanh nghiệp

xã hội - đặc điểm và sự phân bố dân cư

H McCuIloch (2004), International Business: The challenge of Global competilion, NXB MeGraw-Hill, trl7 )

Trang 25

- Luật pháp – mỗi doanh nghiệp phải hoạt động kinh doanh với rất nhiều bộ luật cảquốc gia và quốc tế

- Địa lý - các yếu tố tự nhiên như địa hình, khí hậu, và tài nguyên thiên nhiên

- Chính trị - các yếu tố thuộc môi trường chính trị quốc gia như chủ nghĩa dân tộc, chế

độ chính trị, và các tổ chức quốc tế

- Văn hóa xã hội - các yếu tố văn hóa như thái độ, niềm tin, và quan điểm là các yếu

tố quan trọng đối với các nhà KDQT

- Công nghệ - trình độ kỹ thuật và các thiết vị tác động tới quá trình sử dụng các yếu tốđẩu vào để tạo ra sản phẩm

Ngoài các yếu tố trên, các nhà quản lý còn phải đối mặt với các yếu tố bên trong nhưđầu vào sản xuất (vốn, nguyên liệu, và con người) và các hoạt động của tổ chức (nhãn

sự, tài chính, sản xuất và marketing) Những yếu tố này được gọi là các yếu tố có thểkiểm soát được (controllable forces), các nhà kinh doanh cần phải quán lý điều hànhmột cách có trật tự các yếu tố này để có thể thích ứng được những thay đổi của các yếu

tố trong môi trường không kiếm soát được Ví dụ sự thay đổi chính trị - thị trườngchung ASEAN được hình thành - ảnh hưởng tới toàn bộ các yếu tố có thế kiểm soátđược của các công ty quốc tế đang hoạt động liên quan tới các quốc gia nằm trong khốiASEAN Các công ty phải xem xét lại các hoạt động kinh doanh của mình và có nhữngđiều chỉnh cho phù hợp với luật mới khi thị trường chung chính thức đi vào hoạt động

Ví dụ, một số công ty của Mỹ hay Nhật Bản có chi nhánh công ty đặt tại Singapore,một nơi có chi phí lao động rất cao, có thể xem xét lại việc chuyển chi nhánh tới quốcgia khác có chi phí lao động rẻ hơn nhiều như Philippin, Việt Nam khi mà rào cảnthương mại giữa các quốc gia này được xóa bỏ

Vậy, MTKDQT là sự tác động qua lại giữa các yếu tố thuộc môi trường quốc gia vớimôi trường nước ngoài; và giữa các yếu tố môi trường nước ngoài của hai quốc gia khimột công ty tại quốc gia này hoạt động kinh doanh với khách hàng ở quốc gia khác Khái niệm này cũng phù hợp với khái niệm KDQT là hoạt động kinh doanh vượt rakhỏi biên giới một quốc gia [Donald A Bai VendeII H McCuIloch (2004),International Business: The challenge of Global competilion, NXB MeGraw-Hill,trl9]

Ví dụ, nhân sự tại trụ sở chính của một công ty đa quốc gia được xem là làm việctrong môi trường kinh doanh quốc tế nếu công việc của họ có liên quan tới quốc giakhác; trong khi đó nhân sự tại các chi nhánh nước ngoài sẽ không làm việc trong môitrường kinh doanh quốc tế nếu họ không hoạt động kinh doanh quốc tế xuất khẩu, hoặcquản lý công ty con khác Ví dụ, các nhà quản lý bán hàng thuốc tập đoàn GM Motor

Trang 26

sẽ không làm việc trong môi trường kinh doanh quốc tế nếu họ chỉ bán oto tại thịtrường Hàn Quốc Nếu công ty này xuất khẩu oto sang Việt Nam, thì các nhà quản lýbán hàng chịu tác động của cả hai yếu tố môi trường kinh doanh trong nước là HànQuốc và môi trường kinh doanh nước ngoài là Việt Nam, nghiax là các nhà quản lý đãlàm việc trong môi trường kinh doanh quốc tế Các tổ chức quốc tế cũng ảnh hưởng tớiMTKDQT, và trở thành một phần của MTKDQT Các tổ chức quốc tế bao gồm: tổchức thế giới (WTO, WB ), các tổ chức kinh tế khu vực(AFTA, EU ) tổ chức gồmcác quốc gia ký kết hiệp định công nghiệp (OPEC)

2.1.2 Đặc điểm của môi trường kinh doanh quốc tế

Kinh doanh quốc tế là hoạt động được thực hiện bởi các chủ thể có trụ sở kinh doanh

ở nhiều quốc gia khác nhau Kinh doanh quốc tế khác biệt so với kinh doanh nội địa domôi trường thay đổi khi một doanh nghiệp mở rộng hoạt động của mình vượt ra ngoàibiên giới quốc gia Thông thường, một doanh nghiệp hiểu rất rõ về môi trường trongnước nhưng lại kém hiểu biết về môi trường ở các nước khác và do vậy doanh nghiệpphải đầu tư thời gian và nguồn lực để hiểu về môi trường kinh doanh mới Môi trườngkinh doanh quốc tế là môi trường kinh doanh ở nhiều quốc gia khác nhau Môi trườngnày có nhiều đặc điểm khác biệt so với môi trường trong nước của doanh nghiệp, cóảnh hưởng quan trọng tới các quyết định của doanh nghiệp về sử dụng nguồn lực vànăng lực Vì các doanh nghiệp không có khả năng kiểm soát được môi trường bênngoài nên sự thành công của doanh nghiệp phụ thuộc lớn vào việc các doanh nghiệpthích ứng như thế nào với môi trường này Năng lực của một doanh nghiệp trong việcthiết kế và điều chỉnh nội lực để khai thác được các cơ hội của môi trường bên ngoài

và khả năng kiểm soát các thách thức đặt ra của môi trường sẽ quyết định sự thành bạicủa doanh nghiệp Môi trường kinh doanh quốc tế không chỉ bao gồm nhưng yếu tốbên trong liên quan hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, những yếu tố bên ngoài làluật pháp, bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội, nhân khẩu học, văn hóa ở các quốc giakhác nhau mà còn bao gồm những yếu tố khác như sự liên kết và hợp tác giữa cácquốc gia và khu vực trên thế giới, các thỏa thuận song phương và đa phương giữa cácquốc gia và khu vực, các quy định của các tổ chức quốc tế như WTO, UN,…

2.1.3 Sự cần thiết của việc tìm hiểu về môi trường kinh doanh quốc tế

Mỗi quốc gia tồn tại một MTKD nhất định và MTKD luôn khác nhau từ nước này quanước khác, việc tìm hiểu môi trường bên ngoài giúp cho các doanh nghiệp lựa chọnđược các quốc gia, thị trường để tiến hành các hoạt động kinh doanh, các loại hìnhkinh doanh phù hợp

Trang 27

Mục đích của việc phân tích, đánh giá MTKDQT là: (1) lựa chọn những thị trường (quốc gia) phù hợp với khả năng hoạt động của doanh nghiệp; (2) tạo cơ sớ cho việc xác định các chức năng nhiệm vụ và mục tiêu; (3) giúp doanh nghiệp xác định được những việc gì cần làm để đạt được những mục tiêu đã định

Khi tham gia kinh doanh quốc tế, các công ty buộc phải hoạt động trong môi trườngnước ngoài, với các đặc điểm môi trường kinh doanh khác biệt với môi trường trongnước Do vậy, nếu không có những hiểu biết đầy đủ và sâu sắc về môi trường kinhdoanh, công ty sẽ vấp phải rất nhiều khó khăn cũng như bị thiệt hại, thua lỗ, bị đối thủcạnh tranh tước đoạt thị phần Ví dụ như khi xuất khẩu hàng hóa, doanh nghiệp khôngđáp ứng đủ những quy định về vệ sinh dịch tễ của nước sở tại, hàng hóa có thể bị từchối thông quan, thậm chí bị tiêu hủy Những mâu thuẫn về chính trị có thể dẫn đếnchiến tranh, cấm vận làm hoạt động kinh doanh cùa doanh nghiệp tại quốc gia đó bịđình trệ, hàng hóa không lưu thông được Tình hình lạm phát tại nước ngoài khiến giá

cả đầu vào gia tang đối với các công ty nhập khẩu nguyên vật liệu Mẫu mã sản phẩm,cách thức quảng cáo không phù hợp với thẩm mỹ, tôn giáo, phong tục tập quán củangười dân bản địa cũng có thể khiến hàng hóa đó không tiêu thụ được, thậm chí bị tẩychay Do đó, các thông tin về môi trường kinh doanh quốc tế luôn hết sức cẩn thiết đốivới mọi doanh nghiệp

Khi nghiên cứu về môi trường kinh doanh quốc tế, các công ty sẽ thu được nhữngthông tin hữu ích cho việc lựa chọn thị trường và quyết định chiến lược kinh doanh.Môi trường kinh tế và điều kiện tự nhiên cho thấy sự hấp dẫn của một thị trường thôngqua sự giàu có của tài nguyên, sự phát triển của cơ sở hạ tầng, mức thu nhập bìnhquân, tốc độ tăng trường kinh tế, nguồn tín dụng của các ngân hàng và các tổ chức tàichính Môi trường pháp lý và chính trị thường đem đến nhiều rủi ro, trở ngại do sự

thay đổi các chính sách của Chính phủ, các hàng rào thương mại và đầu tư Môi trường văn hóa-xã hội với các yếu tô như thành phần dân số, thị hiếu tiêu dùng, thẩm mỹ, tôn giáo, tập quán sẽ quyết định chiến lược sàn phẩm, cách thức quảng bá, phân phối, cách thức quản trị nguồn nhân lực Môi trường ngành cung

cấp thông tin có thể về khách hàng, nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh giúp doanhnghiệp lựa chọn chiến lược cạnh tranh phù hợp

Như vậy, tìm hiểu môi trường kinh doanh giúp các công ty quốc tế nhìn nhận tổng thểcác yếu tố của môi trường kinh doanh, phân tích đồng bộ các tác nhân ảnh hưởng tronghiện tại và tương lai, từ đó có những quyết định chiến lược nhằm triển khai những lợithế và ngăn ngừa rủi ro, giúp doanh nghiệp thích ứng và phát triển trong môi trườngkinh doanh mới mẻ và xa lạ

Trang 28

2.2 Những yếu tố thuộc môi trường kinh doanh quốc tế

2.2.1 Môi trường chính trị

2.2.1.1 Hệ thống chính trị trên thế giới

Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, hệ thống chính trị là tổng thể những tổ

chức thực hiện quyền lực chính trị được xã hội chính thức thừa nhận Vì vậy, hệ thống

chính trị bao gồm các cơ quan luật pháp, các đảng phái chính trị, các nhóm vận độnghành lang và các công đoàn

Trên thế giới, mỗi quốc gia lại chọn cho mình các tổ chức hệ thống chính trịriêng Trong lịch sử gần đây, hệ thống chính trị trên thế giới được chia thành 3 loại chế

độ chính trị, đó là chế độ chuyên chế, chế độ xã hội chủ nghĩa, và chế độ dân chủ Tuyvậy, cần chú ý rằng sự phân loại này chỉ mang tính chất tương đối Ví dụ, hầu hết cácnền dân chủ đều bao hàm một số yếu tố xã hội chủ nghĩa, hầu hết các cơ chế chuyênchế của thế kỷ XX ngày nay có sự kết hợp của chế độ xã hội chủ nghĩa và chế độ dânchủ

Chế độ xã hội chủ nghĩa (Socialism)

Nguyên lý cơ bản của xã hội chủ nghĩa là vốn và sự giàu có cần phải được sử dụng trước hết như một phương tiện để sản xuất, chứ không phải như một nguồn lợi nhuận

Trang 29

Điều này dựa trên tư tưởng tập thể trong đó cho rằng tổng phúc lợi của mọi người sẽ lớn hơn rất nhiều so với phúc lợi của cá nhân Các nhà xã hội chủ nghĩa tin rằng các nhà tư bản nhận được một khoản lợi nhuận không xứng đáng từ các công nhân của họ, do khoảnlương trả cho các công nhân không thể hiện hết toàn bộ phần lao động, họ đã bỏ ra Vì thế chính phủ cần kiểm soát những phương tiện cơ bản của việc sản xuất, phân phối và hoạt động thương mại

Chế độ dân chủ (democracy)

Chế độ dân chủ trở thành chế độ chính trị ở hầu hết các nền kinh tế tiên tiến trênthế giới Chế độ này có hai đặc trưng cơ bản sau:

- Quyền sở hữu tư nhân: chỉ khả năng sở hữu tài sản và làm giàu bằng tích lũy tư

nhân Tài sản ở đây là tài sản hữu hình, như đất đai, nhà cửa, và tài sản vô hình, như cổphần, hợp đồng, bằng sáng chế, và các tài sản trí tuệ Các chính phủ dân chủ xây dựngmột bộ luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Cá nhân và các doanh nghiệp có quyền sởhữu, sử dụng, mua hoặc bán, và ủy nhiệm chúng cho bất kỳ ai họ muốn Những quyềnnày là hết sức quan trọng vì chúng khuyến khích sự chủ động, tham vọng, và cấp tiến,cũng như tính cần kiệm và mong muốn làm giàu Con người có xu hướng không cónhứng phẩm chất này nếu họ không chắc chắn về việc mình có được kiểm soát tài sản

và lợi nhuận sản sinh từ tài sản của mình hay không

- Quyền lực có giới hạn của chính phủ: chính phủ nơi đây chỉ thực hiện một số

chức năng thiết yếu cơ bản phục vụ cho lợi ích chung của nhân dân như bảo vệ quốcphòng, duy trì luật pháp và trật tự xã hội, quan hệ ngoại giao, xây dựng và bảo trì cơ sở

hạ tầng như đường xá, trường học, và các công trình công cộng Sự kiểm soát và canthiệp của chính phủ đối với các hoạt động kinh tế của cá nhân và các doanh nghiệpđược giảm thiểu Bằng cách cho phép quy luật thị trường chi phối hoạt động kinh tế,các nguồn tài nguyên được đảm bảo phân phối một cách có hiệu quả

Dưới chế độ dân chủ, những mưu cầu của cá nhân và của các doanh nghiệp cóthể không tương đồng với sự công bằng và công lý Do mỗi người có khả năng vànguồn tài chính khác nhau, nên mỗi người có được mức độthành đạt khác nhau, dẫn tớibắt bình đẳng Các nhà phê bình chủ nghĩa dân chủ thuần túy cho rằng khi vượt quágiới hạn bình đẳng, cần có sự can thiệp của chính phủ để bình đẳng hóa sân chơi Hầuhết các chế độ dân chủ đều bao hàm một số yếu tố của xã hội chủ nghĩa, ví dụ như sựcan thiệp của chính phủ vào hoạt động của các cá nhân và doanh nghiệp Xu hướng xãhội chủ nghĩa nổi lên xuất phát từ việc lạm dụng hoặc những ngoại ứng xấu nảy sinhtrong chế độ dân chủ thuần túy

Trang 30

2.2.1.2 Tác động của môi trường chính trị đến kinh doanh quốc tế

Môi trường chính trị có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh quốc tế Tácđộng này có thể là tác động tích cực hoặc không tích cực Nhìn chung, khi môi trườngchính trị mang tính ổn định sẽ là nhân tố thuận lợi thúc đẩy tốt các hoạt động kinhdoanh quốc tế Sự bình ổn của hệ thống chính trị thể hiện trong các yếu tố xung độtchính trị, ngoại giao Thể chế nào có sự bình ổn cao sẽ có thể tạo điều kiện tốt cho việchoạt động kinh doanh trên lãnh thổ của nó Các thể chế bình ổn và không có xung độttạo điều kiện hài hòa hóa chính sách và tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động kinhdoanh quốc tế

Ngược lại khi môi trường chính trị không ổn định, không lành mạnh…sẽ dẫnđến các rủi ro và tác động bất lợi trong việc phát triển hoạt động kinh doanh quốc tếcủa doanh nghiệp Một xã hội càng rối loạn, hay càng tiềm ẩn những bất ổn ngay tronglòng thì nguy cơ rủi ro về chính trị gặp phải ngày càng cao Những bất ổn xã hội biểuhiện rõ ràng dưới hình thức của các cuộc bãi công, biểu tình, khủng bố, và những xungđột vũ lực Nhiều khả năng chúng có thể diễn ra tại các quốc gia nhiều sắc tộc, tạinhững nơi ở đó các hệ tư tưởng đấu tranh lẫn nhau để giành lấy quyền lực chính trị,hoặc là ở những nền kinh tế cơ chế quản lý kém, lạm phát cao, tiêu chuẩn cuộc sốngthấp… Rủi ro chính trị cũng xuất phát từ mâu thuẫn hay xung đột về chính trị giữa cácquốc gia dẫn đến ảnh hưởng tới việc vận hành kinh doanh của các doanh nghiệp Rốiloạn xã hội có thể là nguyên nhân dẫn tới những thay đổi đột ngột trong chính quyền,trong chính sách nhà nước, và một số trường hợp trong cả những cuộc xung đột dânquyền kéo dài Các cuộc xung đột này có những tác động tiêu cực đến mục tiêu lợinhuận kinh tế của một số doanh nghiệp Chẳng hạn, việc Liên bang Nam Tư tan rã,phân chia thành các nước xung khắc, gồm Bosnia, Croatia, và Serbia, đã khiến cho cácnên kinh tế địa phương, cũng như hi vọng thu lợi nhuận từ nguồn đầu tư vào các nềnkinh tế này nhanh chóng sụp đổ Nói chung, thay đổi trong thể chế chính trị có thể dẫnđến việc ban hành những điều luật ít thuận lợi cho hoạt động thương mại quốc tế Ví

dụ như Venezuela, Tổng thống Hugo Chavez đã nắm được quyền lực năm 1998 và táiđắc cử vị trí Tổng thống năm 2000 và 2006 Ông cũng cam kết hỗ trợ người nghèobằng những can thiệp của chính phủ đến việc kinh doanh tư nhân, cùng với đó lêntiếng phê phán, chống lại Chủ nghĩa đế quốc ở Mỹ Những phát biểu này của ông đềuảnh hưởng tới các công ty phương Tây đang hoạt động kinh doanh trong đất nướcngày Song song với nhiều hoạt động khác, Tổng thống Chavez đã tiến hành tăng đặcquyền buộc các công ty dầu khí nước ngoài đang hoạt động ở Venezuela phải nộp chochính phủ nơi đây 1% đến 30% tổng doanh số thu được

Trang 31

Do đó việc nghiên cứu về hệ thống chính trị tại các quốc gia liên quan đến hoạtđộng kinh doanh của các doanh nghiệp đều hết sức cần thiết Khi các doanh nghiệptham gia hoạt động kinh doanh vào một quốc gia theo chế độ dân chủ thì sự tác độngcủa nó sẽ khác biệt so với khi tham gia hoạt động kinh doanh vào một quốc gia theochế độ xã hội chủ nghĩa Với chế độ dân chủ thì chính phủ chỉ thực hiện một số chứcnăng thiết yếu cơ bản phục vụ cho lợi ích chung của nhân dân như bảo vệ quốc phòng,duy trì luật pháp và trật tự xã hội, quan hệ ngoại giao, xây dựng và bảo trì cơ sở hạtầng như đường xá, trường học, và các công trình công cộng và các hoạt động kinh tếđược chi phối bởi quy luật thị trường điều này khiến các doanh nghiệp được cạnh tranhcông bằng với nhau tuy nhiên với chế độ xã hội chủ nghĩa thì các chính sách bảo hộvẫn còn tồn tại khiến các doanh nghiệp nước ngoài sẽ kém lợi thế hơn các doanhnghiệp trong nước

2.2.2 Môi trường pháp luật

Ở mỗi quốc gia, hệ thống pháp luật bao gồm những văn bản luật và những vănbản dưới luật, tạo nên một khung pháp lý cho phép hoặc hạn chế các mối quan hệ cụthể giữa con người và các tổ chức, đưa ra các hình phạt cho những hành vi vi phạm cácquy định của pháp luật Hệ thống pháp luật được xây dựng trên nền tảng của một chế

độ chính trị và được hoàn thiện theo thời gian, phù hợp với sự thay đổi và phát triển vềmặt xã hội, chính trị, kinh tế và công nghệ của mỗi quốc gia cũng như để phù hợp vớiluật pháp quốc tế Các hệ thống chính trị như chế độ chuyên chế, chủ nghĩa xã hội vàchế độ dân chủ cũng có xu hướng tác động đến hệ thống pháp luật tương ứng

Nền dân chủ có xu hướng khuyến khích các lực lượng thị trường và tự do thương mại

Môi trường pháp luật của hoạt động kinh doanh quốc tế không chỉ là hệ thốngluật pháp của một quốc gia mà còn là những quy định pháp lý của các tổ chức quốc tếnhư các Công ước, Hiệp ước hay các Hiệp định Ngoài ra còn có những thỏa thuậnsong phương, đa phương giữa hai hay nhiều quốc gia hoặc khu vực như thỏa thuận vềthương mại, đầu tư hay thỏa thuận đối tác kinh tế, Nếu xét ở khía cạnh đặc điểm hệthống pháp luật trên thế giới, có 5 hình thức Dưới đây là các hình thức hệ thống phápluật tồn tại trên thế giới

2.2.2.1 Hệ thống pháp luật trên thế giới

Trên thế giới có năm hình thức hệ thống luật pháp cơ bản, đó là: Luật án lệ, Luậtdân sự, Luật tôn giáo, Luật xã hội chủ nghĩa và hệ thống luật hỗn hợp Những hệ thốngpháp luật này là nền móng cho các đạo luật và quy định Bảng dưới đây cung cấp một

số ví dụ về các quốc gia nơi những hệ thống pháp luật này có xu hướng thịnh hành

Trang 32

Bảng 2.1 Hệ thống luật chiếm ưu thế tại một số quốc gia trên thế giới

Các hệ thống Luật xã hội CN

Luật tôn giáo Luật Dân sự

Đa số các nướcNga

Hàn quốcBắc Triều Tiên

Anh

Nam phiKazakhstan

Nhật BảnCanada

Thái LanUzbekitan

MexicoMỹ

Sri LankaUkranie

Ấn độ

EthiopiaAzerbaijan

Pakistan

Hồng KoongMoldova

Ghana

BahrainTaiikistan

Nigeria

QuatarKyrgyzstan

Zimbabwe

SingaporeMalaysia

Morcco Tunisia Việt Nam

Ai Cập

Nguồn: S.Tamer Cavusgil and other, International Business – Strategy, Management and the New Reality, Pearson Prentice Hall 2008

Luật án lệ

Luật án lệ (còn được gọi là tiền lệ pháp) là một hệ thống luật pháp có nguồn gốc

từ Anh và lan rộng sang Autralia, canada, Hoa kỳ và những nước cựu thành viên củakhối thịnh vượng chung Cơ sở của luật tiền lệ là theo dõi thực tiễn vừa qua và các tiền

lệ pháp lý do tòa án quốc gia thông qua việc giải thích các quy chế, pháp luật và sựđiều hành trước đó Các quốc gia sử dụng luật tiền lệ (như Viện quý tộc ở Anh và Quốchội Mỹ) nắm giữ quyền lực cuối cùng trong việc thông qua hoặc sửa đổi luật Tại Hoa

kỳ, vì hiến pháp Hoa kỳ rất khó khăn trong việc sửa đổi, tòa án tối cao và thậm chí cáctòa án cấp thấp cũng được hưởng sự linh hoạt đáng kể trong việc diễn giải luật Và bởi

vì luật án lệ cởi mở hơn đối với các quyết định của tòa án, nó có tính linh hoạt hơn các

hệ thống luật pháp khác Như thế, hệ thống tiền lệ pháp có quyền lực đáng kể để diễn

Trang 33

giải pháp luật dựa trên những hoàn cảnh riêng của từng trường hợp cá nhân, bao gồmcác tình huống tranh chấp kinh doanh thương mại khác

Luật dân sự (civil law)

Luật dân sự ra đời tại Pháp, Đức, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ, Mexico và ở Hoa kỳLatin Nguồn gốc của nó xuất phát từ các đạo luật của Rome và bộ luật Napoleon Luật dân sự được căn cứ trên một hệ thống pháp luật đầy đủ và được hệ thống hóa –một cách rõ ràng bằng văn bản và có thể tiếp cận Luật dân sự chia hệ thống pháp luậtlàm 3 bộ luật: thương mại, dân sự và Hình sự Bộ luật được coi là hoàn chỉnh như làkết quả của việc cung cấp đầy đủ các hạng mục và thường gặp ở đa số các hệ thốngLuật Dân sự Các điều luật và nguyên tắc hình thành điểm khởi đầu cho những pháp lý

và thực thi công lý Các quy định đã được hệ thống hóa nổi bật lên với những điều luật

cụ thể và các quy tắc ứng xử được tạo ra bởi cơ quan lập pháp hoặc các cơ quan tối caokhác

Cả 2 hệ thống luật án lệ và Luật Dân sự đều bắt nguồn từ Tây âu và đều đại diệncho các giá trị chung của cộng đồng Tây âu Sự khác biệt chính giữa hai hệ thống làtrong khi luật án lệ chủ yếu xuất phát từ tòa án và được phán xét dựa trên quyết địnhcủa tòa án, thì Luật Dân sự chủ yếu xuất phát từ cơ quan lập pháp và dựa trên nhữngđạo luật được ban hành bởi cơ quan lập pháp quốc gia và địa phương Luật án lệ vàLuật Dân sự đặt ra những sự khác biệt đa dạng trong kinh doanh quốc tế Trong thực

tế, hệ thống luật án lệ nói chung bao gồm các yếu tố của Luật Dân sự và ngược lại Hai

hệ thống này có thể bổ sung cho nhau và các nước sử dụng một trong 2 hệ thốngthường có xu hướng sử dụng một số yếu tố của hệ thống kia

Luật Tôn giáo (Luật Thần quyền)

Luật Tôn giáo (Luật Thần quyền) là một hệ thống pháp lý bị ảnh hưởng rõ rệt củatôn giáo, nguyên tắc đạo lý, và các giá trị đạo đức được xem như là một hiện thân tốicao Hệ thống Luật Tôn giáo quan trọng nhất được dựa trên các đạo luật của Ấn Độgiáo, Do Thái và Hồi giáo Trong số đó, phổ biến nhất là luật Hồi giáo, phổ biến ởTrung Đông, Bắc Phi, và Indonesia Pháp luật Hồi giáo có nguồn gốc từ những quyđịnh của kinh Koran, Kinh thánh của người Hồi giáo và lời dạy của nhà Tiên triMohammed Còn được biết đến với tên gọi Shariah, luật Hồi giáo không phân biệt giatôn giáo và hiến pháp Luật Hồi giáo đưa ra các tiêu chí về các hành vi liên quan đếnchính trị, kinh tế, ngân hàng, hợp đồng, hôn nhân và các vấn đề xã hội khác Luật Hồigiáo điều chỉnh các mối quan hệ giữa con người, giữa người dân và nhà nước, và giữacon người và đấng tối cao Được xem như lời dạy của đấng Tối cao, luật Hồi giáomang tính tuyệt đối và phát triển rất ít theo thời gian

Trang 34

Hầu hết các nước Hồi giáo hiện nay đang duy trì một hệ thống kép, nơi tôn giáo

và tòa án hiến pháp cùng tồn tại Các quốc gia khác có đông dân cư Hồi giáo nhưIndonesia, Bangladesh, và Pakistan, hiện nay đã có hiến pháp thế tục và các đạo luật.Thổ Nhĩ Kì, một quốc gia khác với số lượng tôn dân cư Hồi giáo đã có hiếnpháp thếtục vững chắc Arab Sau di và fran là các nước mà ở đó các tòa án tôn giáo có thẩmquyền trên cả luật pháp

Quan điểm truyền thống của Luật Tôn giáo phản đối mọi sự tự do và hiện đại hóatại các nước theo đạo Hồi Ví dụ như, quy định nghiêm khắc của luật Hồi giáo nghiêmcấm cho và nhận lãi suất vay hay đầu tư Như vậy, đê tuân theo luật Hồi giáo, các ngânhàng không thể cho vay lấy lãi như thông lệ mà phải thu lợi nhuận bằng cách tính lệphí hành chính hoặc mức lợi nhuận hợp lý trong các dự án tài chính mà họ cấp vốn Nhiều ngân hàng phương Tây, như Citibank, JP và Ngân hàng Deutsche- có cácchi nhánh ở các nước Hồi giáo phải tuân thủ Luật Shariah Các quốc gia Hồi giáo như Malaysia đã ban hành trái phiếu Hồi giáo cho hưởng lợi tức từ tài sản, ví dụ như tài sảncho thuê thay vì trả lãi suất

Luật Xã hội chủ nghĩa

Luật Xã hội chủ nghĩa là một hệ thống pháp lý thường gặp chủ yếu ở các nướccựu thành viên của Liên Bang Xô Viết, Trung Quốc và một số ít nước châu Phi Nóđược dựa trên Luật Dân sự, kết hợp với các yếu tố của nguyên tắc xã hội chủ nghĩa mànhấn mạnh quyền sở hữu tài sản của nhà nước Các quyền hành của nhà nước đượcnhấn mạnh hơn của các cá nhân Các nước xã hội chủ nghĩa có xu hướng coi tài sản vàquyền sở hữu trí tuệ chặt chẽ hơn so với những nước áp dụng Luật Dân sự hoặc luậttiền lệ Với sự sụp đổ của Liên Bang Xô Viết và sự chuyển đổi của Trung Quốc đối vớichủ nghĩa tư bản, Luật Xã hội chủ nghĩa đang lan dần tới phương Tây Vì các nước này

áp dụng nguyên tắc thị trường tự do, hệ thống pháp luật của họ ngày càng kết hợpnhiều hơn các yếu tố bổ sung của Luật Dân sự

Luật hỗn hợp

Luật hỗn hợp đề cập đến một biến thể của 2 hoặc nhiều hệ thống pháp lý điềuhành với nhau Ở đa số các quốc gia, hệ thống pháp luật tiến hóa theo thời gian, ápdụng các yếu tổ của một hay nhiều hệ thống nhằm đáp ứng nhu cầu riêng của họ Sựtương phản giữa Luật Dân sự và luật án lệ đã trở thành đặc biệt lu mờ vì có rất nhiềuquốc gia kết hợp cả 2 hệ thống Ngoài ra, hệ thống pháp lý ở Đông âu thường kết hợpcác yếu tố của Luật Dân sự và Luật Xã hội chủ nghĩa Hệ thống pháp lý tại Lebanon,

Ma rốc và Tunisia thì áp dụng cả các yếu tố của Luật Dân sự và luật Hồi giáo

2.2.2.2 Tác động của môi trường pháp luật đến kinh doanh quốc tế

Trang 35

Tác động thuận chiều

Hoạt động kinh doanh quốc tế được thực hiện trong khuôn khổ pháp lý xácđịnh, chịu sự điều chỉnh của luật pháp quốc gia và quốc tế Vì vậy, môi trường phápluật có tác động trực tiếp tới hoạt động kinh doanh quốc tế của doanh nghiệp

Hệ thống pháp luật giúp cho các hoạt động kinh doanh nói chung và kinh doanhquốc tế nói riêng được diễn ra theo nguyên tắc, trật tự, đảm bảo lợi ích về cả kinh tế và

xã hội cho doanh nghiệp và cho toàn bộ nền kinh tế Chẳng hạn những quy định về thủtục đăng ký kinh doanh, điều kiện kinh doanh giúp doanh nghiệp hiểu quy trình thủ tụccủa việc đăng ký kinh doanh và thành lập doanh nghiệp, những mặt hàng hay lĩnh vựcdoanh nghiệp được phép và không được phép kinh doanh Hay những quy định về vệsinh dịch tễ giúp doanh nghiệp thực hiện việc kinh doanh những sản phẩm được đảmbảo về mặt vệ sinh dịch tễ, thông qua đó vừa đảm bảo uy tín của doanh nghiệp, vừađảm bảo lợi ích cho người tiêu dùng

Một môi trường pháp lý minh bạch, khả đoán sẽ có tác động tích cực tới hoạtđộng kinh doanh của các doanh nghiệp, giúp cho hoạt động của các doanh nghiệp đượcthực hiện một cách thuận lợi, dễ dàng Ví dụ những quy định về thủ tục hải quan, vềthuế xuất nhập khẩu đảm bảo tính rõ ràng, dễ dự đoán sẽ giúp doanh nghiệp thuận lợitrong quá trình làm thủ tục hải quan cho hàng hóa

Ngoài ra, hệ thống pháp luật càng đầy đủ và hoàn thiện, đơn giản, dễ hiểu, dễthực hiện sẽ giúp cho hoạt động kinh doanh trở nên hiệu quả hơn

Tác động nghịch chiều

Bên cạnh những tác động tích cực, môi trường pháp luật có thể có những tácđộng không tích cực tới hoạt động kinh doanh quốc tế của doanh nghiệp Đó là khi hệthống văn bản pháp luật liên quan điều chỉnh một lĩnh vực cụ thể chưa đảm bảo tínhđầy đủ, tính thống nhất, tính minh bạch, đó là rào cản đáng kể cho các doanh nghiệpkhi thực hiện hoạt động kinh doanh Đối với các doanh nghiệp thực hiện hoạt độngkinh doanh quốc tế dễ gặp phải một tác động không tích cực khác từ môi trường phápluật đó là sự khác biệt giữa các quốc gia về những quy định pháp lý Ví dụ, quy định

về chống bán phá giá của Hoa kỳ có một số khác biệt so với luật pháp của nhiều quốcgia khác và với ngay cả Hiệp định ADA của WTO, điển hình là quy định cho phép sửdụng quy tắc zeroing trong việc xác định biên độ phá giá – cơ sở để tính thuế chốngbán phá giá Ngoài ra, một hệ thống pháp luật liên tục được thay đổi, điều chỉnh cũng

là một trở ngại lớn cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp

Trang 36

2.2.3 Môi trường kinh tế

Môi trường kinh tế bao gồm rất nhiều yếu tố Trước hết, nhà kinh doanh cần biếtnền kinh tế của một quốc gia đang được vận hành theo cơ chế nào, kinh tế thị trườnghay kinh tế kế hoạch hóa tập trung, hay là nền kinh tế hỗn hợp Bên cạnh đó, nhà kinhdoanh quan tâm đến những yếu tố khác của môi trường kinh tế như tốc độ tăng trưởngtheo thời gian, thu nhập bình quân/ người, biến động của lãi suất, tỷ giá, cơ cấu kinhtế… Tùy thuộc nhà kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực gì, hình thức nào để quan tâmtới những chỉ tiêu cụ thể phù hợp với hình thức và mục đích kinh doanh của mình Phần dưới đây giới thiệu về hệ thống nền kinh tế trên thế giới và một số yếu tốthuộc môi trường kinh tế

2.2.3.1 Hệ thống nền kinh tế trên thế giới

Hệ thống kinh tế là một cơ chế liên quan đến sản xuất, phân phối và tiêu dùnghàng hóa và dịch vụ Nó bao gồm các cấu trúc và các quá trình hướng dẫn phân phốicác nguồn lực và hình thành nguyên tắc hoạt động kinh doanh trong một đất nước Hệthống chính trị và hệ thống kinh tế có liên quan chặt chẽ đến nhau Hiện nay có haihình thức hệ thống kinh tế phổ biến là hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa và hệ thốngkinh tế xã hội chủ nghĩa Sự khác biệt chủ yếu giữa hai hệ thống này được thể hiện rõtrong các yếu tố như quyền sở hữu và chi phối các nhân tố sản xuất cũng như quyền tự

do định giá để cân bằng cung cầu

Có nhiều ví dụ để diễn đạt khái niệm kinh tế chủ nghĩa tư bản hoặc chủ nghĩacộng sản Thay vào đó, nhà quản lý sử dụng những nguyên tắc của cả hai tư tưởng này

để phân chia những hệ thống kinh tế hiện hành thành: nền kinh tế thị trường, kinh tếtập trung và kinh tế hỗn hợp nhằm định nghĩa môi trường kinh doanh trên thế giới

Kinh tế thị trường

Kinh tế thị trường là một hệ thống trong đó các cá nhân chứ không phải là chínhphủ sẽ quyết định các vấn đề kinh tế Mọi người có quyền tự do lựa chọn làm việc gì, ởđâu, tiêu dùng hay tiết kiệm như thế nào và nên tiêu dùng bây giờ hay sau này Nhưvậy, trong một nền kinh tế thị trường, khu vực kinh tế tư nhân được tự do phát triển.Quan điểm này dựa trên nguyên tắc cho phép tư nhân tự do kinh doanh và nên để thịtrường tự quyết định Thoát khỏi các quy định của nhà nước, một thị trường tự do sẽquyết định một các hiệu quả mối quan hệ giữa giá, số lượng, cung và cầu

Bởi vì các cá nhân đưa ra các quyết định cho nên nền kinh tế thị trường sẽ phụthuộc vào cá nhân và doanh nghiệp sở hữu và chi phối các nguồn lực hơn là chính phủ.Chỉ có quyền sở hữu tư mới giúp cho hệ thống kinh tế kiểu này phân bố được các nhân

tố sản xuất, hay như Adam Smith gọi là bàn tay vô hình đã hướng dẫn các cá nhân

Trang 37

hưởng quyền lợi hành động một cách hiệu quả Do đó, “sự thống trị của người tiêudùng”, hay nói theo cách khác là ảnh hưởng của người tiêu dùng lên phân bố cácnguồn lực thông qua nhu cầu với sản phẩm, chính là cơ sở nền tảng của nền kinh tế thịtrường

Một nền kinh tế thị trường phụ thuộc rất ít vào những quy định của chính phủ.Nhà nước càng can thiệp nhiều thì thị trường càng hoạt động kém hiệu quả hơn Tuynhiên, “bàn tay vô hình” cũng không phải là không có hạn chế, ví dụ như nhu cầu cácsản phẩm công (như đèn giao thông hay quốc phòng hoặc các quy định về bảo vệ môitrường) thường không hấp dẫn với các nhà đầu tư nhưng lại vô cùng quan trọng vớimột quốc gia

Do đó, một thị trường tự do vẫn cần đến hoạt động của nhà nước để đảm bảo hieeuhlực cho hợp đồng, bảo vệ quyền sở hữu, đảm bảo cạnh tranh công bằng và tự do, quản

lý một vài hoạt động kinh tế nhất định và đảm bảo an ninh, trật tự xã hội

Kinh tế tập trung

Một nền kinh tế tập trung là hệ thống kinh tế trong đó nhà nước sở hữu chi phốimọi nguồn lực Có nghĩa là, nhà nước có quyền quyết định hàng hóa và dịch vụ nàođược sản xuất, với một số lượng bao nhiêu, chất lượng như thế nào và giá cả ra sao Ví

dụ, trong một nền kinh tế thị trường, nếu chính phủ muốn có được nhiều ô tô hơn,chính phủ đó phải thu thuế và mua xe từ thị trường Còn trong nền kinh tế tập trung,bàn tay vô hình của chính phủ sẽ yêu cầu các nhà sản xuất trong ô tô do nhà nước sởhữu và điều khiển phải sản xuất nhiều xe hơn mà không cần quan tâm đến giá cả Những nền kinh tế tập trung có nhiều nhược điểm Việc Nhà nước sở hữu cácphương tiện sản xuất – đất đai, nông trai, nhà xưởng, ngân hàng, cửa hàng, bệnhviên… các phương tiện này lại được quản lý bởi các nhân viên làm việc cho chính phủ.Kết quả là, giá cả của dịch vụ và hàng hóa không có nhiều biến động trong một nềnkinh tế tập trung, bởi vì chính là các quan chức chính phủ chứ không phải người tiêudùng quyết định điều này Tuy nhiên, chất lượng thì lại có xu hướng thay đổi rất nhanh,thường là tệ đitheo thời gian do ít nhất là một trong 3 nguyên nhân sau:

- Hầu hết các sản phẩm được cung cấp số lượng ít

- Người tiêu dùng về cơ bản là không có hoặc có ít lựa chọn thay thế

- Không có nhiều động lực để nhà sản xuất cải tiến, đầu tư hay nâng cấp

Nền kinh tế tập trung có thể hoạt động tốt trong ngắn hạn, đặc biệt là trong quátrình tăng trưởng bởi nhà nước có khả năng di chuyển những nguồn lực chưa đượckhai thác hay khai thác chưa hiệu quả để tạo ra tăng trưởng Tốc độ tăng trưởng ấntượng có thể đạt được cho đến khi những nguồn lực chưa được sử dụng được đem vào

Trang 38

hoạt động hiệu quả (chủ yếu là nguồn lao động) Tương tự như vậy, các nước kinh tếtập trung có xu hướng phát triển những ngành sản xuất đòi hỏi quy mô và vốn lớn để

có được lợi nhuận cao nhưng lại chỉ sản xuất các sản phẩm không có lợi thế cạnhtranh với nước ngoài với chất lượng chỉ ở mức chấp nhận được

Kinh tế hỗn hợp

Trong thực tế, không có một mô hình kinh tế nào là hoàn toàn tự do hay tậptrung Thay vào đó, hầu hết các nền kinh tế có thể được coi là kinh tế hỗn hợp, cónghĩa là rơi vào khoảng giữa của thang phân cực kinh- tế tu bản - kinh tế xã hội chủnghĩa Một nền kinh tế hỗn hợp là kinh tế mà hầu hết do thị trường quyết định, và hìnhthức sở hữu tư nhân là phổ biến hơn, nhưng vẫn có can thiệp của nhà nước vào cácquyết định cá nhân

Như vậy hình thức kinh tế hỗn hợp có những yếu tố của cả kinh tế thị trường vàkinh tế tập trung - nhà nước sở hữu các nhân tố kinh tế quan trọng trong khi người tiêudùng và các công ty tư nhân có thể ảnh hưởng đến giá cả, chất lượng hàng hóa Ví dụ,chính phủ có thể sở hữu các công ty sản xuất Ô tô Những thay vì yêu cầu các nhàquản lý phải bán mỗi chiếc xe với giá bao nhiêu, chính phủ để cung cầu thị trườngquyết đinh giá bán Của xe Các nước được xếp vào hang các nền kinh tế hỗn hợp tiêubiểu gồm có Nam Phi, Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp, Braxin, Đức và ấn Độ

2.2.3.2 Các chỉ số phân tích môi trường kinh tế

Có nhiều chí số kinh tế được sử dụng để đánh giá hiệu năng và tiềm năng của nềnkinh tế một đất nước Một số trong đó có thể là các chỉ số không chính thống hoặc đặctrưng cho từng nước - ví dụ - lượng điện thoại không dây hoặc vòng đời của một tờbáo Trên thực tế, khi dự đinh kinh doanh ở nước ngoài, nhà kinh doanh cân khởi sựxem xét giá trị tiền tệ của dòng hàng hóa dịch vụ trong nền kinh tế quốc gia, sau đó làcác vấn đề khác như tốc độ tăng trường, phân phối thu nhập, lạm phát, thất nghiệp, tiềnlương, năng suất, nợ và cán cân thanh toán Giờ đây chúng ta sẽ xem xét cụ thể các yếu

tố này

Tổng thu nhập quốc gia

Tổng thu nhập quốc gia (Gross National Income - GNI) là thu nhập tạo bởi tất cảcác hoạt động sản xuất trong nước và quốc tế của các công ty một quốc gia GNI là giátrị của mọi hoạt động sản xuất của nền kinh tế nội địa cộng với thu nhập ròng (như tiềnthuê lợi nhuận, thu nhập nhân công) từ nước ngoài trong vòng 1 năm Về mặt kỹ thuật,GNI là giá trị thị trường 'của mọi hàng hóa dịch vụ mới được sản xuất bởi các nhân tốsản xuất trong nước

Trang 39

Tổng sản phẩm nội địa (GDP): GNI là thước đo bao quát nhất của các hoạt động

kinh tếtrong một nước Một phần cơ bản cấu thành GNI là tổng sản phẩm nội địa(Gross Domestic Product - GDP) GDP là tổng giá trị của mọi hàng hóa dịch vụ đượcsản xuất trong biên giới của một quốc gia trong vòng 1 năm, không phân biệt các chủthể kinh tế nội địa hay nước ngoài Do đó, GDP đặc biệt có ích khi kinh doanh quốc tếđóng góp đáng kể trong nền kinh tế của các nước được đánh giá

Một cách kỹ thuật, khi ta lấy GDP cộng với thu nhập từ xuất nhập khẩu, các hoạtđộng quốc tế của các công ty trong quốc gia sẽ được GNI GNI là thước đo trực tiếp vềquy mô tuyệt đối của nền kinh tế Tuy nhiên, nếu chỉ sử dụng GNI, các nhà kinh doanh

có thể làm lẫn trong việc lựa chọn quốc gia để kinh doanh Ví dụ, các cường quốc kinh

tế như Hoa Kỳ, Nhật Bản và Đức đều đứng ở đầu bảng xếp hạng về GNI, gây ấn tượng

là các quốc gia nảy giàu có hơn nhiều các nước 1 như Ireland hoặc Luxembourg Vìvậy, các nhà quản lý nên sử dụng GNI bằng cách kết hợp chỉ tiêu này với dân số, tốc

độ phát triển, chi phí sinh hoạt địa phương và sự bền vững của nền kinh tế

Tính toán các chỉ số trên đầu người: Cách phổ biến nhất là chia GNI cũng như

nhiêu chỉ báo kinh tế khác theo số người sống trong một quốc gia để tìm ra chỉ số GNI/GDP… dựa trên đầu người Những chỉ số ngày có thể cho biết GNI/GDP tươngđối của quốc gia Một cách kỹ thuật, ta tính GNI trên đầu người bằng cách chia giá trịcủa GNI đã được chuyển đổi sang một đồng tiền tiêu chuẩn, ví dụ như đồng USD, theo

tỷ giá hối đoái phổ biến, rồi chia cho dân số

Chỉ số này và các chỉ số khác cho thấy hiệu năng của nền kinh tế trên cơ sở sốngười sống trong một nước Ví du, Luxembourg, một nước có nền kinh tế nhỏ nhất thếgiới, giá trị tuyệt đối GNI khá thấp, nhưng GNI trên đầu người lại cao nhất thế giới Ngân hàng Thế giới gọi các nước thu nhập thấp và trung bình thấp là các nướcđang phát triển - developing countries Một số nhà phân tích gọi đây là các nước mớinổi - emerging countries hoặc các nền kinh tế mới nổi - emerging economies Đây lànhóm có số lượng quốc gia và dân cư lớn nhất trên thế giới từ trước đến giờ Các quốcgia thu nhập cao gọi là các nước phát triển (developed countries), hoặc các nước côngnghiệp (industrial countries) Nhìn chung, các quốc gia thu nhập cao nằm ở một số khuvực nhất định, chủ yếu là Ở Nhật Bản, Australia, New Zealand, Canada, Hoa Kỳ và Tây âu Các nước này hiện chiếm 15% dân số nhưng chiếm tới 75% GNI của thế giới.Các nước thu nhập thấp trải rộng trên khắp thế giới, từ châu Á đến châu Phi, Nam Hoa

Kỳ và khu vực Thái Bình Dương Những nước này chỉ chiếm một phần nhỏ trong GNIthế giới và có GNI đầu người từ mức dưới 100 đến dưới 1000 USD

Tỉ lệ thay đổi: các chỉ số như GNI, GDP, các chỉ số trên đầu người cho chúng ta

biết kết quả hoạt động trong năm của một quốc gia, nhưng không cho biết sự biến động

Trang 40

của các chỉ số này Việc nghiên cứu tình hình hiện tại và dự đoán hiệu quả kinh tếtương lại đòi hỏi xác định tỉ lệ của các thay đổi Ví dụ, từ năm 1998 đến 2002, Ireland

là nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới, với tốc độ 8% một năm, còn Nhật Bản,ngược lại, là nền kinh tế chậm phát triển nhất với chỉ 0.2%/năm trong cùng thời kỳ.Nhìn chung, tỉ lệ tăng trưởng GNI cho thấy tiềm năng của nền kinh tế - nếu GNI tăngvới mức nhanh hơn (hoặc thấp hơn) mức tăng dân số, mức sống của người dân sẽ tănglên (hoặc giảm đi) Tỉ lệ tăng trưởng GNI cũng thể hiện các cơ hội kinh doanh Ví dụ,Trung Quốc là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất trong vòng 25 nămtrở lại đây với tốc độ trung bình là 9% trong vài năm gần đây Sự tăng trưởng này dẫnđến tốc độ giảm mức nghèo đói mà chưa quốc gia nào tùng thấy, và hấp dẫn nguồn đầu

tư nước ngoài khổng lồ Sự xuất hiện của nền kinh tế mới nổi như ấn độ, các nướcĐông á cũng kích thích sự tăng mức sống

Sức mua tương đương (Purchasing Power Parity - PPP): Các nhà quản lý khi so

sánh giữa các thị trường thường chuyển đổi chỉ số GNI của nước ngoài về đồng tiềncủa nước họ Ví dụ, khi chuyển đồng rupi ấn Độ sang USD với tỷ giá chính thức, GNIđầu người của ấn Độ năm 2008 chỉ ở khoảng hơn 1 070 USD so với mức 47.580USDcủa Mỹ Khoảng cách này cho thấy sự khác biệt lớn giữa hai nước Tuy nhiên, cáchchuyển đổi này quá đơn giản Tỷ giá hối đoái cho ta biết bao nhiêu đồng tiền này đổiđược 1 đồng tiền kia, ví dụ, bao nhiêu rubi ấn Độ đổi được một USD Tuy nhiên, tỷ giáhối đoái không cho ta biết đồng tiền nội địa kia mua được cái gì ở Hoa Kỳ Nói cáchkhác, cách tính GNI theo đầu người không xem xét đến sự khác nhau giữa chi phí sốnggiữa các nước mà giả định một USD ở Chicago có một “sức mua” giống như 1

USD ở Mumbai (trước đây là Bom bay), cho dù chi phí sinh hoạt ở Hoa Kỳ và ấn Độkhác nhau Bởi thế, GNI đầu người không thể cho ta biết người ta có thể mua được baonhiêu hàng hóa dịch vụ với một đơn vị thu nhập ở đất nước này với một đất nước khác

Vì vậy cần điều chỉnh GNI đầu người theo từng nước riêng biệt dựa trên sức muatương đương (purchasing power parity - PPP) Về mặt tính toán, PPP là số đơn vị tiền

tệ của một quốc gia cần thiết để mua cùng một khối lượng hàng hóa dịch vụ trong thịtrường nội địa của một nước khác Rõ hơn, ta tính PPP bằng cách ước lượng trị giá củamột "rổ" hàng hóa (như xà bông, bánh mỹ và quần áo), dịch vụ (như điện thoại, điện

và năng lượng) có thể mua được bằng đồng tiền của một nước Kết quả ước lượng củaGNI đầu người dựa trên sức mua của một nước cho ta thấy người tiêu dùng địa phương

có thể mua những gì với một đơn vị thu nhập Giá cả rổ hàng hóa ở Hoa Kỳ thườngđược coi là tiêu chuẩn để chuyển đổi PPP của các quốc gia khác!

Mức độ phát triển con người: Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng các chỉ số như

GNI, PPP… quá tập trung vào tăng trưởng chỉ dựa trên các chỉ báo về tiền tệ mà bỏ

Ngày đăng: 20/02/2022, 19:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w