NỘI DUNG CHI TIẾT CỦA CỦA TÀI LIỆU GIẢNG DẠY BÀI GIẢNG MÔN HỌC Lịch sử sách và lịch sử thư viện Mục tiêu môn học: - Về kiến thức: Xác định tầm quan trọng và quá trình hình thành của sá
Trang 3
MỤC LỤC Table of Contents BÀI GI ẢNG 1
N ỘI DUNG CHI TIẾT CỦA CỦA TÀI LIỆU GIẢNG DẠY 4
Phần 1: Lịch sử sách 4
Chương 1: Vai trò tác dụng của sách trong đời sống xã hội 4
1 Sự hình thành sách 4
2 Vai trò, tác dụng của sách trong đời sống xã hội 17
Chương 2: Qui trình xuất bản sách 18
1 Quy ết định xuất bản 18
2 Liên k ết xuất bản 18
3 Ch ế bản điện tử 19
4 Thi ết kế bìa 19
5 In – gia công – đóng gói 19
6 N ộp xuất bản phẩm lưu chiểu và nộp xuất bản phẩm cho Thư viện Quốc gia Việt Nam 20
7 Phát hành 20
Chương 3: Lịch sử sách Việt Nam 20
2.1 Sự xuất hiện sách ở Việt Nam 21
2.2.1 Thời phong kiến 21
2.3 Mối quan hệ của sách đối với nền văn hóa dân tộc Việt Nam 21
Phần 2: Lịch sử thư viện 21
Chương 1: Sơ lược Lịch sử sự nghiệp Thư viện Thế giới – Thời gian 4 giờ 21
1 Bản chất của thư viện 21
1.1 Khái niệm thư viện 21
1.2 Các thà nh phần cơ bản của thư viện 22
2 Các thư viện nổi tiếng trên thế giới 23
Chương 2: Lịch sử sự nghiệp thư viện Việt Nam – Thời gian 5 giờ 29
2.1 Tổng quan lịch sử thư viện Việt Nam 30
2.2 Các giai đoạn phát triển của sự nghiệp thư viện Việt Nam 32
Trang 4
NỘI DUNG CHI TIẾT CỦA CỦA TÀI LIỆU GIẢNG DẠY
BÀI GIẢNG MÔN HỌC Lịch sử sách và lịch sử thư viện Mục tiêu môn học:
- Về kiến thức: Xác định tầm quan trọng và quá trình hình thành của sách và của thư viện trong xã hội
- Về kỹ năng: Hiểu được mục đích xuất hiện của sách và thư viện trong xã hội; Quá trình hình thành và quy luật phát triển của sách và thư viện
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: Nắm được vai trò, tác dụng của sách và thư viện trong đời sống xã hội
Yếu tố đầu tiên cần quan tâm về lịch sử của sách đó chính là động lực nào đã dẫn đến sự ra đời và phát triển của sách? Một quy luật chung được tìm thấy cho những cột mốc phát minh trong lịch sử của sách nói chung và các phát minh ở mọi lĩnh vực khác nói riêng là nó đều được khởi tạo và thúc đẩy bởi nhu cầu xã hội
Những ký hiệu, nét vẽ đầu tiên được tìm thấy trong lịch sử loài người là một di chỉ trên đá có niên đại vào khoảng 75,000 năm TCN Những hình vẽ như vậy trong các hang động, trên xương động vật hay trên đá được tìm thấy tương đối phổ biến cho đến tận khoảng năm 10,000 TCN Nhưng việc thay đổi lớn trong cơ cấu xã hội, kinh tế dẫn đến một cách sống mới, một xã hội với những vấn đề mới về quản trị, thương mại và sản xuất mới là động lực chính dẫn đến việc lưu trữ thông tin một cách có ý thức và hệ thống Sách ra đời nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu đó
Trang 5Họ nặn đất sét, tạo ra một mặt phẳng, và khi đất sét vẫn còn ướt dùng những đầu nhọn
để gạch lên đó Sau đó đem miếng đất sét đó đi phơi hoặc cho vào lò nung
Tablet bằng đất sét
Thời kỳ này, các nhà nước cổ đại đã hình thành, xã hội đã phân hóa ra các tầng lớp khác nhau Nông nghiệp và kinh tế đã sản xuất ra của cải vật chất dư thừa đủ để một bộ phận người không cần tham gia vào sản xuất mà có thể làm những công việc khác như quản trị hay thương mại Các ký hiệu trên những tablet đầu tiên được tìm thấy chủ yếu để đếm số lượng con vật trong đàn, những đồ đã trao đổi hay ai nợ của ai bao nhiêu thực phẩm Với người Summer, tablet chỉ để ghi lại những thương vụ làm
ăn hay luật lệ
Trang 6
Đến năm 3100 TCN, người Summer đã bắt đầu quy chuẩn những hình vẽ của mình, và đó được coi là chữ viết đầu tiên của loài người với tên gọi pictograph Chữ viết ngày càng được đơn giản hóa giúp dễ dàng hơn cho cả người đọc và người viết
Pictographic của người Summer năm 2800 TCN
Pictographic của người Summer năm 2500 TCN
Tuy vậy các ký hiệu trên vẫn còn phức tạp và khó để vẽ Tablet đất sét có một nhược điểm lớn đó là không hề dễ dàng để sử dụng một vật nhọn kim loại vẽ ra được các đường cong phức tạp trên bề mặt Do đó đến năm 2500 TCN, một loại chữ viết mới có tên cuneiform chủ yếu sử dụng các đường thẳng đã ra đời để phù hợp với việc viết trên tablet đất sét Việc sử dụng các đường thẳng cũng giúp việc quy chuẩn chữ viết trở nên dễ dàng hơn, khi người nào cũng có thể viết na ná giống nhau, chứ khó có
thể giống nhau như khi sử dụng pictographic Do đó năm 2500 TCN được coi là dấu mốc cho việc ra đời chữ viết quy chuẩn
Giấy papyrus ở Ai Cập
Ai Cập, một nền văn minh rực rỡ khác, cũng tự phát triển một hệ thống chữ viết
và thiết bị lưu trữ hoàn toàn khác so với người Lưỡng Hà Vào khoảng 2500 TCN, xã hội Ai Cập cũng đã hình thành và phát triển thịnh vượng theo cách thức tương tự với nền văn minh Lưỡng Hà, cho dù 2 nền văn minh này rất ít có sự giao lưu với nhau do
vị trí địa lý cách biệt
Trang 7
Ai Cập vốn nổi tiếng với chữ tượng hình (hielogryphic) của mình Vào khoảng
2600 năm TCN, người Ai cập đã phát triển tương đối hoàn thiện chữ tượng hình, nhưng chủ yếu họ cũng khắc trên những hang động hay phiến đá mà thôi
Chữ tượng hình của người Ai Cập
Tuy vậy, chữ tượng hình của người Ai cập lại đi theo một con đường khác, chứ không phải theo hướng đơn giản hóa cả về hình thức lẫn số lượng ký tự tương tự như chữ cuneiform của người Summer Ra đời vào khoảng 3400 năm TCN, vào thời kỳ khoảng 2500 năm TCN, số lượng ký tự của người Ai Cập sử dụng đã lên đến 800 Nhưng không giống với người Summer, số lượng ký tự của chữ viết Ai Cập tiếp tục tăng lên, và đến công nguyên, con số này đã lên đến 5000 Tuy vậy chữ tượng hình của Ai cập có 3 loạị trong đó có một loại được cải tiến theo hướng tối giản hóa cho số đông người dân có thể sử dụng Và đến khoảng năm 700 TCN, hình thức đơn giản nhất của chữ Ai Cập là chữ Demotic ra đời Tuy vậy cả 3 vẫn tồn tại song song và bổ sung cho nhau, ví dụ chữ được viết trên giấy papyrus chủ yếu là Demotic; còn chữ tượng hình gốc chủ yếu được sử dụng trong các văn bản chính thống hay chạm khắc trên lăng miếu, đền đài hay những đồ vật quý, linh thiêng
Trong khi đó loại chữ tượng hình còn lại được coi là động lực chính để ra đời loại chữ alphabet đầu tiên sau này ở Lưỡng Hà Loại chữ này bao gồm 23 ký tự được
sử dụng như các chữ để bắt đầu biểu diễn cho một từ, giống với vai trò của các phụ âm trong ngôn ngữ hiện đại Người Ai Cập phát mình và sử dụng loại chữ này song song với 2 loại còn lại từ khoảng năm 2700 TCN Tuy vậy người Ai Cập lại không tiếp tục cải tiến và sử dụng loại chữ tượng hình này nhiều (lý do khiến số lượng ký tự tượng hình chỉ có tăng lên chứ không giảm xuống)
Trang 8
Sự cải tiến của chữ viết Ai Cập
Thiết bị viết chính của người Ai Cập là giấy papyrus Đây là một loại giấy được làm từ cây papyrus vốn chỉ tồn tại ở dọc bờ sông Nile của Ai Cập Cây papyrus sau khi được lột vỏ sẽ được cắt thành từng lát mỏng, ngâm vào nước để các chất đường hoàn toàn được loại bỏ, sau đó ghép nối với nhau thành tấm và được phơi khô dưới áp lực của những tảng đá lớn trong khoảng 7 ngày để thành sản phẩm hoàn chỉnh Cách thức
sơ chế giấy papyrus có thể xem tại video sau 2 tấm giấy papyrus cổ nhất được tìm thấy
ở Ai Cập trong một lăng mộ hoàn toàn chưa được sử dụng và có niên đại khoảng 3000 năm TCN Sau đó giấy papyrus được cải tiến, và tồn tại phổ biến dưới dạng cuộn Giấy papyrus tồn tại dưới dạng cuộn cổ nhất được tìm thấy có niên đại khoảng
2000 năm TCN
Giấy papyrus dạng cuộn là công cụ viết phổ biến ở Ai Cập
Để viết trên giấy papyrus này, người Ai Cập sử dụng mực và bút lông Ai cập
có 2 loại mực, màu đen làm từ muội than và màu đỏ làm từ hoàng thổ Mực được đúc thành bánh và khi sử dụng thì được trộn với nước và nghiền đều ra tương tự như mực được sử dụng ở Trung Quốc Chữ màu đỏ được sử dụng nhằm nhiều mục đích : như là
Trang 9
để nhấn mạnh, hay được dùng với vai trò tương tự dấu ngoặc đơn trong ngữ pháp hiện đại Các chữ cái hay từ đầu tiên, chữ trên tiêu đề, các ký hiệu hay dấu chấm ngắt câu đều sử dụng màu đỏ
Một văn bản trên giấy papyrus dạng tấm, chữ demotic và dùng 2 loại mực
Ưu điểm của giấy papyrus đó là việc viết trên giấy dễ dàng hơn nhiều trên tablet đất sét, và cũng hơn trong việc vẽ những đường cong, do đó chữ demotic của người Ai Cập có rất nhiều đường cong, thay vì chỉ toàn gạch và nét thẳng như
cuneiform như của người Summer Chính việc này đã dẫn đến việc tranh, ảnh xuất hiện rất nhiều trong các văn bản của người Ai cập, thậm chí có nhiều cuộn giấy
papyrus chỉ toàn là tranh Bản đồ đầu tiên được tìm thấy ở Ai Cập có niên đại khoảng
rỡ Tuy vậy giấy papyrus cũng có nhược điểm chung là dễ rách, dễ bị phá hủy bởi
thiên tai hay chiến tranh hay từ các vi sinh vật Do đó không có một thư viện giấy papyrus nào được tìm thấy, mà hầu hết là những bản thảo nhỏ lẻ
Sách dùng phương thức lật trang (codex) thay vì phương thức cuộn ra đời vào khoảng năm 100 SCN và được coi là một phát minh vĩ đại; tồn tại hơn 2000 năm cho đến tận ngày nay đã biến sách thành một thiết bị lưu trữ, tra cứu và truyền tải thông tin cực kỳ hữu dụng và phổ biến
Người ta không biết ai là người đầu tiên phát minh ra cách thức làm sách hoàn chỉnh như vậy Tuy nhiên ý tưởng về việc ghép nối những trang giấy lại với nhau lại tương đối phổ biến
Ý tưởng đầu tiên là ghép các miếng giấy lại với nhau thông qua một sợi dây và được thúc đẩy bởi động lực viết ra những văn bản dài Tablet đất sét là một thiết bị mà thông tin lưu trên đó rất hạn chế, và không dễ để ghép nối hay tìm lại thông tin trên các tablet đó Giấy papyrus theo dạng cuộn giải quyết tốt hơn vấn đề đó, nhưng vào thời kỳ đó, chữ viết dùng ký tự tượng hình và bút lông cũng khó có thể viết nhiều
Trang 10Ai Cập, Pompeii và Romania là những nơi mà số tablet bằng sáp được tìm thấy nhiều nhất Pompeii là nơi có đến 200 tablet xưa với niên đại 131-167 được khai quật
Tablet bằng sáp là công cụ như tấm bảng cho học sinh thời trước
Book of Psalms được coi là quyển sách hoàn chỉnh có niên đại cổ nhất (350 SCN) được tìm thấy, sách dày đến 490 trang Các nhà khảo cổ cũng tìm thêm được khoảng
Trang 11
15 quyển sách khác dày trên 100 trang có niên đại khoảng 200-400 SCN Hầu hết các sách tồn tại dưới dạng codex ở thời kỳ này đều là những quyển sách liên quan đến Thiên chúa giáo hay Kinh Thánh Do đó có người cho rằng chính những người theo Thiên chúa là những người đã phát minh ra sách dạng codex và truyền bá tôn giáo cũng như công nghệ của mình khắp Châu Âu như là một cách để đạo Thiên chúa được lan tỏa rộng rãi hơn
Cuốn sách hoàn chỉnh đầu tiên được tìm thấy
Do Hy Lạp đến thế kỷ thứ 6 bắt đầu bước vào thời kỳ đen tối trong lịch sử của mình, khi mà lượng sách sản xuất ra giảm sút đáng kể, số người biết đọc biết viết giảm hẳn, các thư viện và hiệu bán sách không tồn tại được nữa Nhà thờ và tu viện là nơi sản xuất gần như tuyệt đối số sách ở châu Âu thời kỳ này; và hầu hết cũng là để đáp ứng nhu cầu sách tự thân của mình Tình hình như vậy kéo dài cho đến tận đầu thế kỷ
13 Trong suốt thời kỳ đen tối đó, vùng đất của người đạo Hồi lại nổi lên như là trung tâm tri thức của phương Tây và Cận Đông
Trong suốt 400 năm phát triển rực rỡ nhất, từ năm 800 đến 1200 Trong 400 năm này, số sách mà người đạo Hồi đã sản xuất ra là khoảng 600,000 cuốn; vượt xa số sách của cả Chấu Âu thời kỳ trước và đế quốc Byzantine phía đông có thể làm ra được Sách trong thời kỳ này chủ yếu là theo dạng codex Vật liệu ban đầu người đạo Hồi sử dụng là giấy da, nhưng sau đó giấy hiện đại; một phát minh của Trung Quốc du nhập đến vùng của người đạo Hồi vào những năm 600 và nhanh chóng được sử dụng rộng rãi để thay giấy papyrus và giấy da Đến năm 900, giấy Trung Quốc gần như đã thống trị hoàn toàn
Người đạo Hồi có một số đóng góp lớn cho lích sử phát triển của sách Họ là người du nhập và cải tiến giấy và kỹ thuật làm giấy từ Trung Quốc để cho phù hợp với thực tế của họ và tiếp tục truyền bá nó sang châu Âu Giấy của Trung Quốc chủ yếu là được làm từ gỗ cây dâu tằm, một loại cây mà ở Cận Đông hay Châu Âu không hề có Người đạo Hồi đã sử dụng gỗ và sợi của cây lanh để thay thế Họ cũng cải tiến khuôn
và dùng búa để cán mỏng và ép các tấm bột gỗ thay vì sử dụng tay như người Trung Quốc Phương thức đóng sách của họ cũng tương đối khác so với Châu Âu hay người Byzantine khi họ sử dụng keo dán để dán gáy sách thay vì đục lỗ và dùng kim để khâu như các thời kỳ trước Đó cũng là cách thức đóng sách hiện đại
Trang 12
Họ cũng là nơi tiếp tục duy trì, bảo tồn và cải tiến những thành tựu của nền văn minh Hy-La để lại Khoa học hay y học, vốn chẳng thể tồn tại được ở Châu Âu mãi cho đến tận thế kỷ 13 với những công trình toán học đầu tiên của Fibonacci thì lại rất phát triển
ở những nước Hồi giáo Người Hồi giáo thời kỳ này có đến 10 phát minh khoa học lớn, trong đó có 2 phát kiến quan trọng về quang học làm tiền đề cho việc sản xuất ra thủy tinh và kính; có tác động rất lớn tới việc đọc sách của những người lớn tuổi thời
kỳ sau Những kiến thức của người đạo Hồi là tiền đề quan trọng khi chúng được truyền bá và sử dụng trong các trường đại học đầu tiên ở Châu Âu sau này
Người Hồi giáo rất thích sách cũng như việc sưu tập chúng Hệ thống thư viện công cộng, cửa hàng bán sách và trường học như thời Hy-La không thể tồn tại ở Châu
Âu nhưng lại rất phát triển ở các nước đạo Hồi thời kỳ này vì nhu cầu về sách và tri thức rất lớn Riêng ở Baghdad vào thế kỷ thứ 10 có đến hơn 100 cửa hiệu bán sách tồn tại
Những quý tộc Hồi giáo thời kỳ này thường đầu tư rất lớn vào sách và sở hữu một số lượng sách khổng lồ Bộ sưu tập lớn nhất là của Ibn Abbad với một kho sách
mà phải cần đến 400 con lạc đà mới tải hết, ước chừng khoảng 4000 quyển Có những quý tộc sẵn sàng bỏ ra tới 10,000 dirhem để mua và sở hữu sách; số tiền tương đương với việc họ đầu tư vào trang thiết bị; vũ khí hay lạc đà và vật nuôi Điều đó chứng tỏ giới quý tộc và trí thức sẵn sàng chi nhiều tiền thế nào để trả công cho những người sao chép sách cho họ Tuy vậy họ cũng bị chỉ trích vì việc dựa dẫm quá nhiều vào thư viện sách thay vì trí nhớ của mình
Thời kỳ rực rỡ của người Hồi giáo chấm dứt vào khoảng đầu thế kỷ 13, khi quân đội Mông Cổ đánh chiếm và phá hủy nền kinh tế; các công trình kiến trúc hay giết hàng trăm nghìn người đạo Hồi Thời kỳ vàng của người đạo Hồi coi như chấm dứt
Trong khi đó ở Châu Âu thời kỳ đầu thế kỷ 13 xã hội đã có những chuyển biến theo hướng tích cực hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho tri thức và những cải tiến nhanh chóng diễn ra Trong suốt 700 năm, từ 500-1200, nhà thờ là nơi có quyền lực tuyệt đối, ảnh hưởng và quyết định mọi mặt đời sống của người dân khắp Châu Âu Một trong số những sự kiểm soát đó chính là sự kiểm soát việc sản xuất sách và truyển bá thông tin trong xã hội
Thời kỳ này, nhà thờ và tu viện là nơi duy nhất sách được làm ra Một trong các công việc chính của các tu sĩ là việc chép lại các bản thảo tôn giáo, tín ngưỡng hoặc một số ít các tài liệu khác Giáo hội là nơi quyết định quyển sách nào được chép ra; tu
sĩ nói riêng và mọi người nói riêng không có quyền tự sao chép theo những quyển sách
mà mình mong muốn Tu sĩ cũng không được trao đổi bản thảo chép tay cho người khác hay từ chối khi nhận được lệnh Nếu không họ sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc Trong sự quản lý nghiêm ngặt đó của nhà thờ, không nhiều phát minh liên quan đến tri thức được ra đời ở thời kỳ này Đột phá lớn nhất chính là sự chuyển dịch dần từ văn hóa nói; diễn thuyết và truyền miệng trong một nhóm người sang đọc sách một một cách yên tĩnh và một mình Sự chuyển dịch này bắt nguồn từ sự ra đời của dấu cách trong khi viết
Thừa hưởng từ nền văn minh Hy-La, sách của thời kỳ trước là những chuỗi ký
tự dài lê thê, không biết bắt đầu và kết thúc khi nào, được gọi dưới một cái trên đặc trưng “Scriptio continua – Continuous script” vốn được thừa hưởng từ kiểu viết
cuneiform của người Summer và sau đó là hệ chữ alphabet chỉ toàn phụ âm của người Phoenician Đọc sách thời kỳ trước là kiểu đọc thành tiếng to cho nhiều người cùng nghe; vì văn hóa lời nói rất phát triển
Trang 13
Một văn bản chữ Latin theo cách “Scriptio continua”
Tuy nhiên vào thế kỷ thứ 7, một tu sĩ người Ai Len đã phát minh ra cách thức viết có dấu cách để phân biệt rõ từ nọ và từ kia Ai Len hay nước Anh nói chung vốn chưa bao giờ là thuộc địa của Hy Lạp hay đế chế La Mã, ít chịu ảnh hưởng từ văn hóa nói của nền văn minh Hy-La nên việc phải đọc to một văn bản toàn chữ dài lê thê, vừa đọc vừa phải đoán từ này kết thúc ở đâu, câu này kết thúc ở đâu là một cực hình và cũng tốn nhiều trí năng Tuy nhiên cũng phải đến tận thế kỷ 11 phát minh này mới được áp dụng phổ biến trong cách viết sách trong các nhà thờ trên toàn bộ châu Âu
Và việc đọc sách yên lặng này cũng là một yếu tố quan trọng dẫn đến nhu cầu sách ở châu Âu tăng lên rất nhiều, dẫn đến việc nhà thờ không thể kiểm soát hết được việc sản xuất và mua bán sách
Thêm một yếu tố chủ chốt khác đó là sang thế kỷ 12, với rất nhiều biến động về kinh tế chính trị đã khiến đời sống cư dân châu Âu bắt đầu thay đổi Những thành phố lớn bắt đầu được hình thành, giai cấp giàu nghèo cũng bắt đầu được phân chia rõ rệt hơn Các thành phố lớn nhất thời kỳ này phải kể đến Venice và Genoa có khoảng 100
Trang 14do trường học kiểm soát Từ khi trường đại học đầu tiên ra đời, một làn sóng kiến thức
từ các nước Hồi giáo tràn vào Châu Âu,và trong 2 thể kỷ; đã có vài trăm đầu sách tiếng Do Thái và Ả rập được dịch ra và lưu hành trong các trường đại học
Một phòng trong đại học Bologna
Việc văn hóa đọc sách yên lặng phổ biến đã dẫn đến rất nhiều cải tiến trong cấu trúc của sách được ra đời ở thể kỷ 14 theo chiều hướng cải thiện hiệu năng và tốc độ đọc Ở thể kỷ 13, sách đã bắt đầu được phân chia thành các chapter, và mục lục cũng đã được
ra đời Dấu chấm, dấu phẩy và dấu ngoặc đơn đều ra đời trong thời kỳ này Dấu ngoặc đơn được sử dụng thay cho phương thức sử dụng mực đỏ để gạch chân đoạn cần ghi chú là một điều rất được chào đón, nhất là với công nghệ in ra đời sau này Rồi tiếp đến là tiêu đề của chương, mục lục về nội dung của chương hay tiêu đề từng trang sách tiếp tục được sinh ra Đến năm 1400, cấu trúc của sách đã hầu như giống với cấu trúc của sách hiện đại Sách tham khảo cũng bắt đầu xuất hiện Văn hóa đọc mới cũng khiến kiến trúc của thư viện phải thay đổi Nếu như trước đây, thư viện phải chia làm nhiều phỏng nhỏ để việc diễn thuyết của nhóm nọ không ảnh hưởng đến nhóm kia thì nay thư viện đã được thiết kế theo hướng có không gian chung rất lớn và thoáng
Trang 15
Sách ở thời kỳ này đã biết sử dụng những cú pháp như chấm câu
Ý tưởng về việc sản xuất hàng loạt và nhanh chóng một văn bản, thông tin đã
có từ rất lâu Người Summer đã chế tạo ra những bản khắc bằng gỗ hay đá để ấn lên những miếng đất sét vẫn còn đang ướt để sản xuất hàng loạt một văn bản nào đó, thông thường liên quan đến văn chương và thơ ca
Công nghệ in tiếp theo đó là bôi mực lên một bản khắc bằng gỗ hoặc kim loại, rồi sau đó in lên mặt một tờ giấy Kỹ thuật này được người Trung Quốc phát minh vào khoảng năm 200 SCN Kỹ thuật này được sử dụng rộng rãi khắp thế giới cổ đại, chủ yếu nhằm in ra các bức tranh hay hình minh họa
Trang 16
Một bản khắc gỗ với những họa tiết của người Ấn Độ
Công nghệ in sắp chữ (movable type) cũng được phát minh lần đầu tiên ở
Trung Quốc vào năm 1040 SCN dưới thời Bắc Tống Vật liệu để làm khuôn in là ban đầu bằng gỗ, sau đó được chuyển sang là gốm Khuôn in làm bằng kim loại đầu tiên được Hàn Quốc sử dụng vào năm 1234 và sau đó được nhà Tống sử dụng để in tiền giấy Ở châu Âu, Gutenberg là người sử dụng công nghệ in sử dụng khuôn kim loại đầu tiên vào năm 1450 Mặc dù phát minh ra công nghệ in ấn rất sớm trước Gutenberg nhưng việc in ấn ở các nước Á Đông không thể phát triển mạnh và nhanh được bởi lý
do chủ yếu là trong khi châu Âu sử dụng hệ thống ký tự Latin gồm 26 chữ cái thì các nước Châu Á hầu hết sử dụng chữ tượng hình với hàng nghìn ký tự Việc in ấn đại trà
sử dụng công nghệ in dùng khuôn và sắp chữ là một việc rất khó khả thi với các nước Châu Á
Ra đời vào đúng thời điểm nhu cầu sách đang rất cao, phát minh của Gutenberg nhanh chóng được khắp Châu Âu đón nhận và sử dụng 30 năm sau, 1480 có đến 110 thị trấn ở Châu Âu đã sử dụng máy in của Gutenberg mà tập trung nhất là ở Venice với
156 đầu sách được in ra Con số này của các thành phố khác là Milan (82), Augsburg (67), Nuremberg (53), Florence (48), Cologne (44), Paris (35) và Rome (34) Trong 3 năm từ 1495-1497, có 1821 đầu sách được in, trong đó có 24.5% là từ Venice Đến năm 1500, đã có 236 thị trấn có máy in và 35 nghìn đầu sách đã được xuất bản Trước