Ngoài yêu cầu hệ thống hóa lại lí thuyết cơ bản về câu, người dạy còn phải hướng dẫn người học phát triển năng lực sử dụng câu trong hoạt động giao tiếp, xây dựng hệ thống bài tập để giú
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐẶNG THỊ TÂM
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỬ DỤNG CÂU CHO SINH VIÊN NGÀNH NGOÀI SƯ PHẠM Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG
QUA DẠY HỌC HỌC PHẦN TIẾNG VIỆT THỰC HÀNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA GIÁO DỤC
THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐẶNG THỊ TÂM
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỬ DỤNG CÂU CHO SINH VIÊN NGÀNH NGOÀI SƯ PHẠM Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG
QUA DẠY HỌC HỌC PHẦN TIẾNG VIỆT THỰC HÀNH
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Văn - Tiếng Việt
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép
sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả
Đặng Thị Tâm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy cô trường Đại học sư phạm Huế
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy: TS Trần Thanh Bình
đã dành nhiều thời gian, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến quí thầy cô trường Đại học sư phạm Huế đã tham gia giảng dạy lớp Cao học Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Văn - tiếng Việt khóa 24, đặc biệt là quí thầy cô Khoa Sư phạm Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu cùng quí thầy (cô) giáo đồng nghiệp và sinh viên ở trường Cao đẳng Cần Thơ đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian khảo sát số liệu
và thực nghiệm sư phạm Xin cảm ơn đến gia đình, người thân và bạn bè đã động viên, giúp tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Mặc dù tôi đã cố gắng hoàn thiện luận văn bằng sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn
Huế, tháng 8 năm 2017
Tác giả luận văn
Đặng Thị Tâm
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ 5
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1 Lí do chọn đề tài 6
2 Lịch sử vấn đề 9
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 14
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
5 Phương pháp nghiên cứu 14
6 Đóng góp của luận văn 15
7 Cấu trúc của luận văn 15
NỘI DUNG 16
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 16
1.1 Cơ sở lí luận 16
1.1.1 Cơ sở ngôn ngữ học 16
1.1.2 Cơ sở lí luận và phương pháp dạy học tiếng Việt 24
1.1.3 Cơ sở giáo dục học 25
1.2 Cơ sở thực tiễn 27
1.2.1 Mục đích khảo sát 27
1.2.2 Đối tượng và địa bàn khảo sát 27
1.2.3 Cách thức khảo sát 27
1.2.4 Nội dung khảo sát 28
1.2.5 Kết quả khảo sát 29
1.2.6 Nhận xét chung về khảo sát 36
Tiểu kết chương 1 37
Trang 6Chương 2 XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG SỬ DỤNG CÂU CHO SINH VIÊN NGÀNH NGOÀI SƯ PHẠM Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG…38
2.1 Định hướng chung 38
2.2 Các phương pháp dạy học tích cực 39
2.2.1 Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống 39
2.2.2 Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học 40
2.2.3 Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề 40
2.2.4 Vận dụng dạy học theo tình huống 41
2.3 Định hướng xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực 41
2.3.1 Tiếp cận bài tập theo định hướng năng lực 42
2.3.2 Phân loại bài tập theo định hướng năng lực 42
2.3.3 Các bậc trình độ trong bài tập theo định hướng năng lực 43
2.4 Định hướng xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng sử dụng câu 44
2.4.1 Giới thuyết 44
2.4.2 Câu, đoạn văn và văn bản 45
2.5 Hệ thống bài tập rèn kĩ năng sử dụng câu 47
2.5.1 Hệ thống bài tập rèn kĩ năng sử dụng câu theo mạch năng lực tạo lập văn bản 48
2.5.2 Hệ thống bài tập rèn kĩ năng sử dụng câu theo mạch năng lực tiếp nhận văn bản 59
2.6 Bảng tổng hợp hệ thống bài tập rèn kĩ năng sử dụng câu 68
Tiểu kết chương 2 69
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 71
3.1 Mục đích thực nghiệm 71
3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 71
3.3 Kế hoạch thực nghiệm 71
3.3.1 Nội dung thực nghiệm 71
3.3.2 Thời gian thực nghiệm 72
3.4 Tổ chức thực nghiệm 72
3.4.1 Chuẩn bị thực nghiệm 72
Trang 73.4.2 Triển khai thực nghiệm 72
3.4.3 Xử lí kết quả thực nghiệm 73
3.5 Kết quả thực nghiệm 73
3.5.1 Tiêu chí đánh giá kết quả học tập của sinh viên 73
3.5.2 Đánh giá kết quả thực nghiệm 74
3.5.3 Nhận xét chung về quá trình thực nghiệm 77
Tiểu kết chương 3: 77
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
GD - ĐT : Giáo dục - Đào tạo
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Trang
BẢNG
Bảng 1.1 Bảng thống kê kết quả chấm bài kiểm tra của sinh viên 35
Bảng 1.2 Bảng đánh giá kết quả chấm bài kiểm tra của sinh viên 36
Bảng 3.1 Kết quả kiểm tra ở các lớp thực nghiệm 74
Bảng 3.2 Kết quả kiểm tra ở các lớp đối chứng 75
Bảng 3.3 Tổng hợp điểm kiểm tra của các lớp thực nghiệm và các lớp đối chứng 75
Bảng 3.4 Kết quả học tập của lớp thực nghiệm 75
Bảng 3.5 Kết quả học tập của lớp đối chứng 76
Bảng 3.6 Tổng hợp kết quả học tập của các lớp thực nghiệm và các lớp đối chứng 76
BIỀU ĐỒ Biểu đồ 3.1 Biểu đồ so sánh kết quả thực nghiệm và đối chứng 76
Trang 102 Trong chương trình đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng, phát triển năng lực giao tiếp được đặt ra như một yêu cầu không chỉ đối với sinh viên khoa Ngữ văn mà còn đối với sinh viên các khoa khác nói chung thông qua môn Tiếng Việt thực hành
Môn Tiếng Việt thực hành ở các trường cao đẳng là môn học chủ yếu hướng tới việc hình thành và phát triển năng lực giao tiếp cho sinh viên trên cả hai phương diện: tiếp nhận văn bản và tạo lập văn bản Tuy nhiên trên thực tế, việc dạy học Tiếng Việt thực hành ở tại các trường cao đẳng hiện nay vẫn đang tiếp cận theo hướng nội dung, chú trọng đến hình thành các tri thức, rèn luyện các kĩ năng mà chưa chú trọng đến phát triển năng lực giao tiếp hiện thực cho nên trình độ sử dụng tiếng Việt nói chung, sử dụng câu nói riêng của sinh viên các ngành ngoài sư phạm
Trang 11còn nhiều hạn chế Những kiến thức về câu tiếng Việt, những kĩ năng đặt câu đúng cấu trúc mà sinh viên có được trong quá trình học tập ở trường phổ thông chưa đáp ứng được yêu cầu học tập, giao tiếp (tiếp nhận văn bản và tạo lập văn bản) ở cấp học Cao đẳng Mặt khác, nhận thức về yêu cầu năng lực viết câu như một cơ sở để tạo lập văn bản , rèn luyện kĩ năng chữa câu sai trong quan hệ liên kết liên câu của văn bản ở nhiều sinh viên vẫn còn gặp nhiều bất cập, dẫn đến tình trạng ngại khó, ngại khổ, thiếu kiên trì rèn luyện trong quá trình học tập
3 Phát triển năng lực sử dụng câu cho sinh viên Cao đẳng qua môn học Tiếng Việt thực hành là một quá trình hoạt động sư phạm bao gồm nhiều nội dung Ngoài yêu cầu hệ thống hóa lại lí thuyết cơ bản về câu, người dạy còn phải hướng dẫn người học phát triển năng lực sử dụng câu trong hoạt động giao tiếp, xây dựng
hệ thống bài tập để giúp sinh viên rèn luyện các kĩ năng tạo câu từ các đơn vị từ vựng, tạo đoạn văn từ các liên kết liên câu và các kĩ năng chữa câu sai Tuy nhiên, hiện nay, những giáo trình về môn học Tiếng Việt thực hành chủ yếu đều tập trung cung cấp kiến thức khái quát chung về câu, chỉ ra một số loại câu sai và cách chữa; còn phương pháp hướng dẫn sinh viên phát triển năng lực sử dụng câu như thế nào thì nhiều vấn đề vẫn còn bỏ ngỏ
4 Qua khảo sát nội dung môn Tiếng Việt trong chương trình phổ thông và môn Tiếng Việt trong chương trình đào tạo cao đẳng, phần bài tập luyện câu hiện nay đều ít mang tính thực tế, đặc biệt là rất ít các bài tập vận dụng, bài tập tăng khả năng sáng tạo, xử lí tình huống cho người học; quá trình thực hiện các bài tập thường mang tính rập khuôn theo mẫu, thiếu các cơ hội để thực hiện năng lực sử
dụng ngôn ngữ trong giao tiếp “Hầu hết hệ thống bài tập Tiếng Việt ở sách giáo
khoa Ngữ văn chương trình phổ thông chủ yếu được dùng để minh họa lí thuyết về tiếng Việt mà HS vừa học, nặng về thực hành ngôn ngữ học mà chưa thể hiện được
rõ nét các nguyên tắc giáo dục học trong dạy học thực hành tiếng Việt” [13] Nhìn chung, các bài tập chỉ mới dừng lại ở mức vận dụng những kiến thức để phân tích, nhận diện, so sánh, đối chiếu, thay thế các yếu tố hay hoàn chỉnh văn bản, sửa chữa lỗi, mà chưa có nhiều bài tập yêu cầu người học vận dụng các kiến thức vừa học vào thực tiễn giao tiếp
Trang 125 Hiện nay, trong chương trình đào tạo của trường Cao đẳng Cần Thơ, môn Tiếng Việt thực hành là môn học bắt buộc được dạy cho SV ở tất cả các chuyên ngành đào tạo Về cơ bản, bài giảng của chúng tôi được xây dựng trên cơ sở kế thừa
và phát triển nhiều giáo trình, tài liệu đã công bố của nhiều tác giả về môn học này,
do vậy bước đầu cũng đáp ứng được yêu cầu đào tạo trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, trong tương quan với định hướng phát triển năng lực người học nói chung và năng lực giao tiếp nói riêng của chương trình giáo dục mới, hiện bài giảng của chúng tôi đang bộc lộ một số hạn chế, bất cập như: mới chú trọng việc truyền đạt kiến thức, chưa đáp ứng tốt yêu cầu phát triển phẩm chất và năng lực của SV; chưa coi trọng yêu cầu về sư phạm và hướng nghiệp; một số nội dung chưa đảm bảo tính hiện đại, cơ bản, còn nghiêng về trang bị kiến thức lý thuyết, chưa thật sự thiết thực; chưa coi trọng kỹ năng thực hành, kỹ năng vận dụng kiến thức; chưa đáp ứng các yêu cầu về mục tiêu giáo dục đạo đức, lối sống; hình thức tổ chức giáo dục chủ yếu
là dạy học trên lớp, chưa coi trọng việc tổ chức các hoạt động xã hội, hoạt động trải nghiệm; chưa chú trọng dạy cách học và phát huy tính chủ động, khả năng sáng tạo của SV v.v Vì vậy, trên thực tế, kết quả dạy học tiếng Việt chưa đáp ứng được sự mong đợi, người học vẫn bộc lộ nhiều yếu kém trong kĩ năng thực hành, vận dụng ngôn ngữ vào hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, chất lượng và hiệu quả sử dụng các đơn vị tiếng Việt trong giao tiếp (đặc biệt là đơn vị câu) chưa cao
6 Qua nghiên cứu tài liệu kết hợp với thực tế dạy học, chúng tôi nhận thấy: trong số các đơn vị cơ bản của ngôn ngữ nói chung, tiếng Việt, câu là đơn vị có vai trò hết sức quan trọng đối với việc dạy học tiếng Việt theo quan điểm hoạt động giao tiếp Từ hoạt động tạo câu, chúng ta có thể giúp người học thực hành những kiến thức cơ bản của từ pháp và cú pháp như các kiểu từ, nghĩa của từ, kết hợp từ,
từ loại, các kiểu câu… Từ hoạt động liên kết câu, chúng ta có thể giúp người học thực hành những kiến thức cơ bản của ngữ pháp văn bản như các phương thức liên kết, cách xây dựng đoạn văn v.v Do vậy, tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu các biện pháp, phương pháp để nâng cao chất lượng dạy học câu tiếng Việt là điều rất cần thiết, có tính thời sự và có ý nghĩa khoa học – sư phạm cao
Trang 13Từ những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Phát triển năng lực
sử dụng câu cho sinh viên ngành ngoài sư phạm ở trường Cao đẳng qua dạy học học phần Tiếng Việt thực hành”
2 Lịch sử vấn đề
Phát triển năng lực sử dụng câu trong dạy học Tiếng Việt là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu xem xét theo những hướng khác nhau, xuất phát từ mục đích của việc nghiên cứu Để thực hiện luận văn, chúng tôi tiến hành khảo sát một số công trình tiêu biểu có liên quan đến dạy học Tiếng Việt và Tiếng Việt thực hành nói chung cũng như đến phát triển năng lực sử dụng câu nói riêng như sau:
Thứ nhất, những tài liệu cơ bản về phương pháp dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp
Phương pháp dạy học Tiếng Việt [1] là công trình của nhóm tác giả Lê A,
Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán, ra đời trong bối cảnh môn PPDH Tiếng Việt còn mới mẻ và cho đến nay, đây vẫn là giáo trình duy nhất về PPDH Tiếng Việt ở bậc THPT Sách gồm hai nội dung lớn: 1) Những vấn đề chung về PPDH Tiếng Việt và 2) PPDH các hợp phần Tiếng Việt ở trung học phổ thông Khi xác lập các nguyên tắc đặc thù của PPDH Tiếng Việt, các tác giả chú ý nhấn mạnh đến nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp như định hướng quan trọng cho việc dạy tiếng Việt ở trường trung học phổ thông; đồng thời đưa ra một số phương hướng để hướng dạy học vào hoạt động giao tiếp như: đặt ngôn ngữ cần tìm hiểu vào hệ thống hành chức của nó, tìm mọi cách hướng HS vào hoạt động nói năng… Từ việc xác định nguyên tắc trên, các tác giả đề cập đến phương pháp giao tiếp ở khía cạnh khái niệm, các bước tiến hành khi dạy học… Từ cơ sở lí luận đó, khi đề xuất các phương pháp dạy các hợp phần Tiếng Việt (lí thuyết chung, từ ngữ, ngữ pháp, phong cách học, làm văn), các tác giả luôn lưu ý người dạy tiếng Việt hướng đến nguyên tắc hoạt động giao tiếp để nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ cho học sinh
Hoạt động giao tiếp với dạy học Tiếng Việt ở tiểu học [15] của hai tác giả
Phan Phương Dung, Đặng Kim Nga là một trong những công trình nghiên cứu chuyên sâu về dạy tiếng Việt theo hướng giao tiếp Nội dung giáo trình được triển khai theo ba chương: 1) Giao tiếp và hoạt động giao tiếp; 2) Từ và câu trong hoạt
Trang 14động giao tiếp; 3) Dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp Trong chương 3, những vấn đề lí luận, những định hướng dạy học tương đối cụ thể ở tiểu học được trình bày khá cặn kẽ, đem đến cho người đọc quan tâm những tri thức cần thiết về quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt nói chung, dạy tiếng Việt ở tiểu học nói riêng Giáo trình xác định rõ việc dạy tiếng Việt ở tiểu học cần phải theo quan điểm giao tiếp, chỉ rõ mối quan hệ giữa quan điểm giao tiếp với mục tiêu dạy học tiếng Việt ở tiểu học Theo đó, các tác giả chỉ ra rằng mục tiêu dạy học ở tiểu học là hình thành kĩ năng lời nói, rèn kĩ năng giao tiếp (nghe, nói, đọc, viết) cho học sinh; cung cấp kiến thức cho người học là thứ yếu, đóng vai trò bổ trợ cho rèn luyện kĩ năng Từ đó, chương trình đặc biệt chú trọng việc hình thành kĩ năng lời nói toàn diện bao gồm cả sản sinh văn bản và tiếp nhận văn bản ở cả dạng nói lẫn dạng viết nên có nội dung vừa sức, gần với thực tiễn, được chuyển hóa thành những qui tắc sử dụng ngôn ngữ
Tiếng Việt và Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học [37] của nhóm tác
giả Đinh Thị Oanh - Vũ Thị Kim Dung - Phạm Thị Thanh có hai tiểu mô đun Ở tiểu mô đun 2 Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học, có ba chủ đề; ở chủ đề
2 Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học theo quan điểm giao tiếp có 4 tiểu chủ đề: 1) Giao tiếp và hoạt động giao tiếp; 2) Những cơ sở của quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt; 3) Sự thể hiện của quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt; 4) Phương pháp dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp ở tiểu học qua các phân môn
Trên tạp chí Ngữ học trẻ (2003), tác giả Ngô Thị Minh có bài Dạy Tiếng Việt
theo hướng hoạt động giao tiếp ở bậc tiểu học [32] Bài viết bàn về ba nội dung
chính: 1) Khái niệm về vấn đề dạy tiếng Việt theo hướng hoạt động giao tiếp; 2) Cơ
sở khoa học và thực tiễn của việc dạy tiếng Việt hướng vào hoạt động giao tiếp; 3) Sự thể hiện việc dạy tiếng Việt theo hướng hoạt động giao tiếp ở bậc tiểu học hiện nay
Trong Kỷ yếu Hội thảo giáo dục ngôn ngữ tại Việt Nam (2008), tác giả Đoàn
Thị Kim Nhung trong bài Đổi mới phương pháp dạy học Tiếng Việt trong SGK Ngữ
văn THCS theo hướng tăng cường tổ chức hoạt động của học sinh [36] đã đưa ra
bốn phương pháp dạy học nhằm tăng cường tổ chức hoạt động học tập của HS trong
Trang 15đó có phương pháp thực hành giao tiếp Theo tác giả, phương pháp này sẽ giúp HS nhận biết được những quy tắc sử dụng tiếng Việt trong thực tiễn giao tiếp và vận dụng những điều đã học vào thực tế sử dụng ngôn ngữ của bản thân, từ đó HS có hứng thú học tập và học tập có hiệu quả
Trong bài viết Yêu cầu đối với việc thiết kế bài tập TV dưới ánh sáng của lí
thuyết hoạt động giao tiếp [46], Trịnh Thị Lan cũng khẳng định: dạy học tiếng Việt
cần hướng vào hoạt động giao tiếp để rèn luyện cho người học những kĩ năng giao tiếp nhất định Tác giả lưu ý việc ra bài tập cần phải tạo được tình huống kích thích nhu cầu giao tiếp và định hướng giao tiếp cho người học
Trong bài viết Vận dụng quan điểm giao tiếp trong dạy học văn miêu tả cho
học sinh lớp 5 [45], Trần Thị Kim Cúc có đề cập đến: “Việc sử dụng phương pháp
thực hành giao tiếp nhằm giúp cho HS nhận biết những quy tắc sử dụng TV trong thực tiễn giao tiếp và vận dụng những điều đã học vào thực tế sử dụng ngôn ngữ của bản thân, từ đó HS học tập hứng thú và có hiệu quả”
Mặc dù những tài liệu vừa dẫn ở trên đề cập đến việc dạy học tiếng Việt ở các cơ sở giáo dục phổ thông từ Tiểu học đến THPT nhưng từ góc độ phương pháp, người quan tâm có thể tìm thấy ở đây những định hướng, những gợi ý cho việc dạy học giáo trình Tiếng Việt thực hành cho sinh viên ở bậc đại học, cao đẳng theo phát triển năng lực sử dụng câu
Thứ hai, những giáo trình cơ bản về dạy học Tiếng Việt thực hành
Cuốn Tiếng Việt thực hành - Sách dành cho sinh viên không chuyên ngữ, [2]
đã đề cập đến vấn đề “Rèn luyện kĩ năng về câu” (ở chương III) Trong đó, tác giả
Lê A, Đinh Thanh Huệ đã đưa ra cách hiểu về câu và các thành phần câu (thành phần chính, thành phần phụ) Xét theo thành phần chính, các tác giả đã đưa ra các kiểu cấu tạo câu như sau: câu đơn bình thường, câu đơn rút gọn, câu đặc biệt, câu ghép (câu ghép song song, câu ghép qua lại), câu phức hợp Thành phần phụ của câu gồm có: thành phần tình huống (còn gọi là trạng ngữ); thành phần chú thích; thành phần tha, gọi; thành phần khởi ý Ngoài ra, các tác giả còn đưa ra một số bài tập thực hành chữa lỗi sai về cấu tạo câu; hoàn chỉnh tiếp nội dung và cấu tạo của những câu cho sẵn… Có thể nhận thấy khá rõ: qua những nội dung trên, cuốn sách
Trang 16này chủ yếu đề cập đến cấu trúc câu mà chưa quan tâm đến hoạt động của câu trong giao tiếp hiện thực.
Giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt tập 2 [5] của tác giả Diệp Quang Ban gồm có năm phần; trong đó phần V Câu trong hoạt động giao tiếp đã gợi ra nhiều vấn đề
cơ bản và rất thiết thực, liên quan trực tiếp đến năng lực sử dụng câu như: 1) Câu và phát ngôn, 2) Kiểu câu phân loại theo mục đích nói và cách thực hiện hành động nói, 3) Câu phủ định và hành động phủ định…
Trong cuốn Tiếng Việt thực hành [16], tác giả Hữu Đạt đã đề cập đến hệ
thống các vấn đề cơ bản nhất liên quan đến việc sử dụng các đơn vị tiếng Việt trong các môi trường giao tiếp thông dụng; trong đó những nội dung liên quan đến câu
được đề cập đến ở phần III Câu trong hoạt động giao tiếp
Cuốn Tiếng Việt thực hành do Nguyễn Minh Thuyết chủ biên [40], đã đề cập
đến vấn đề “Rèn luyện kĩ năng đặt câu” (ở chương II) Trong đó, nhóm tác giả đã đưa ra cách chữa các lỗi thông thường về câu trong văn bản, đưa ra một số bài tập nhận diện lỗi và cách sửa lỗi và chữa lỗi viết câu, đưa ra một số phép biến đổi câu trong văn bản
Cuốn Tiếng Việt thực hành (giáo trình Cao đẳng sư phạm) của Bùi Minh
Toán - Nguyễn Quang Ninh [43] đã đề cập đến mục tiêu rèn luyện và nâng cao các
kĩ năng sử dụng tiếng Việt, trong đó chú trọng đến các kĩ năng thuộc quá trình tạo văn bản dưới dạng ngôn ngữ viết (như kĩ năng lập đề cương văn bản, kĩ năng lập luận, kĩ năng xây dựng đoạn văn, kĩ năng đặt câu, dùng từ, viết chữ,…)
Trong cuốn Tiếng Việt thực hành [41], các tác giả Nguyễn Minh Thuyết -
Nguyễn Văn Hiệp đã dành sự chú ý nhất định đến vấn đề “Đặt câu trong văn bản” (chương V); tìm hiểu yêu cầu về câu trong văn bản; đặc điểm của câu trong các văn bản khoa học, nghị luận và hành chính; một số thao tác rèn luyện về câu, một số loại lỗi và cách chữa Sau đó, nhóm tác giả đã giới thiệu về bài tập thực hành liên quan đến việc đặt câu trong văn bản, nhận diện lỗi và chữa lỗi…
Trong bài viết Hướng phân tích nghĩa của câu tiếng Việt theo quan điểm
giao tiếp [33], tác giả Ngô Thị Minh lưu ý: vì câu là đơn vị được hình thành trong
giao tiếp nên việc nghiên cứu câu không thể tách rời quá trình tạo câu khỏi hoạt
Trang 17động giao tiếp Tác giả đề ra hướng phân tích ngữ nghĩa của câu tiếng Việt như sau: dựa vào cấu trúc ngữ pháp và các phương tiện biểu hiện ý nghĩa của câu; dựa vào các nhân tố giao tiếp
Trong bài Dạy học nghĩa của câu ở trung học phổ thông theo tình huống
giao tiếp [23], tác giả Lê Thị Bích Hồng khẳng định sự cần thiết phải sử dụng tình
huống giao tiếp trong dạy tiếng Việt Tác giả nhấn mạnh “trong dạy học để giúp học sinh tích cực chủ động, huy động mọi vốn sống, tri thức, kinh nghiệm của mình vào hoạt động tìm kiếm tri thức mới hay giải quyết các tình huống mới, tăng cường khả năng suy nghĩ độc lập, sáng tạo, chủ động điều chỉnh nhận thức, lời nói và hành vi, giáo viên cần xây dựng các tình huống giao tiếp”
Đặc biệt, chúng tôi rất quan tâm đến giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt (Sách
dành cho các trường Cao đẳng Sư phạm) [44], của hai tác giả Bùi Minh Toán (chủ biên) - Nguyễn Thị Lương Trong tài liệu này, các tác giả đã triển khai giới thiệu những nội dung hết sức quan trọng, liên quan trực tiếp đến cấu trúc câu và hoạt
động phát triển năng lực sử dụng câu của học sinh như: chương IV Bình diện ngữ
pháp của câu tiếng Việt; chương V Bình diện ngữ nghĩa của câu tiếng Việt; chương
VI Bình diện ngữ dụng của câu (Câu trong hoạt động giao tiếp): 1) Sự thực hiện
hóa cấu trúc ngữ pháp của câu trong phát ngôn, 2) Mục đích nói của câu trong giao tiếp, 3) Hành động nói và cách thực hiện hành động nói, 4) Nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn của câu, 5) Cấu trúc tin trong câu, 6) Vấn đề câu trong hoạt động giao tiếp ở chương trình Ngữ văn THCS Mặc dù khuôn khổ của luận văn không cho phép khai thác đầy đủ, chi tiết kiến thức trong tài liệu này nhưng chúng tôi tin rằng đấy sẽ là những gợi ý để chúng tôi tiếp tục khai thác, ứng dụng đề tài nghiên cứu của mình trong tương lai
Qua một số tài liệu được giới thiệu trên đây, có thể thấy việc phát triển năng lực sử dụng câu cho học sinh, sinh viên đã được chú ý và làm sáng tỏ ở cả lí luận và thực tiễn dạy học tiếng Việt nói chung, Tiếng Việt thực hành nói riêng Tuy nhiên, đây vẫn là vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu sâu rộng hơn nữa, bám sát định hướng phát triển năng lực sinh viên để đáp ứng tốt hơn yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực trong giai đoạn mới
Trang 183 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đề xuất phát triển năng lực sử dụng câu cho sinh viên ngành ngoài sư phạm ở trường Cao đẳng qua dạy học học phần Tiếng Việt thực hành; từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt nói chung
và Tiếng Việt thực hành nói riêng cho sinh viên Đại học, Cao đẳng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lí thuyết về phát triển năng lực giao tiếp nói chung và năng lực tạo lập văn bản nói riêng; nghiên cứu lí thuyết về câu và hoạt động của câu trong giao tiếp hiện thực
- Khảo sát thực trạng năng lực sử dụng câu của sinh viên ngành ngoài sư phạm ở trường Cao đẳng, điều tra, thống kê, phân tích số liệu cụ thể và đưa ra những nhận định, đánh giá ban đầu
- Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực sử dụng câu cho sinh viên ngành ngoài sư phạm ở trường Cao đẳng thông qua dạy học học phần Tiếng Việt thực hành
- Thực nghiệm sư phạm kiểm chứng tính đúng đắn và khoa học của những đề xuất trong đề tài
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn sẽ nghiên cứu đối tượng là sinh viên ngành ngoài sư phạm ở trường Cao đẳng Cần Thơ và năng lực sử dụng câu của đối tượng đó
5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
Trang 19Chúng tôi sử dụng phương pháp này để nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn làm tiền đề cho việc phát triển năng lực sử dụng câu cho sinh viên ngành ngoài sư phạm ở trường Cao đẳng
- Phương pháp điều tra - thống kê
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để khảo sát tình hình dạy và học phát triển năng lực sử dụng câu cho sinh viên ngành ngoài sư phạm ở trường Cao đẳng qua dạy học học phần Tiếng Việt thực hành hiện nay và xử lí các kết quả thực nghiệm sư phạm nhằm kết luận về sự khác biệt trong kết quả học tập của hai nhóm đối tượng (thực nghiệm và đối chứng)
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp này được sử dụng nhằm thông qua thực tiễn dạy học để kiểm chứng tính khả thi của những nguyên tắc và cách phát triển năng lực sử dụng câu cho sinh viên ngành ngoài sư phạm ở trường Cao đẳng qua dạy học học phần Tiếng Việt thực hành
6 Đóng góp của luận văn
Nếu thành công luận văn sẽ có những đóng góp như sau:
Về lí luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ giúp người dạy góp phần
phong phú lí luận dạy học tiếng Việt nói chung và kĩ năng sử dụng câu nói riêng qua dạy học học phần Tiếng Việt thực hành ở trường Cao đẳng
Về thực tiễn: Kết quả của đề tài sẽ là cơ sở khẳng định tính hiệu quả của một
trong những biện pháp phát triển năng lực sử dụng câu cho sinh viên ngành ngoài
sư phạm ở trường Cao đẳng qua dạy học học phần Tiếng Việt thực hành
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và phần Phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng sử dụng câu cho sinh viên ngành ngoài sư phạm ở trường Cao đẳng
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 20NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lí luận
Dựa vào mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đã xác định, chúng tôi xác định:
cơ sở lí luận quan trọng nhất của đề tài trước hết là: cơ sở lí luận ngôn ngữ học, cơ
sở lí luận và phương pháp dạy học Tiếng Việt, cơ sở giáo dục học
1.1.1 Cơ sở ngôn ngữ học
1.1.1.1 Khái niệm câu
Từ lâu, trong các tài liệu đầu tiên nghiên cứu về ngữ pháp, giới nghiên cứu
đã quen thuộc với giới thuyết “Câu là sự tổng hợp của các từ biểu thị một tư tưởng
trọn vẹn.” [17, tr 106] Tương tự như vậy, Giáo trình Dẫn luận ngôn ngữ học [17],
đưa ra một định nghĩa câu ngắn gọn nhưng vẫn thể hiện đầy đủ hai tiêu chí hình thức và nội dung: “Câu là đơn vị nhỏ nhất có khả năng thông báo một sự việc, một
ý kiến, một tình cảm, một cảm xúc” [17, tr 226]
Trong Ngữ pháp tiếng Việt (tập 2), tác giả Diệp Quang Ban đã đưa ra định
nghĩa về câu như sau: “Câu là đơn vị nghiên cứu của ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói, hoặc có thể kèm theo thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm Câu đồng thời là đơn vị nhỏ nhất bằng ngôn ngữ” [5, tr 107]
Theo giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt hiện đại [7]: “Câu là đơn vị ngôn ngữ
dùng để thông báo, có tính giao tiếp, tính tình thái, và tính vị ngữ.” [7, tr.116] Tính giao tiếp thể hiện mục đích giao tiếp nhất định của câu Tính tình thái chính là thái
độ hay sự biểu cảm của người tạo lập câu (nhất là trong văn nói) “Tính vị ngữ của câu là sự kết hợp cú pháp chủ ngưc với vị ngữ hoặc sự kết hợp cú pháp có quan hệ
tương tự ” [7, tr 116]
Trong giáo trình Tiếng Việt tập 2, của hai tác giả Đinh Trọng Lạc và Bùi
Minh Toán [29], các tác giả không đi vào những định nghĩa cụ thể mà đưa ra những
Trang 21khái niệm và đặc trưng cơ bản về đơn vị câu: “Câu không phải là đơn vị có sẵn Nó được tạo ra trong quá trình tư duy và hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ dựa vào các đơn vị có sẵn và các quy tắc kết hợp các đơn vị ấy Câu thể hiện được một ý tương đối trọn vẹn, thái độ, tình cảm của người nói hay người viết Câu là đơn vị chức năng khác với các đơn vị thấp hơn nó: câu giúp cho việc hình thành, biểu hiện
và truyền đạt tư tưởng tình cảm từ người này sang người khác Chức năng này là chức năng thông báo So với các đơn vị cao hơn cũng thực hiện chức năng này thì câu là đơn vị nhỏ nhất Câu có một cấu tạo ngữ pháp nhất định và một ngữ điệu kết thúc Ngữ điệu kết thúc báo cho người nghe biết câu trọn vẹn, trên chữ viết nó
được thể hiện bằng một dấu chấm câu.” [29, tr 61] Ý kiến của hai tác giả này tuy
dài nhưng nó bổ sung những đặc trưng của đơn vị câu cho các định nghĩa câu của các nhà nghiên cứu khác
Trong Tiếng Việt thực hành dùng cho sinh viên không chuyên ngữ, tác giả Lê
A đã rút ra định nghĩa về câu như sau: “Câu được hiểu là một đơn vị ngôn ngữ do từ tạo thành hợp nghĩa với nhau Nó có một nghĩa hoàn chỉnh; được cấu tạo theo một
quy tắc ngữ pháp nhất định; có tính tình thái.”[2, tr 44]
Trong Ngữ pháp tiếng Việt, Nguyễn Thị Ly Kha định nghĩa: “Câu là đơn vị
lời nói có cấu tạo ngữ pháp nhất định, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm Câu đồng thời là đơn vị lời nói có chức năng thông báo.” [26, tr 146]
Theo định nghĩa trong Giáo trình Tiếng Việt thực hành của hai tác giả Bùi
Minh Toán và Nguyễn Quang Ninh, “Câu là đơn vị ngôn ngữ cơ bản và tối thiểu để thực hiện được chức năng thông báo, nghĩa là trao đổi được nhận thức, tư tưởng, tình cảm giữa người với người.” [43, tr 120]
Nhìn chung, khi định nghĩa câu, các tác giả thường nêu bốn yếu tố sau: yếu
tố hình thức (câu có cấu tạo ngữ pháp nhất định, có tính chất tự lập, có ngữ điệu kết thúc), yếu tố nội dung (câu mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn; có kèm theo thái
độ của người nói, người viết), yếu tố chức năng (câu có chức năng thông báo; giúp hình thành, biểu hiện và truyền đạt tư tưởng, tình cảm), lĩnh vực nghiên cứu (câu là đối tượng nghiên cứu của ngữ pháp học) Trong luận văn, những vấn đề liên quan
Trang 22đến câu sẽ được chúng tôi triển khai theo cách bám sát những yếu tố đó và chú ý đến sự thể hiện của các yếu tố đó trong hoạt động giao tiếp hiện thực
1.1.1.2 Cấu trúc câu tiếng Việt
Trong các tài liệu cơ bản hiện có về dạy học tiếng Việt trong nhà trường (sách giáo khoa, giáo trình ), cấu trúc câu tiếng Việt thường được phân tích theo ngữ pháp truyền thống; khi đó cấu trúc cơ bản, nòng cốt của câu tiếng Việt là cấu trúc chủ - vị Theo cấu trúc chủ - vị, câu tiếng Việt được phân tích thành: a) thành phần nòng cốt (chủ ngữ, vị ngữ); b) thành phần ngoài nòng cốt (trạng ngữ, thành phần phụ chú, thành phần cảm thán, thành phần tình thái, hô ngữ); và c) thành phần phụ (đề ngữ, định ngữ)
Đối với học sinh, sinh viên, chủ ngữ và vị ngữ là những khái niệm rất quen thuộc Dựa vào chức năng trong câu, các thành tố cấu tạo nên câu được phân tích hết sức đầy đủ, dù đó là thực từ hay hư từ; quan hệ giữa các từ trong cụm từ, quan
hệ giữa các cụm từ với nhau luôn được thể hiện rõ ràng; chức năng của các thành phần câu được phản ánh một cách cụ thể
Tuy nhiên, xét theo quan điểm giao tiếp, cấu trúc này lại có những hạn chế như: khi nói một câu, cái quan trọng là ta truyền đi một thông tin; nhưng phân tích câu theo cấu trúc chủ - vị chỉ quan tâm đến bình diện hình thức của câu mà không làm rõ vấn đề trọng tâm thông báo của câu; các thành phần câu được gọi tên thuần tuý theo kiểu ngữ pháp, không rõ chức năng ngữ nghĩa; không phải lúc nào cũng có thể ứng dụng được cho mọi câu tiếng Việt, đặc biệt là những câu trong giao tiếp
sinh hoạt hàng ngày, những câu có cấu trúc khác thường v.v
Như đã biết, trong ngôn ngữ học hiện đại, đối với câu, ngoài cấu trúc chủ - vị
(ngữ pháp truyền thống), giới nghiên cứu ngôn ngữ học còn đưa ra các kiểu cấu trúc
khác như: cấu trúc vị từ - tham thể (ngữ pháp ngữ nghĩa); cấu trúc đề - thuyết (ngữ pháp chức năng); và cấu trúc cái cho sẵn - cái mới (lí thuyết phân đoạn thực tại)
Một câu tiếng Việt hiện nay có thể được phân tích theo bốn phương pháp Bốn kiểu cấu trúc câu này (và theo đó là bốn phương pháp phân tích câu) có những điểm tương đồng nhưng cũng có những điểm khác biệt với nhau Mỗi phương pháp phân tích câu có những thế mạnh riêng, phụ thuộc vào bình diện mà nó phản ánh và cũng
Trang 23có những hạn chế của nó Tuy nhiên, trong luận văn, chúng tôi vẫn chọn cấu trúc chủ - vị làm cấu trúc cơ sở để phù hợp với các tài liệu, giáo trình hiện đang sử dụng chính thức trong chương trình đào tạo sinh viên Cao đẳng
1.1.1.3 Phân loại câu tiếng Việt
Hiện nay, người ta phân loại câu theo hai loại: phân loại câu theo cấu trúc ngữ pháp, và phân loại câu theo mục đích nói
a) Phân loại câu theo cấu trúc ngữ pháp
Trong các công trình nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt nói chung và câu tiếng Việt nói Việt nói riêng, các tác giả khác nhau có nhiều xu hướng phân loại câu khác nhau Nhìn chung, có thể quy các cách phân loại câu tiếng Việt về một số kiểu
cơ bản như sau:
Thứ nhất, dựa vào cấu tạo ngữ pháp, trong Ngữ pháp tiếng Việt (tập 2) của
tác giả Diệp Quang Ban, câu được chia thành hai loại: câu đơn và câu ghép
Câu đơn gồm: câu đơn hai thành phần; câu đơn đặc biệt; câu đơn mở rộng thành phần nòng cốt; câu đơn mở rộng thành phần câu; câu dưới bậc (câu có tính vị ngữ tự thân; câu có tính vị ngữ lâm thời)
Câu ghép gồm: câu ghép có kết từ (câu ghép đẳng lập, câu ghép chính phụ), câu ghép qua lại (câu ghép có phụ từ liên kết), câu ghép kết chuỗi (câu ghép không
có từ liên kết)
Tương tự như vậy, trong cuốn Tiếng Việt thực hành của hai tác giả Bùi Minh
Toán - Nguyễn Quang Ninh, câu cũng được chia thành hai loại: câu đơn, câu ghép
Cụ thể:
- Câu đơn là câu thường có hai thành phần chính làm thành nòng cốt (chủ ngữ và vị ngữ) Ngoài ra, câu đơn có thể có các thành phần khác để cụ thể hóa nội dung của câu, hoặc để bày tỏ tình cảm thái độ, hoặc để thực hiện chức năng liên kết với các câu khác [43, tr 122]
- Câu ghép là câu gồm từ hai vế trở lên, mỗi vế vốn là một nòng cốt của câu đơn (thường có cấu tạo chủ - vị), các vế đó có quan hệ với nhau nhưng có tính độc lập tương đối: không vế nào làm thành phần trong vế nào Giữa các vế thường dùng quan hệ từ (hoặc cặp quan hệ từ) để nối kết [43, tr 124]
Trang 24Thứ hai, cũng dựa vào cấu tạo ngữ pháp nhưng trong Giáo trình Tiếng Việt
thực hành của Lê A, câu được chia thành ba loại: câu đơn (câu chỉ có một nòng cốt
câu, không hàm chứa một cụm chủ vị nào khác); câu phức thành phần câu (câu có chủ ngữ là cụm chủ vị; câu có cụm chủ vị làm vị ngữ; câu có cụm chủ vị làm thành phần phụ cho danh từ hoặc động từ); và câu ghép (câu ghép chuỗi, câu ghép đẳng lập, câu ghép chính phụ)
Thứ ba, cũng dựa vào cấu tạo ngữ pháp nhưng trong Giáo trình Tiếng Việt và
Tiếng Việt thực hành của nhóm tác giả Lã Thị Bắc Lí, Phan Thị Hồng Xuân,
Nguyễn Thị Thu Nga, câu được chia thành 5 kiểu: câu đơn, câu phức, câu ghép, câu đặc biệt và câu tỉnh lược; cụ thể:
- Câu đơn: “Câu đơn là câu có cấu tạo một kết cấu chủ vị.” [31, tr 100]
- Câu phức: “Câu phức là câu có từ hai kết cấu chủ -vị trở lên, trong đó có một kết cấu chủ - vị làm nòng cốt câu, các kết cấu chủ - vị khác làm thành phần câu (như chủ ngữ, vị ngữ, định ngữ, bổ ngữ ) Các kết cấu chủ - vị làm thành phần câu
“bị bao” trong kết cấu chủ - vị.” [31, tr 100]
- Câu ghép: “Câu ghép là câu có từ hai kết cấu chủ - vị trở lên, mỗi kết cấu chủ - vị làm thành một vế câu, không bao hàm lẫn nhau.” [31, tr 102]
- Câu đặc biệt: “Câu đặc biệt là câu không có cấu tạo chủ - vị, mà chỉ được tạo thành bởi một từ hoặc một cụm từ chính phụ hay cụm từ đẳng lập nhưng vẫn là một cấu trúc cú pháp độc lập và thực hiện chức năng như những câu bình thường.” [31, tr 105]
- Câu tỉnh lược: “Câu tỉnh lược là kiểu câu có một hoặc một số thành phần câu được rút gọn do ngữ cảnh hoặc tình huống nói năng cho phép Có thể khôi phục lại thành phần bị rút gọn.” [31, tr 106]
b) Phân loại câu theo mục đích nói
Đối với việc phân loại câu theo mục đích nói, các nhà nghiên cứu nhìn chung đều thống nhất chia câu thành 4 loại: câu tường thuật, câu nghi vấn, câu mệnh lệnh, câu cảm thán Cụ thể:
- Câu tường thuật (hay còn gọi là câu kể): câu tường thuật là câu có mục đích miêu tả, trình bày, xác nhận sự việc, thường được kết thúc bằng dấu chấm
Trang 25- Câu nghi vấn: Câu nghi vấn có mục đích nêu lên điều chưa biết hoặc còn hoài nghi và yêu cầu trả lời, thường được kết thúc bằng dấu chấm hỏi
- Câu mệnh lệnh (hay còn gọi là câu cầu khiến): Câu mệnh lệnh là câu dùng
để bày tỏ ý muốn nhờ, yêu cầu hay bắt buộc người nghe thực hiện điều nêu lên trong câu, thường được kết thúc bằng dấu chấm than (có thể là dấu chấm)
- Câu cảm thán: Câu cảm thán là câu dùng để biểu thị đến một mức độ nhất định tình cảm, thái độ đánh giá của người nói đối với sự vật, sự kiện mà câu đề cập, thường được kết thúc bằng dấu chấm than (có thể là dấu chấm)
Thật ra, phân loại câu theo mục đích nói chỉ là cách tiếp cận có tính chất truyền thống về câu trong hoạt động của nó và có tính đến các dấu hiệu hình thức chứa trong nó (chẳng hạn như dấu câu) Trong thực tế giao tiếp, các câu độc lập thường không phải là một đơn vị giao tiếp hoàn chỉnh, phổ biến mà chỉ là một yếu
tố - đơn vị nhỏ nhất - của sản phẩm giao tiếp Do vậy, phân loại câu theo mục đích nói chủ yếu vẫn là cách phân loại theo cấu tạo ngữ pháp nhưng được nhìn nhận thêm dưới góc độ công dụng để làm rõ hơn bức tranh toàn cảnh về câu tiếng Việt; không có tác dụng nhiều đối với việc hình thành và phát triển năng lực sử dụng câu
1.1.1.4 Câu và phát ngôn
a) Cách thức tìm hiểu câu
Theo các tài liệu cơ bản, câu có thể được tìm hiểu theo bốn cách thức: câu và cấu trúc ngữ pháp của câu; câu trong văn bản; câu trong phong cách ngôn ngữ; và câu trong hoạt động giao tiếp
Xem xét câu trong cấu trúc ngữ pháp của câu là xem xét câu được cấu tạo theo kiểu nào, các thành phần của nó được tổ chức ra sao v.v Hiểu về cấu trúc ngữ pháp của câu là điều hết sức cần thiết, góp phần quan trọng vào việc xác định câu đúng/sai ngữ pháp Tuy nhiên, hiểu về cấu trúc ngữ pháp của câu chưa phải là hiểu hết về câu, và chưa đủ để phát triển kĩ năng sử dụng câu Do vậy, câu cần được tìm hiểu rộng hơn trong những mối quan hệ khác
Câu trong văn bản: Ở đây, người ta xem xét câu trong mối liên hệ với các câu khác của đoạn văn, văn bản Theo hướng xem xét này, cần đặc biệt chú ý tới các phương tiện liên kết liên câu, làm cho các câu gắn bó với nhau về hình thức
Trang 26cũng như về ý nghĩa trong đoạn văn hay toàn văn bản Chẳng hạn, phép thế trong ngữ pháp văn bản là một bằng chứng chỉ rõ cấu tạo ngữ pháp của câu chịu sự chi phối của những câu đứng trước nó
Câu trong phong cách ngôn ngữ: Ở đây, người ta xem xét câu trong mối liên
hệ với các phong cách ngôn ngữ để đánh giá mức độ phù hợp của việc sử dụng câu trong một phong cách nhất định, sự chi phối của phong cách ngôn ngữ như thế nào đối với cấu tạo ngữ pháp của câu v.v Ví dụ: sự đối thoại trực tiếp trong phong cách ngôn ngữ sinh hoạt làm cấu tạo ngữ pháp của câu thường được rút gọn; tính chất mệnh lệnh trong văn bản thuộc phong cách hành chính - công vụ thường không dùng kiểu câu cảm thán v.v
Câu trong hoạt động giao tiếp: Ở đây, người ta xem xét câu trong mối liên hệ với hoạt động giao tiếp Chỉ đến lúc này, câu mới thực sự được xem xét như một đơn vị dùng để nhận thức và phản ánh hiện thực, để trao đổi thông tin, tình cảm giữa người này với người kia Trong ngôn ngữ học, thuật ngữ “phát ngôn” dùng để chỉ câu trong hoạt động giao tiếp, câu xét trong tình huống sử dụng cụ thể
b) Chi phối của hoạt động giao tiếp đối với phát ngôn
Xem xét câu trong hoạt động giao tiếp là xem xét sự chi phối, tác động của các nhân tố giao tiếp đến phát ngôn Trong phát ngôn có thể nhận ra các nhân tố như người nói, người nghe, cái được nói đến (nội dung giao tiếp), những yếu tố khác có trong văn bản xung quanh phát ngôn (hoàn cảnh giao tiếp)
Người nói (viết) là người tạo ra phát ngôn Hình thức và nội dung của phát ngôn như thế nào phần lớn đều tuỳ thuộc vào nhân tố này Vì vậy, người nói (viết)
có trò quyết định đến tính hiệu lực của phát ngôn
Người nghe (đọc) tuy không tạo ra phát ngôn nhưng lại chi phối quá trình chuẩn bị tạo ra phát ngôn của người nói (viết), khiến người nói (viết) khi tạo ra ra phát ngôn phải chú ý đến tuổi tác, địa vị xã hội, trình độ hiểu biết, sở thích, tính khí của người nghe (đọc) Một phát ngôn mà người tiếp nhận không có điều kiện tiếp nhận đầy đủ thì đó vẫn là một phát ngôn ít hiệu lực thực tế
Phát ngôn bao giờ cũng chứa đựng một nội dung cụ thể; nội dung này cùng với những phần có trước và có sau của phát ngôn có tác động chi phối rất quan
Trang 27trọng đến hình thức diễn đạt, thậm chí điều chỉnh nội dung diễn đạt v.v
Tóm lại, trong hoạt động giao tiếp, bốn nhân tố: người nói (viết), người nghe (đọc), nội dung, văn bản chưa phát ngôn đều góp phần quy định cách tổ chức phát ngôn, sự lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ và góp phần giải thích vì sao phát ngôn có hình thức, nội dung thế này mà không phải thế kia Đối với hoạt động phát triển năng lực sử dụng câu cho người học, chú ý đến câu như những phát ngôn là một
định hướng quan trọng để xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng câu
1.1.1.5 Lí thuyết ba bình diện của tín hiệu ngôn ngữ và hoạt động giao tiếp bằng tín hiệu ngôn ngữ
Theo lí thuyết này, hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ có ba bình diện:
- Bình diện nghĩa học: là bình diện của mối quan hệ giữa tín hiệu với sự vật, hiện tượng Mối quan hệ này tương ứng với thành phần ý nghĩa mệnh đề, hay ý nghĩa miêu tả, ý nghĩa sự vật của câu Cũng chính mối quan hệ này là cơ sở cho tương quan giữa các tham thể của sự kiện mà câu phản ánh với các thành phần cú pháp của câu
- Bình diện cú học là bình diện của mối quan hệ giữa các tín hiệu trong một phát ngôn, nghĩa là mối quan hệ giữa các từ, cụm từ trong câu Nó được thể hiện trong lĩnh vực cú pháp ở các mối quan hệ cú pháp của các từ, của các thành phần ngữ pháp của câu Chẳng hạn mối quan hệ giữa chủ ngữ và vị ngữ, giữa thành phần chính và thành phần phụ, giữa các vế trong câu ghép…
- Bình diện dụng học là bình diện của mối quan hệ giữa tín hiệu hay các yếu
tố ngôn ngữ với người sử dụng và việc sử dụng chúng trong một hoàn cảnh giao tiếp nhất định Chính trên cơ sở xem xét bình diện này mà hành loạt các vấn đề liên quan đến câu cần phải được tìm hiểu và nắm vững như các vấn đề về ý nghĩa tình thái và thành phần tình thái của câu, vấn đề điều kiện sử dụng của các kiểu câu, vấn
đề ý nghĩa hàm ẩn (hàm ngôn) của câu, vấn đề các hành vi ngôn ngữ và hiệu quả của chúng trong hoạt động giao tiếp,…
Chính những cơ sở ngôn ngữ học trên đây làm thành nền tảng lí luận vững chắc cho việc dạy học ngữ pháp tiếng Việt nói chung, câu tiếng Việt nói riêng; đồng thời quy định cả những nội dung dạy học và phương pháp dạy học ngữ pháp trong
Trang 28các cơ sở giáo dục, đào tạo
1.1.2 Cơ sở lí luận và phương pháp dạy học tiếng Việt
Ngôn ngữ là hệ thống hoạt động chức năng, luôn được thể hiện trong các dạng lời nói khác nhau; mọi quy luật cấu trúc và hoạt động của hệ thống ngôn ngữ chỉ được rút ra trên cơ sở nghiên cứu lời nói sinh động Mục tiêu của việc dạy học tiếng Việt trong nhà trường chủ yếu không phải để nghiên cứu về nó mà quan trọng hơn, giúp người học biết cách sử dụng thành thạo tiếng Việt trong tư duy và giao tiếp Từ mục tiêu đó, có thể thấy cơ sở lí luận quan trọng nhất có liên quan trực tiếp đối với đề
tài trước hết là cơ sở lí thuyết hoạt động giao tiếp và lí thuyết ngôn ngữ học văn bản
1.1.2.1 Lí thuyết hoạt động giao tiếp
Trước hết lí thuyết hoạt động giao tiếp chi phối mục tiêu của việc dạy học ngữ pháp: không phải chỉ truyền thụ và lĩnh hội các tri thức về hệ thống ngữ pháp
mà cả các tri thức về các quy tắc trong hoạt động hành chức (giao tiếp), hơn nữa còn nâng cao các kĩ năng sử dụng (đến mức thành thạo) ngôn ngữ trong giao tiếp
Lí thuyết hoạt động giao tiếp quyết định nội dung dạy - học ngữ pháp: hướng
về những vấn đề của câu trong hoạt động giao tiếp Theo quan điểm của ngữ pháp truyền thống, câu được xem là đơn vị ngôn ngữ lớn nhất có tính độc lập và tính hoàn chỉnh Thật ra, tính độc lập và tính hoàn chỉnh của câu cũng chỉ là tương đối, nếu xét câu với tư cách là một thành tố của các đơn vị lớn hơn Chính trong hoạt động giao tiếp, câu mới được hiện thực hóa trong các phát ngôn, mới có sự biến hóa
đa dạng về thành phần cấu tạo (mở rộng câu, tỉnh lược thành phần câu, ghép câu, tách câu…), về trật tự sắp xếp, về cách sử dụng theo lối trực tiếp hay gián tiếp…Và
cả những yêu cầu về tính liên kết, về mối liên hệ qua lại giữa các câu cũng được đạt
ra khi sử dụng câu trong giao tiếp (trong văn bản)
Về mặt ngữ nghĩa, chính trong hoạt động giao tiếp, gắn chặt với hoàn cảnh giao tiếp, câu mới nảy sinh các ý nghĩa hàm ẩn sâu sắc, bên cạnh các nghĩa tường minh (được bộ lộ trực tiếp qua các từ ngữ hiện diện) Rõ ràng là, với tư cách là môn học về một phương tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ, môn Tiếng Việt nói chung và phân môn ngữ pháp không thể bỏ qua những vấn đề trên đây
Điều đó lí giải vì sao trong nội dung dạy học ngữ pháp ở phổ thông trung học
Trang 29cần phải bao gồm những vấn đề về việc sử dụng câu, về câu trong văn bản, về ngữ nghĩa (tường minh, hàm ẩn) của câu,…“Dạy và học câu không thể chỉ dừng lại ở việc nhận nhận thức mô hình cấu tạo câu, ở việc tìm hiểu câu trong trạng thái cô lập, tách rời khỏi mối liên hệ với hoàn cảnh giao tiếp, với những câu khác trong ngôn bản, mà cần khảo sát câu trong mối liên hệ với hoạt động hành chức” Lê A,
Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán, Phương pháp dạy học Tiếng Việt, [1, tr.121]
1.1.2.2 Lí thuyết ngôn ngữ học văn bản
Về bản chất, ngôn ngữ học văn bản rất gần với lí thuyết hoạt động giao tiếp nhưng giới hạn trong phạm vi văn bản Văn bản vừa là sản phẩm của sự liên kết các câu, vừa là một dạng hoàn cảnh giao tiếp điển hình của câu Vì thế việc dạy học về câu cần đặt trong mối quan hệ với văn bản
Lí thuyết về văn bản đặt cơ sở để xem xét mối quan hệ tương tác ở hai phương diện sau:
- Sự liên kết của các câu khi tạo thành văn bản Sự liên kết này tạo nên đặc trưng cơ bản của văn bản, đồng thời đảm bảo cho sự tồn tại, sự đứng vững của mỗi câu trong văn bản
- Sự chế định của văn bản đối với mỗi câu về các phương diện thành phần cấu tạo, trật tự sắp xếp thành phần, hình thức tổ chức của câu Sự chế định này cũng xác định cho mỗi câu một nhiệm vụ giao tiếp nhất định và hàm chứa một nội dung ngữ nghĩa (tường minh hay hàm ẩn) nhất định
Chính sự chế định của văn bản đối với câu dẫn đến những khả năng và sự cần thiết của việc viết câu, tách câu, mở rộng câu, lựa chọn trật tự cho các bộ phận trong câu, v.v
1.1.3 Cơ sở giáo dục học
Giáo dục học thế giới đã có nhiều cách tiếp cận để xây dựng chương trình giáo dục; trong đó hai cách tiếp cận chủ yếu, có sự phổ biến tương đối rộng là: cách tiếp cận nội dung; và cách tiếp cận năng lực
Với quan niệm giáo dục là quá trình truyền thụ nội dung kiến thức, cách tiếp cận nội dung được xem là bản phác thảo về nội dung giáo dục, qua đó người dạy biết mình cần phải dạy những gì và người học biết mình cần phải học những gì
Trang 30Theo cách tiếp cận này, giáo dục là quá trình truyền thụ kiến thức cho người học;
chương trình giáo dục nêu ra một danh mục đề tài, chủ đề của một lĩnh vực/môn
học nào đó cần dạy và học để tập trung xác định và trả lời câu hỏi: Chúng ta muốn
người học biết cái gì?
Hiện nay, chương trình giáo dục của hầu hết các nước tiên tiến trong khu vực
và trên thế giới đã chuyển sang cách tiếp cận theo định hướng phát triển năng lực Chương trình giáo dục tiếp cận năng lực không chỉ cung cấp kiến thức cho người học mà chú trọng nhiều hơn đến việc tiến hành các biện pháp, cách thức hoạt động linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả… nhằm khơi dậy khả năng tìm kiếm, giải quyết vấn đề của người học, giúp người học biết vận dụng những kiến thức đã học gắn liền với cuộc sống để giải quyết các tình huống do cuộc sống đặt ra, biết hành động, ứng phó linh hoạt và hiệu quả trong những điều kiện mới, không quen thuộc, hoà nhập tốt vào thị trường lao động ngoài xã hội v.v Nói cách khác, nếu chương trình giáo
dục tiếp cận nội dung tập trung xác định và trả lời câu hỏi: Chúng ta muốn người
học biết cái gì? thì chương trình giáo dục tiếp cận năng lực luôn đặt ra câu hỏi: Người học biết làm gì và làm như thế nào từ những điều đã học?
Ở Việt Nam, cách tiếp cận năng lực hiện đang là định hướng của Đề án Đổi
mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông của Bộ GD-ĐT Theo định hướng này, mục tiêu giáo dục sẽ chuyển từ tập trung vào trang bị kiến thức, kĩ năng sang phát
triển phẩm chất và năng lực người học, đảm bảo hài hoà giữa “dạy chữ”, “dạy người”
và định hướng nghề nghiệp; nội dung giáo dục phải đảm bảo chuẩn hoá, hiện đại hoá,
hội nhập quốc tế và gắn với thực tiễn Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đảm bảo tính hoàn chỉnh, linh hoạt, liên thông thống nhất trong và giữa các
cấp học; tích hợp và phân hoá hợp lí, có hiệu quả; các phương pháp, phương tiện và
hình thức tổ chức giáo dục được đổi mới theo hướng hiện đại hoá, đa dạng hoá, số
hoá nhằm phát triển phẩm chất và năng lực HS; các hình thức và phương pháp thi,
kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục được đổi mới theo hướng coi trọng cả kiểm
tra đánh giá kết quả với kiểm tra đánh giá quá trình, phản ánh mức độ đạt chuẩn
chương trình; quản lí quá trình xây dựng và thực hiện chương trình đảm bảo tính khả
thi, linh hoạt, phù hợp địa phương và đối tượng HS v.v Rõ ràng, tiếp tục triển khai và
Trang 31cập nhật thường xuyên những nghiên cứu mới, cụ thể về định hướng này đối với việc đổi mới chương trình đào tạo (trong đó có môn Tiếng Việt thực hành) ở bậc đại học, cao đẳng là hết sức cần thiết trong thời gian tới
1.2 Cơ sở thực tiễn
Phương pháp với tư cách là một khoa học cần phải quan hệ chặt chẽ với thực tiễn dạy và học tiếng trong nhà trường Chính thực tiễn cũng là cơ sở của phương pháp, là nơi nảy sinh ra các vấn đề mà phương pháp cần nghiên cứu, là nơi kiểm nghiệm, đánh giá kết quả nghiên cứu của các nhà phương pháp
Để xây dựng cơ sở thực tiễn cho đề tài, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng dạy học môn Tiếng Việt thực hành ở trường Cao đẳng Cần Thơ
1.2.1 Mục đích khảo sát
Đề tài khảo sát tình hình phát triển năng lực sử dụng câu cho sinh viên ngành ngoài sư phạm nhằm: nắm bắt tình hình dạy học thực tế trong nhà trường, phát hiện những điểm còn hạn chế trong việc phát triển năng lực sử dụng câu cho sinh viên, lí giải những nguyên nhân sinh viên cao đẳng ngoài sư pham còn thiếu khả năng phát triển năng lực sử dụng câu trong cuộc sống, từ đó xây dựng hệ thống bài tập giúp sinh viên các ngành ngoài sư phạm phát triển năng lực sử dụng câu
1.2.2 Đối tượng và địa bàn khảo sát
Đề tài lấy giảng viên và sinh viên ở Trường Cao đẳng Cần Thơ làm đối tượng khảo sát đại diện cho các lớp ngoài sư phạm đang theo học môn Tiếng Việt thực hành Đó là các lớp Cao đẳng Kế toán 41A,B,C,D
Hai là, sử dụng phiếu trao đổi ý kiến giảng viên và sinh viên, qua đó nắm bắt thái độ, nhận thức của giảng viên và sinh viên cùng những thuận lợi, khó khăn trong việc phát triển năng lực sử dụng câu cho sinh viên các ngành ngoài sư phạm qua
Trang 32môn học Tiếng Việt thực hành
Ba là, chấm bài kiểm tra (212 bài) để nắm được hiệu quả phát triển năng lực
sử dụng câu cũng như khả năng vận dụng tri thức tiếng Việt vào thực tế hoạt động giao tiếp của sinh viên, từ đó thấy được sự cần thiết phải phát triển năng lực sử dụng câu cho sinh viên ngành ngoài sư phạm ở trường Cao đẳng
1.2.4 Nội dung khảo sát
Để xác định thực trạng dạy học Tiếng Việt thực hành ở trường Cao đẳng và phát triển năng lực sử dụng câu cho sinh viên, chúng tôi đã tiến hành những công việc như sau:
- Về phía giáo viên: chúng tôi sử dụng phát phiếu trao đổi ý kiến đến 50
giảng viên về tình hình chất lượng dạy học Nội dung phát phiếu khảo sát thể hiện
cụ thể trong mục (1.2.5.1) Sau khi nhận phiếu trao đổi, chúng tôi tiến hành phân
loại ý kiến và rút ra nhận xét
- Về phía sinh viên: chúng tôi tiến hành phát phiếu khảo sát đến 204 sinh
viên các lớp Cao đẳng Kế toán K41A,B,C,D Nội dung phát phiếu khảo sát thể hiện
cụ thể trong mục (1.2.5.2) Sau khi thu nhận phiếu khảo sát, chúng tôi tiến hành
phân loại ý kiến, rút ra nhận xét
Để nhìn nhận, đánh giá cơ sở thực tiễn một cách toàn diện hơn, chúng tôi tiến hành tổ chức chọn bốn lớp mà chúng tôi có ý định tiến hành thực nghiệm, đối chứng để làm bài kiểm tra Kết quả khảo sát sẽ phản ánh rõ nét thực trạng sử dụng câu của sinh viên ngoài sư phạm ở trường Cao đẳng qua học học phần Tiếng Việt thực hành Việc kiểm tra được thực hiện ngay từ đầu môn học Yêu cầu nội dung của bài kiểm tra là thực hành tạo lập câu và viết một đoạn văn ngắn có tối đa 6 câu
về thực trạng an toàn giao thông hiện nay Số lượng bài kiểm tra là 212 bài Đề kiểm tra được trình bày ở phần phụ lục Qua chấm bài chúng tôi phát hiện và thống
kê kết quả cụ thể ở mục (1.2.5.3) của từng sinh viên trong quá trình sử dụng câu
Trang 331.2.5 Kết quả khảo sát
1.2.5.1 Kết quả khảo sát qua phiếu trao đổi với giảng viên
Số
TT
Nội dung câu hỏi
khảo sát Các phương án trả lời Số
thấy sinh viên thường
gặp lỗi viết câu nào
nhất?
a Lỗi về cấu trúc câu 20 40%
b Lỗi về logic - ngữ nghĩa 14 28%
c Lỗi về dấu câu 06 12%
d Lỗi về liên kết giữa các
câu trong đoạn
10 20%
3 Khi chấm bài kiểm tra
viết, Thầy/Cô xác định
lỗi viết câu của sinh
viên dựa trên tiêu chí
nào?
a Dựa vào các thành phần
và mối liên hệ trong câu
%
b Dựa vào sự liên kết giữa
các câu trong đoạn
%
c Cả hai tiêu chí trên 50 100%
4 Khi chấm bài kiểm tra
viết, Thầy/Cô thấy
sinh viên thường sử
Trang 345 Khi chấm bài kiểm tra
viết, Thầy/Cô có gặp
hiện tượng sinh viên
viết câu sai do không
nắm vững kiến thức
chuyên môn (ví dụ: Lê
Lợi lãnh đạo cuộc khởi
nghĩa Tây Sơn) không?
6 Theo Thầy/Cô, thực
trạng viết câu sai của
sinh viên chuyên
rèn luyện sửa câu sai
để viết câu đúng của
sinh viên chuyên
sửa câu sai để viết câu
đúng của sinh viên
chưa tốt theo Thầy/Cô
b Sinh viên chưa thấy hết tác
hại của việc viết câu sai
02 4%
c Sinh viên chưa hiểu đầy
đủ về quy tắc viết câu
Trang 359 Theo Thầy/Cô, việc
phát triển kĩ năng sử
dụng câu và sửa lỗi
viết câu cho sinh viên
chuyên ngành ngoài sư
Nội dung câu hỏi
khảo sát Các phương án trả lời Số phiếu Tỉ lệ Nhận xét
văn bản
168 82,35%
b Cảm thấy trình độ học vấn của người
b Dựa vào kinh
nghiệm khi nói
20 9,8%
c Nhờ người khác chỉ
bảo giúp để sửa
21 10,29%
Trang 363 Trước khi đến lớp học
môn Tiếng Việt thực
hành nói chung, phần
câu nói riêng, anh/chị
có thường chuẩn bị bài
a Thiếu tài liệu 12 5,88%
b Thiếu thời gian 08 3,92%
c Không có phương pháp tự học/ không biết làm như thế
Trang 376 Theo anh/chị, việc đọc
nhiều sách, báo tham
khảo có làm cho sinh
viên nâng cao khả năng
sử dụng câu hay không?
dụng các dấu câu như:
dấu chấm phẩy, dấu ba
Trang 3811 Để nối kết các câu trong
đoạn, anh chị thường sử
dụng các phép liên kết
nào?
a Phép lặp: Dùng lặp lại ở các câu một (một số) yếu tố ngôn ngữ nào đó
40 19,60%
b Phép thế: Thay thế
từ ngữ ở câu này bằng từ đồng nghĩa, hay từ đồng
sở chỉ, hoặc bằng đại từ ở câu khác
24 11,76%
c Phép nối: Dùng quan hệ từ hay các
từ ngữ chuyển tiếp nối kết các câu
101 49,50%
d Phép tỉnh lược:
Tỉnh lược từ ngữ ở câu sau khi nó đã được thể hiện ở câu đi trước, nhờ
đó hai câu liên kết với nhau
18 8,82%
đ Phép liên tưởng:
Dùng các từ ngữ cùng trường nghĩa, gần nghĩa hoặc trái nghĩa ở các câu trong văn bản để tạo quan hệ liên tưởng
21 10,29%
Trang 3912 Theo anh/chị, kĩ năng
sửa câu sai của bản thân
13 Theo anh/chị, có bao
nhiêu % sinh viên trong
lớp có kĩ năng sửa được
14 Theo anh/chị, nguyên
nhân nào dẫn đến việc
viết câu sai?
a Chưa nắm vững quy tắc tạo lập câu
18 8,82%
b Chưa nắm vững quy tắc liên kết câu
06 2,94%
c Chưa nắm vững kiến thức chuyên môn
25 12,25%
d Tất cả các lí do trên 155 75,98%
1.2.5.3 Kết quả bài khảo sát kiểm tra của sinh viên
Bảng 1.1 Bảng thống kê kết quả chấm bài kiểm tra của sinh viên
Cao đẳng
Kế toán A K41 53 0 0 0 4 12 18 12 6 1 0 Cao đẳng
Kế toán B K41 57 0 0 0 4 10 21 12 8 2 0 Cao đẳng
Cao đẳng
Kế toán D K41 54 0 0 0 7 8 22 10 5 2 0
Trang 40Bảng 1.2 Bảng đánh giá kết quả chấm bài kiểm tra của sinh viên
số
Giỏi 9,0 - 10 (A) 8,5 - 8,9 (B + )
Khá 7,5 - 8,4 (B) 7,0 - 7,4 (C + )
Trung bình 6,0 - 6,5 (C) 5,5 - 5,9 (D + )
TB - Yếu 4,0 - 5,5 (D)
Kế toán B K41 57 2 3,50 20 35,08 21 36,84 14 24,56 0 0% Cao đẳng
Kế toán C K41 48 2 4,16 15 31,25 24
50
7 14,58 0 0% Cao đẳng
Kế toán D K41 54 2 3,70 15 27,77 22 40,74 15 27,77 0 0%
1.2.6 Nhận xét chung về khảo sát
1.2.6.1 Về phía giáo viên
Nhìn chung, qua nội dung phiếu trao đổi của giảng viên, chúng tôi nhận thấy đội ngũ giảng viên đã có nhiều cố gắng trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy; có ý thức sử dụng kết hợp nhiều giáo trình, tài liệu để làm phong phú thêm trong tiết dạy của mỗi cá nhân; dạy học tiếng Việt gắn liền với việc tạo môi trường, điều kiện giao tiếp để người học thực hành; bước đầu chuyển dịch phương pháp dạy học ngữ pháp tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực Tuy nhiên qua khảo sát và phân tích kết quả khảo sát, chúng tôi nhận thấy kết quả rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt nói chung, câu tiếng Việt vẫn chưa đạt được hiệu quả mong đợi Phát triển năng lực sử dụng câu một cách linh hoạt, sáng tạo của người học vẫn ở trình độ thấp; thực trạng viết câu của sinh viên rất phổ biến là một biện pháp được thầy cô đồng tình ủng hộ (chiếm tỉ lệ 76% ý kiến giảng viên được khảo sát)
1.2.6.2 Về phía sinh viên
Thực tế khảo sát cũng cho thấy: nhìn chung, phần đông kĩ năng sử dụng câu của sinh viên tập trung ở nhóm trung bình, trung bình - yếu, tỉ lệ đạt điểm giỏi, khá không nhiều; kĩ năng sửa câu sai của sinh viên cũng chỉ ở mức trung bình (chiếm tỉ lệ 52.45 %)