- Xuất phát từ những mục đích chính trị và tính toán đến tiềm lực của đất nước, nhiệm vụ cơ bản của chiến lược là: Chuẩn bị lực lượng vũ trang + Cùng với sự phát triển kinh tế, các nhà n
Trang 1ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG
I BỐI CẢNH LỊCH SỬ
1 Điều kiện kinh tế xã hội
- Theo phân kỳ lịch sử, thời cổ đại tính từ khi xã hội loài người có phân chia giai cấp, có Nhà nước; khoảng từ cuối thiên niên kỷ thứ IV TCN đến cuối thế kỷ V sau công nguyên,
+ Ở phương Đông cổ đại đã xuất hiện những Nhà nước chiếm hữu nô lệ rất sớm như Ai-cập, At-xi-ri, Ba-bi-lon, Trung Quốc, Ba Tư, Ân Độ, v.v
+ Ở phương Tây, những Nhà nước cổ đại như Hy Lạp, La Mã, Các-ta-giơ, sau khi chế độ thị tộc tan rã, ruộng đất tập trung vào các chủ nô
+ Thời cổ đại, công cụ sản xuất còn thô sơ, trình độ sản xuất thấp kém, nên tốc độ phát triển kinh tế - xã hội chậm chạp
2 Sự tuyển mộ trang bi, tổ chức quân đội
a) Cách tuyển mộ
- Cách tuyển mộ, vũ trang và tổ chức quân đội trải qua mấy ngàn năm đã có nhiều thay đổi Khi các Nhà nước cổ đại xuất hiện
- Điển hình cho quân đội được xây dựng trên cơ sở sở hữu ruộng đất công xã
(hình thức kinh tế gia nô) là quân đội Ai Cập cổ đại
- Tiêu biểu cho quân đội được xây dựng trên cơ sở chế độ tư hữu ruộng đất
(hình thức kinh tế chiếm hữu nô lệ) là quân đội Hy Lạp cổ đại
+ Quân đội chỉ gồm những đại diện của chủ nô, được tổ chức theo hình thức quân đội dân cảnh trong đó mỗi người đàn ông sinh trưởng tự do đều bắt buộc phải làm quân dịch
+Ở những nước này cũng có dân quân, nhưng vai trò thấp kém, còn nô lệ là hạng người không được tham gia lực lượng vũ trang (LLVT)
+ Quân đội thời cổ đại được vũ trang bằng các vũ khí lạnh (bạch khi, có vũ khí để tiến công và phòng hộ Vũ khí được tăng cường về số lượng và chất lượng (bằng đồng đỏ, đồng thau, sau bằng sắt)
b) Tổ chức quân đội
- Cơ cấu tổ chức quân đội thường gồm hai loại: Lục quân và thủy quân Binh chủng cơ bản là bộ binh, quan trọng là ky binh Các nước phương Đông còn sử dụng xe chiến (ngựa kéo), voi chiến, lạc đà Cùng với vũ khí cận chiến (gươm giáo)
Vũ khí viễn chiến (cung, nỏ ) được xem trọng
Trang 2Cách tổ chức đơn vị tác chiến thường theo hệ thập phân 10, 100, 1000
- Ở Hy Lạp, bộ binh được chia thành các loại:
Bộ binh nặng (giáp binh),
Bộ binh nhẹ (cung tên) và sau đó lại có loại bộ binh trung
- Tổ chức đơn vị chiến đấu là "Fa-lăng" với đội hình xiết chặt
- Ớ La Mã, tổ chức đơn vị chiến đấu là "Lê-gi-ông" có 3.000 bộ binh nặng, 1.200 bộ binh nhẹ và 300 ky binh
Thủy binh trên biển và trên sông, được tổ chức với hàng trăm chiến thuyền, gồm các thuyền lớn có buồm và mái chèo và thuyền có mái chèo
- Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chiến tranh chỉ xuất hiện khi
xã hội loài người có giai cấp, có Nhà nước, có tổ chức quân sự của Nhà nước là quân đội
- Thời cổ đại đã diễn ra hàng ngàn cuộc chiến tranh, gồm chiến tranh phi nghĩa và chiến tranh chính nghĩa
+ Các cuộc chiến tranh chính nghĩa tự vệ như: Hy Lạp chống Ba Tư xâm lược, các dân tộc ở vùng Tây Á chống La Mã, Văn Lang - Âu Lạc chống Tần,
+ Các cuộc chiến tranh phi nghĩa nhằm xâm chiếm các nước, các bộ lạc để
mợ rộng lãnh thổ, bắt nô lệ như của các Pha-ra-ông Ai Cập, của Trung Quốc
- Thời cổ đại có nhiều cuộc chiến tranh lớn, kéo dài Cuộc chiến tranh giữa
Ba Tư với Hy Lạp (chiến tranh Mê-đích) diễn ra tới 4 lần
- Cuộc chiến tranh lớn kéo dài nữa là cuộc chiến giữa La Mã với Các-ta-giơ1 (chiến tranh Pu-ních), diễn ra tới 3 lần
II NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ
1.Chiến lược quân sự
Cùng với việc xuất hiện chiến tranh, trên thực tế cũng đã nảy sinh nghệ thuật quân sự (NTQS) để chỉ đạo đấu tranh vũ trang
- Xuất phát từ những mục đích chính trị và tính toán đến tiềm lực của đất nước, nhiệm vụ cơ bản của chiến lược là: Chuẩn bị lực lượng vũ trang
+ Cùng với sự phát triển kinh tế, các nhà nước cổ đại được mở rộng hơn, số quân tăng lên, quy mô các hoạt động quân sự và thời gian các cuộc chiến tranh cũng tăng lên
+ Từ thế kỷ V (TCN), nhiều Nhà nước cổ đại đã có nguồn nhân vật lực lớn như Ba Tư, Ma-xê-đoan, Các-ta-giơ, La Mã Trung Quốc cho phép thành lập quân đội đông tới 4-5 vạn
1Một nước ở Bắc Phi, thuộc Tuy-ni-di ngày nay.
Trang 3- Do thủy quân phát triển và là một lực lượng quan trọng nên vấn đề hiệp đồng chiến lược thủy - bộ cũng đặt ra Nhờ biết phát huy lợi thế của thủy quân
- Việc tạo cớ phát động chiến tranh, lôi kéo liên minh, chia rẽ cô lập làm suy yếu đối phương cũng được vận dụng
+ Nhiều dân tộc tiến hành chiến tranh chính nghĩa tự vệ như người Sy-thơ chống quân đội Ba Tư, các dân tộc Tây Á chống quân đội La Mã, Âu Lạc
- Việc bổ sung lực lượng bằng cách lấy viện binh từ nước mình đưa sang và lôi kéo đồng minh tham chiến, khi cần có thể bắt tù binh để bổ sung
Thời cổ đại cũng đã đặt ra và giải quyết vấn đề bảo đảm an toàn cho đất nước mình và củng cố các vùng trọng yếu trên lãnh thổ đã đánh chiếm được Chiến trường được chuẩn bị sẵn trước
2.Chiến thuật
Cùng với sự xuất hiện chiến tranh, chiến đấu, đã nảy sinh chiến thuật, theo nghĩa ban đầu là bày binh bố trận và tiến hành giao chiến
Thời cổ đại vủ khí sát thương là bạch khí, uy lực chủ yếu dựa vào sức cơ bắp của người và vật
Ở những nước phương Đông cổ đại (Ai Cập, Trung Quốc, Ba Tư ), từ thiên niên kỷ II trước công nguyên đã có những hình thức dàn trận đơn giản
Trong quân đội các quốc gia Hy Lạp cổ đại (A-ten, Spác-tơ, Ma-xê-đoan ),
cơ sở của đội hình chiến đấu là Pha-lăng; một đội hình xiết chặt dày đặc thành một khối của bộ binh nặng có chiều sâu từ 8-16 hàng, có khi tới 25 hàng Pha-lăng hoạt động
- Quá trình tích lũy kinh nghiệm lâu dài, người Hy Lạp tổ chức ra bộ binh hạng trung, vừa có khả năng công kích trong đội hình Pha-lăng
- Nguyên tắc phân bố lực lượng không đồng đều trên trận tuyến với mục đích tập trung lực lượng cho đòn tiến công chủ yếu ở địa điểm quyết định"
+ Nửa sau thế kỷ IV TCN, A-lêch-xăng-đơ vua xứ Ma-xê-đoan đã phát triển chiến thuật lên mức cao thể hiện trong trận quyết định diệt quân Ba Tư ở Gap-ga-men năm 331 TCN
- Một bước tiến lớn so với Pha-lăng là việc chuyển sang đội hình chiến đấu
"Lê-gi-ông" của người La Mã Vào thế kỷ IV TCN,
- Mỗi Lê-gi-ông có 3.000 giáp binh, biên chế thành 30 Ma-ni-pun và triển khai thành 2 đến 3 tuyến; phía trước có bộ binh nhẹ và bảo vệ hai
- Xét trên mọi phương diện, đội hình chiến đấu Lê-gi-ông hơn hẳn lối tác chiến kiểu Pha-lăng xiết chặt, gò bó, cồng kềnh và cơ động kém
+ Trong cuộc chiến tranh Pu-ních lần thứ hai (218-202 TCN), quân đội
Trang 4Các-ta-giơ do A-ni-ban chỉ huy đã tiến vào đất Ý
- Chiến thuật của quân đội La Mã có những thay đổi mới vào thế kỷ I TCN,
3 Ma-ni-pun được hợp thành 1 Cô-hoóc, các Cô-hoóc (360-600 binh sĩ) triển khai thành 3 tuyến, tuyến 3
- Ở phương Đông chiến thuật phát triển theo hướng sắp đặt thế trận (bày trận) và phương pháp cơ động lực lượng chuyển hóa thế trận (trận pháp)
Đội hình chiến thuật cơ bản của họ là "đội hình bát quái" và từ đội hình cơ bản này được cơ động chuyển hóa thành các thế trận mới
+ Tuy chiến thuật của Trung Quốc cổ đại có bước phát triển khá cao nhưng khi nhà Tần xâm lược Văn Lang - Âu Lạc, chiến thuật đó đã không phát huy được tác dụng và đã bị quân dân Âu Lạc đánh bại
- Trong thủy quân, chiến thuật của trận đánh là sử dụng thuyền có mái chèo dàn thành hàng đánh vỗ mặt Thủ đoạn chiến đấu cơ bản là áp mạn công kích, bắn chất cháy sang đốt thuyền hoặc đâm phá thuyền đối phương
3 Lý luận quân sự
Trao đổi: Lý luận quân sự theo Tôn Tử thế nào?
Thời cổ đại đã nảy sinh lý luận quân sự và đã xuất hiện những tác phẩm tổng kết kinh nghiệm các cuộc chiến tranh và các trận hội chiến
Theo Tôn Tử về mặt chiến lược có năm nhân tố cơ bản quyết định thắng lợi của chiến tranh là: Đạo, thiên, địa, tướng, pháp
“Đạo” là dân chúng nghe theo ý chỉ của vua, có thể cùng sống chết, không
sợ mọi nguy hiểm
“Thiên” là chỉ quy luật biến hóa của các hiện tượng thời tiết khí hậu: ngày đêm, mưa nắng, nóng lạnh
Tôn Tử binh pháp cho rằng “… dự đoán được địa điểm và thời gian tác chiến thì có thể hành quân ngàn dặm để giao chiến với quân địch
“Tướng” là chỉ phẩm chất của người cầm quân có thông minh, chân thực, nhân ái và nghiêm túc không
Về lâu dài, Tôn Tử cho rằng: “Tướng soái là người phụ tá nhà vua, phụ tá chu đáo thì quốc gia sẽ cường thịnh, phụ tá sai sót thì quốc gia sẽ suy yếu”
Trong từng cuộc chiến “Tướng, soái có tài năng, mà không bị nhà vua ức chế, thì có thể gành thắng lợi ”
Về chỉ đạo tác chiến sách Lục Thao đòi hỏi các tướng soái phải “hiểu rõ thù, hiểu rõ bạn, hiểu rõ mình
Về tổ chức huấn luyện quân đội “ Ủy Liêu Tử” nhấn mạnh ba điểm:
Trang 5tướng ,soái phải nghiêm và gương mẫu trước quân sĩ; kỹ luật phải nghiêm minh
“Pháp” là chỉ tổ chức, biên chế, kỹ luật quân đội, bố trí hệ thống chỉ huy, sự chi viện của hậu phương vv
Chiến thuật thì việc tính toán thắng bại cần qua năm bước “độ, lượng, số, xưng và thắng”
“ Độ” tức là tính toán, so sánh diện tích đất đai rộng hẹp của hai nước đối địch
“Lượng” tức là căn cứ vào diện tích rộng, hẹp, xấu tốt của đất đai để tính toán, so sánh sức người, sức của của hai nước đối địch
“Số” là căn cứ vào sức người, sức của để tính toán, so sánh số quân hai nước đối địch có thể huy động và nuôi dưỡng
“Xưng” là căn cứ các điều kiện vật chất và con người của hai nước đối địch
để phân tích đánh giá sức mạnh tổng hợp về quân sự của mổi nước
“ Thắng” là căn cứ vào bốn bước phân tích so sánh nói trên, đi đến kết luận bên nào sẽ thắng
Tuy nhiên, khi có đủ điều kiện chiến thắng rồi, lại phải tạo thế, đủ phát huy những điều kiện ấy, dành chiến thắng to lớn, chọn vẹn và chắc chắn hơn
Trong thực tế, khi cán cân so sánh lực lượng qua chênh lệch thì chiến thắng
là điều dễ thấy và dễ làm, không nên vì thế mà kiêu ngạo
Người giỏi cầm quân bao giờ cúng tìm cách phát huy mọi nỗ lực chủ quan đến mức tối đa, dành thắng lợi ở mức tối ưu, vượt khó khăn để đánh thắng những đối thủ khó đánh thắng
Theo Tôn Tử “ Kẻ thiện chiến bao giờ cũng ở tư thế không để địch đánh bại mình và không bỏ lỡ một cơ hội nào để đánh bại kẻ địch
Những đội quân chiến thắng bao giờ cũng chuẩn bị sẵn sàng những điều kiện chiến thắng rồi mới giao chiến
Những đội quân chiến bại thường là cứ giao chiến rồi mới tìm cách chiến thắng Sách “Ủy Liêu Tử” cũng đã nhấn mạnh “ Tiến hành chiến tranh, không thể tùy tiện và làm theo cảm tính
Phải tính toán cẩn thận trước khi hành động, nhưng khi đã quyết định thì hành động phải kiên quyết, tuyệt đối không được do dự
“ Không chắc thắng thi không đánh, không được nông nổi mà giao chiến
Uy tín phải được tạo lên trong ngày thường, sự biến phải được dự kiến trước lúc phát sinh
Khi binh sĩ đã được tập trung thì không thể tùy tiện giải tán, quân đội khi đã xuất trận thì không thể quay về mà không thể lập được chiến công
Trang 6Việc truy tìm kẻ địch phải quyết tâm làm bằng được, như thể quyết tâm đi tìm đứa con của mình bị thất lạc
Khi tiến công kẻ địch phải hành động nhanh chóng, liều thân như khi nhảy xuống nước cứu người chết đuối”
Trong những điều kiện đảm bảo chiến thắng, cũng là những điều kiện đi tới quyết tâm hành động, thì tinh thân binh sĩ có vai trò đặc biệt Vì thế mà sách “ Ủy Liêu Tử” nhấn mạnh:
Khi tinh thần quân sĩ phấn chấn hăng hái thì có thể tiến hành quyết chiến với địch
Khi quân địch giao động và không dám tiến lên, thì phải thừa cơ phát động tiến công
Khi đã nắm vững tình hình địch, lại ở trên độ cao khống chế, thì phải lấy uy thế áp đảo địch Làm được như vậy là đã hiểu binh pháp”
- Quan điểm của Tôn Tử và các binh gia cổ Trung Quốc là phải “ đánh chắc thắng
Vê-ghét-xi-a (cuối thế IV - đầu thế kỷ V) trong cuốn "Tóm lược những nguyên tắc quân sự" đã trình bày một cách có hệ thống về toàn bộ các lĩnh vực quân
sự của La Mã cổ đại
KẾT LUẬN ĐỊNH HƯƠNG NGHIÊN CƯU
1 Chiến thuật thời cổ đại Ý nghĩa?
2 Lý luận quân sự thời cổ đại theo binh pháp tôn tử Ý nghĩa?
3 Lý luận quân sự thời cổ đại bàn về chiến thuật theo binh pháp tôn tử Ý nghĩa ?