THỜI KỲ JOMON THỜI KỲ SƠ KHAI 14000 – 4000 TCN Vào thời kỳ này, khí hậu ấm dần lên bắt đầu vào Đồ gốm sành nhất Đồ gốm của thời kỳ này đã được các nhà khảo cổ học phân loại thành khoảng
Trang 1JAPANESE HISTORY
CỔ ĐẠI
Presented by Onii-chan~~
Trang 2ĐIỀU KIỆN TỰ
NHIÊN
VỀ VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
THỜI KỲ YAYOI
THỜI ĐẠI DI SINH
Trang 3NHẬT BẢN ( 日本 )
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
Trang 4- Hokkaido
- Honshu
- Shikoku
- Kyushu
Trang 5250AC-538AC
Trang 6THỜI KỲ JOMON
(Tức là hoa văn in dấu thừng
trên gốm)
0 2
Trang 7● Cách đây hơn 10.000 năm lãnh thổ
Nhật Bản và đất liền nối nhau ở phía
nam qua Hàn Quốc và phía bắc qua
Hokkaido và Sakhalin tạo thành một
biển nội địa ở giữa
● Những tổ tiên xa của tộc người Ainu
của Nhật Bản hiện đại những thành
viên đa dạng của nền văn hóa Jomon
Trang 81 TCN như kê, kiều mạch, cây gai dầu.
Thời kỳ Jōmon, bao gồm một khoảng thời gian lớn, tạo thành thời kỳ đồ
đá mới của Nhật Bản. Tên của nó bắt nguồn từ "dấu dây" đặc
trưng cho đồ gốm được làm trong thời gian này.
Người Jōmon bán định canh, chủ yếu sống trong những ngôi nhà hầm hố được bố trí xung quanh các không gian
mở trung tâm, và kiếm thức ăn bằng cách hái lượm, câu cá và săn bắn
Do thời kỳ Jōmon kéo dài quá lâu
và rất đa dạng về văn hóa nên các
nhà sử học và khảo cổ học thường chia nó thành các giai đoạn sau:
● Thời kỳ sơ khai ( 14000 –
4000 TCN)
● Thời kì đầu Jomon
(4000-2500 TCN)
● Thời kỳ giữa Jōmon (khoảng 2500–
1500 TCN )
● Thời kỳ cuối Jomon (1500-900/300 TCN)
Trang 9THỜI KỲ JOMON THỜI KỲ SƠ KHAI (14000 –
tự kiếm ăn thông qua săn bắt và hái lượm. Họ sản xuất đồ đựng đồ gốm sâu có đáy nhọn và vạch dây thô sơ — một trong những ví dụ lâu đời nhất về đồ gốm được biết đến trên thế giới
Nền văn hóa Jomon-Văn hóa sơ khai của người
Nhật Bản
Trang 10Khi những chiếc bát sau này ngày càng tăng về kích thước, đây được coi là dấu hiệu của một kiểu sống ngày càng
ổn định Các loại hình này tiếp tục phát triển, với các hoa văn trang trí ngày càng phức tạp, các đường viền nhấp nhô và đáy phẳng để chúng có thể đứng vững trên một bề mặt
THỜI KỲ JOMON
THỜI KỲ SƠ KHAI (14000 –
4000 TCN)
Vào thời kỳ này, khí hậu
ấm dần lên bắt đầu vào
Đồ gốm sành nhất
Đồ gốm của thời
kỳ này đã được các nhà khảo cổ học phân loại thành khoảng 70 kiểu
Tính cổ xưa của gốm Jōmon lần đầu tiên được xác định sau Thế chiến thứ hai, thông qua phương pháp xác định niên đại bằng cacbon phóng xạ Những chiếc
bình cổ nhất chủ yếu là những chiếc bát
có đáy tròn nhỏ, cao 10–50 cm, được cho
là đã được sử dụng để đun sôi thức ăn và
có lẽ là để đựng thức ăn trước đó
Trang 11ràng. Ở vùng Tohoku và vùng phía nam
Hokkaido, hoa văn đã thay đổi
từ loại ấn tượng,
ấn tượng vỏ và cuối cùng là loại
ấn tượng dây. Hầu hết đồ gốm có đáy nhọn
Đồ gốm độc nhất vô nhị (Địa điểm Odai- Yamamoto)
Đồ gốm thời tiền Jomon (
8000 - 10000 TCN ),
Bảo tàng quốc gia Tokyo ,
Nhật Bản
Đồ gốm kiểu Akamido (Choshichiya chi Shell Midden)
Trang 12● Sự mở rộng dân số
Vào cuối giai đoạn sơ khai Jōmon , khoảng
năm 8000 TCN , lối sống bán ít vận động
đã dẫn đến sự gia tăng mật độ dân số, do
đó, giai đoạn tiếp theo, thời kỳ đầu
Jōmon, thể hiện một số mật độ cao nhất
được biết đến với các quần thể kiếm ăn
Các nghiên cứu lập bản đồ gen đã chỉ ra
một mô hình phát triển gen từ khu vực
của Biển Nhật Bản về phía phần còn lại
của Đông Á
● Nông nghiệp sơ khai
Nghề trồng trọt đã được thực hiện dưới hình thức chăm sóc những cây sơn mài và quả hạch cây sản xuất, cũng như đậu tương , bầu chai , cây gai dầu , tía tô , adzuki , trong số những người khác
Một giống đào đã được thuần hóa xuất hiện rất sớm tại các địa điểm ở thời kì Jōmon (4700 –4400 TCN ) Điều này tương
tự với các hình thức trồng trọt hiện đại Loại đào này đã được đưa vào Nhật Bản
từ Trung Quốc
THỜI KỲ JOMON
( Thời kỳ sơ khai ( 14000 – 4000 TCN)
Trang 13Những giai đoạn chính:
trí
Đồ gốm
Được tạo hình
từ đất sét nung, nhưng do kĩ thuật còn hạn chế nên hình thức ban đầu chỉ giới hạn ở bình và bát đơn giản
Tượng Dogu
THỜI KỲ JOMON
● Thời kì đầu Jomon
(4000-2500 TCN)
Trang 14● Sinh hoạt
Ở giai đoạn này giỏ dệt, bình nấu, các vật dụng lưu trữ bằng đất nung được chế tạo để sử dụng thường xuyên Có bằng chứng cho thấy rằng họ thường xuyên buôn bán, trao đổi hàng hóa với những người thuộc bán đảo Triều Tiên
THỜI KỲ JOMON Thời kì đầu Jomon
(4000-2500 TCN)
● Nghi lễ & Tín ngưỡng
Người Jomon đã chôn trẻ sơ sinh trong những chiếc bình lớn,
chôn người lớn bên trong hố và gò vỏ sò gần các ngôi làng,
đồng thời đặt các lễ vật nghi lễ và các đồ trang trí khác trong
các ngôi mộ từ giữa đến cuối thời kỳ Jomon
Đến giai đoạn giữa giữa, các bức tượng nhỏ trở nên phổ biến
và nhiều hơn, và đến giai đoạn cuối Jomon, các bức tượng
nhỏ có được các đặc điểm ba chiều. Nhiều nhân vật như vậy
mô tả phụ nữ mang thai với hy vọng thúc đẩy khả năng sinh
sản hoặc họ mô tả những người bình thường mà đôi khi bị suy
sụp với niềm tin rằng bất kỳ điều gì xui xẻo hoặc bệnh tật sẽ
chuyển sang bức tượng và bỏ lỡ người sống mà nó đại diện
Một thực tế phổ biến đối với nam giới bước vào tuổi dậy thì
là nhổ răng theo nghi thức mà không rõ lý do.
Trang 15Ở miền bắc Nhật Bản, một số vòng tròn đá đã được tìm thấy xung quanh các ngôi làng có từ thời Jomon, không ai rõ mục đích của những vòng tròn ấy nhưng theo lý thuyết là để săn bắn hoặc câu
Trang 16THỜI KỲ JOMON
Thời kì giữa Jomon ( khoảng 2500–
1500 TCN )
Thời kỳ này đánh dấu
đỉnh cao của nền văn hóa
Jomon về sự gia tăng dân
số và sản xuất hàng thủ
công mỹ nghệ
Khí hậu ấm lên đạt đỉnh
nhiệt độ trong thời kỳ
này, gây ra sự di chuyển
của các cộng đồng vào
các vùng núi
Khí hậu ấm lên đạt đỉnh
nhiệt độ trong thời kỳ
này, gây ra sự di chuyển
của các cộng đồng vào
các vùng núi.
Các đống rác thải chỉ ra rằng người dân đã ít vận động trong thời gian dài và sống trong các cộng đồng lớn hơn; họ đánh bắt, săn bắt động vật như nai, gấu, thỏ và vịt, và thu lượm các loại hạt, quả mọng, nấm và mùi tây
Sự gia tăng trong các thực hành nghi lễ thể hiện ở việc gia tăng sản xuất tượng phụ nữ và các hình tượng bằng đá, cũng như tục chôn cất người
đã khuất trong các gò vỏ sò
Các dấu hiệu của nền nông nghiệp sơ khai có thể được phát hiện trong thời kỳ này, nhưng điều này có thể liên quan đến việc định cư gần các loài thực vật hoang dã và lưu giữ chúng một cách hiệu quả.
Những chiếc tàu bắt đầu có những
phương án trang trí nặng nề sử dụng đất sét. Việc sử dụng tàu cho các mục đích ngoài nấu ăn và lưu trữ cũng được lưu ý
Trang 17Các bức tượng nhỏ và bình gốm được trang trí công phu, chẳng hạn như cái gọi là bình "kiểu ngọn lửa", và các đồ vật bằng gỗ sơn mài vẫn còn từ thời đó Mặc dù đồ trang trí của đồ gốm ngày càng tăng theo thời gian, nhưng vải gốm vẫn luôn khá thô.
Thời kỳ này chứng kiến sự phức tạp ngày càng tăng trong thiết kế của nhà hầm , phương pháp nhà
ở thông dụng nhất vào thời điểm
đó, thậm chí một số còn có sàn lát đá
Được tái tạo các tòa nhà ở Địa
điểm Sannai-Maruyama , Tỉnh
Thời kì giữa Jomon ( khoảng 2500–
1500 TCN )
Trang 18Sau 1500 TCN , khí hậu nguội đi và các quần thể dường như đã giảm đi đáng kể Tương đối ít địa điểm khảo cổ có thể được tìm thấy sau năm 1500 trước Công
nguyên.
Trong thời kỳ Jōmon cuối cùng, một sự thay đổi chậm chạp đang diễn ra ở miền tây Nhật Bản: tiếp xúc ngày càng tăng với Bán đảo Triều Tiên cuối cùng dẫn đến việc thành lập các khu định cư kiểu Triều Tiên
ở miền tây Kyushu, bắt đầu khoảng 900 TCN
Những người định cư đã mang theo
những công nghệ mới Các khu định cư của những người mới đến này dường như
đã cùng tồn tại với các khu định cư của
THỜI KỲ JOMON Thời kì cuối Jomon
(1500-900/300 TCN)
Trang 19THỜI KỲ
0
3
Trang 20TỔNG QUAN
● Thời kỳ Yayoi được đặt theo tên một vùng của Tokyo nơi các nhà khảo cổ tìm
ra những di chỉ thuộc thời đại này
● Theo khảo cổ học, thời kỳ Yayoi được đánh dấu bởi việc bắt đầu trồng lúa nước trên đồng ruộng và một phong cách đồ gốm mới Nối tiếp thời kỳ Jomon (10.000 TCN đến 300 TCN), văn hóa Yayoi phát triển ở miền nam
Kyushu và miền bắc Honshu.
● Đây là thời kì của nông nghiệp tập trung và sử dụng đồ đồng , đồ sắt và tên thời kì này được đặt xuất phát từ tên của khu phố Yayoi ở Tokyo nơi phát quật được các đồ đất nung mang đặc trưng của thời kì này.
Trang 21NGUỒN GỐC
Nguồn gốc từ Trung Quốc:
● Một học thuyết ra đời vào đầu thời kỳ
Minh Trị cho rằng văn hóa Yayoi do
những người di cư từ Trung Quốc mang
đến Nhật Bản
● Ba biểu tượng lớn của văn hóa
Yayoi:gương và kiếm bằng đồng cùng
chiếc ấn hoàng gia, cũng chính là
những biểu tượng được sử dụng dưới
thời nhà Tần ở Trung Quốc.
<Gươm bằng đồng thời Yayoi, thế kỷ I-II, tìm thấy ở
Kyushu>
Trang 22Từ năm 1996 - 1999, một đoàn khảo cổ đã so sánh những
di chỉ thời Yayoi được tìm thấy ở Yamaguchi và Fukuoka với những di chỉ từ thời nhà Hán (202 TCN - 8) ở vùng biển thuộc tỉnh Giang Tô ở Trung Quốc và phát hiện rất nhiều điểm tương đồng giữa hộp sọ và chi của người Yayoi
và người Giang Tô.
Trang 23Một học thuyết khác cũng ra đời vào đầu thời kỳ Minh Trị cho
rằng văn hóa Yayoi được những dân cư di dân từ Triều
Trang 24(Một số lượng khá lớn cư dân đến từ Nhật Bản được phát hiện thấy ở phía nam
Triều Tiên vào khoảng năm 300, gây ra những tranh cãi dữ dội giữa Triều Tiên
và Nhật Bản ngày nay về việc ai là chư hầu của ai trong giai đoạn đó)
Trang 25CON NGƯỜI
● Các cư dân Yayoi đầu tiên được cho là có nguồn gốc từ Trung Quốc di dân qua Nhật Bản, xuất hiện ở miền Bắc Kyushyu
và sau đó chuyển lên hòn đảo lớn nhất Nhật Bản là Honshyu, nhanh chóng thay thế người Jomon bản địa
● Ngoài ra cũng có những bằng chứng gây tranh cãi khác cho rằng, người Yayoi bắt nguồn từ Triều Tiên, một dòng nhập cư
lớn những người làm nông nghiệp từ Hàn Quốc sang Nhật Bản đã áp đảo những cư dân bản địa sống bằng săn bắt hái lượm
Trang 26CON NGƯỜI
Người Yayoi trung bình cao hơn từ 2,5 đến 5
cm, với mắt hẹp, mặt dài và hẹp, sống mũi phẳng.
Chân mày xếch hơn,
mũi và sống mũi cao
hơn
Người Jomon thường thấp hơn,
với cánh tay dài hơn và chân
ngắn hơn, mắt to hơn, mặt
ngắn và rộng hơn
Kết luận Có thể nói người Yayoi là sự pha trộn giữa người Jomon bản địa và những người di cư đến từ Trung Quốc/ Triều Tiên
So sánh trực tiếp giữa hai bộ xương của thời Jomon và Yayoi cho thấy hai cấu tạo cơ thể có nhiều khác biệt đáng chú ý
Trang 27Đời sống sinh hoạt lao động
Sản xuất canh tác:
Do sự ra đời của nền nông nghiệp lúa nước, người Yayoi chọn những vùng đất thấp,
ngập nước gần sông hồ để trồng lúa nướcChuyển dần từ vùng đất thấp bằng
phẳng, đặc biệt là vùng đồng bằng sông hay ven biển để tiện làm công tác thủy lợi
Các nhà khảo cổ cũng tìm được những cổ vật được cho là công cụ dùng để canh tác nông nghiệp của người Yayoi như là:
Trang 28Khi đồ sắt được phổ cập thì các nông cụ có đầu nhọn bằng sắt cũng được lan truyền rộng rãi làm
cho ruộng nước cũng biến dạng
Những hiện vật này đều được cho là sử dụng kỹ nghệ từ Trung Quốc và Triều Tiên truyền sang, đã
tạo ra bước phát triển nhảy vọt trong chế tác
Trang 29Có sự xuất hiện của công cụ bằng kim loại
(chuông, gương, vũ khí đồng và vũ khí sắt)
Nhờ có kim loại mà việc chế tác công cụ bằng các vật liệu khác dễ dàng hơn, kỹ thuật cao hơn làm tăng năng suất trong lao động sản xuất, tự vệ và sinh hoạt Nhưng cũng tác động và gây ra sự phân hóa xã hội
Trang 30Xây dựng nhà ở:
Người Yayoi sống trong các ngôi nhà Tateana hình
tròn hay hình vuông với bốn góc tròn
Ngoài ra để bảo quản thức ăn người Yayoi dựng các nhà kho kiểu nhà sàn và đào hố làm kho có che phủ bên trên
Trong cùng một khu vực cư trú đã xuất hiện sự khác biệt về quy mô giữa các ngôi nhà chứng tỏ đã có sự
phân biệt giàu nghèo trong xã hội
Trang 31Nghi lễ & Tín ngưỡng
Văn hóa mai táng:
Ở miền đông Nhật Bản, vào thời Yayoi sơ kỳ,
người ta thường thấy có những ngôi mộ gọi là
saisobo (tái táng mộ), trong đó có những chum
vò đựng cốt người chết
Hình thức “chôn lại” (cải táng) này và sự xuất
hiện của loại mộ hình gò (phần khâu mộ) ở
một phạm vi khá rộng rãi là hai đặc trưng của
cách mai táng thời Yayoi
● Còn loại mồ gò đất khá thấp, hình tứ giác, chung quanh có mương rãnh bao bọc Nó được gọi là mộ hình vuông có rãnh nước bọc (hokei shuukobo).
● Vào giai đoạn giữa và cuối của thời Yayoi, xuất hiện những gò đất cao (phần khâu) rõ ràng là vùng được khoanh ra đặc biệt dùng cho chôn cất Đó là loại mộ hình gò
(funkyuubo), thoạt đầu là mộ tập đoàn, chôn chung được nhiều người Dần dần nó trở thành nơi chôn cất một cá nhân đặc biệt trong tập đoàn ấy
Trang 32Sự thành lập các tiểu quốc và sự xuất hiện
của nữ vương Himiko nước Yamatai.
Sự thành lập các tiểu quốc:
Ở những di tích thời Yayoi phát quật được, phát
hiện được những ngôi mộ trong đó, ngoài kẻ
được mai táng còn có chôn theo một số lượng lớn
đồ phò táng, hay những ngôi mộ một mình
chiếm trọn một gò đất lớn
Phía đối diện bên kia biển của quận Lạc Lãng đất
Triều Tiên có người tộc Nụy (Oải, Oa) sinh sống
Họ phân tán thành hơn trăm nước Theo định kỳ
vài năm một lần, họ gửi sứ giả đến Lạc Lãng,
mang theo cống vật gọi là để thăm hỏi.”
* Nước Yamato ra đời:
Có văn kiện ghi chép, có một cuộc tranh chấp rất lớn đã xảy ra trên đất Nụy vào khoảng cuối thế kỷ II Vì cuộc nội loạn này không có
cớ giải quyết cho ngã ngũ nên các tiểu quốc mới họp nhau lại và bầu một người phụ nữ làm nữ vương Đó là nữ vương Himiko
Trang 33Rốt cuộc, nội loạn dần dần ổn định lại và có
khoảng 30 tiểu quốc họp nhau lại tạo thành
một nhóm mà Yamatai đóng vai trò trung tâm
Là nữ vương của nước Yamatai, một vùng của nước Yamato cổ đại Bà còn được gọi là Thân Ngụy Oa Vương
Himiko theo một tôn giáo cổ gọi là
Qủy đạo ( 鬼道 ;Kido) và người ta
đồn đại rằng bà dùng thứ ma thuật này
để trị quốc
Himiko (卑弥呼, Hán-Việt: Ti Di Hô),
không rõ năm sinh, mất vào khoảng năm 242
Trang 340 4
THỜI KỲ
KOFUN
Trang 35Thời kỳ Kofun ( 古墳時代 , Kofun jidai ) bắt đầu
từ khoảng 250 đến 538 sau Công nguyên, sau
thời kỳ Yayoi
Thời kỳ Kofun và Asuka tiếp theo đôi khi được gọi
chung là thời kỳ Yamato
Từ kofun trong tiếng Nhật nghĩa là mộ cổ Nó
được dùng để đặt tên cho một thời kỳ vì sự xuất
hiện hàng loạt của các mộ cổ có hình dạng và
kiến trúc đặc biệt trong thời kỳ này.
THỜI KỲ KOFUN
( 古墳時代 , Kofun jidai )
Trang 36Kofun có nhiều hình dáng như tròn, vuông, trên trong dưới vuông, trước vuông sau tròn Trong đó,
loại trước vuông sau tròn có quy mô lớn nhất và được coi là loại mộ cổ điển hình của Nhật Bản.
Một kofun thời kỳ sau có nắp bằng đất
Kofun Ishibutai ở Nara.
Kofun hình nón Noge-Ōtsuka, Tokyo, đầu thế kỷ V
Trang 37Mộ Daisenryo, lăng mộ của Hoàng đế Nintoku, Osaka, thế kỷ V
Kofun hình nón Noge-Ōtsuka, Tokyo, đầu thế
kỷ V
Trang 38Đây là một thời kỳ nhập khẩu văn hóa Tiếp tục từ thời Yayoi, thời kỳ Kofun được đặc trưng bởi ảnh hưởng mạnh mẽ từ Bán đảo Triều Tiên Phật giáo và hệ thống chữ viết của Trung Quốc cũng đã được giới thiệu vào cuối thời kỳ này.
Thời kỳ Kofun cũng ghi nhận sự tập trung chính trị sớm
nhất ở Nhật Bản, khi gia tộc Yamato lên nắm quyền ở phía
tây nam Nhật Bản và cuối cùng thành lập Hoàng gia
Gia tộc Yamato cũng giúp kiểm soát các tuyến thương mại trong khu vực
Về mặt chính trị sự ra đời của triều đình Yamato và sự mở
rộng của nó sang các vùng Kyushu và Kanto là những nhân
tố chính tiêu biểu cho thời kỳ này Thời kỳ Kofun cũng là
thời kỳ có sử thành văn đầu tiên ở Nhật Bản.
Thời kỳ Kofun là một thời kỳ quan trọng trong việc
biến Nhật Bản trở thành một nhà nước thống nhất và
có tính dân tộc cao, xã hội quý tộc với các lãnh tụ quân
sự ngày càng trở nên phát triển Xã hội này phát triển nhất ở vùng Kinai, và vùng cực đông của phần biển chia cắt các đảo Honshu, Shikoku và Kyushu.