Kết cấu đề tài...4 NỘI DUNG CHÍNH...5 CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG NHÂN KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS...5 1.1.Khái quát chung về Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics...5 1.1.1.K
Trang 1BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN PHÁP LUẬT LOGISTICS Chủ đề:Thương nhân kinh doanh dịch vụ Logictics –
Thực trạng và hướng hoàn thiện.
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1.Lý do chọn đề tài 3
2.Đối tượng nghiên cứu, mục đích nghiên cứu 4
3.Phương pháp nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu 4
4 Kết cấu đề tài 4
NỘI DUNG CHÍNH 5
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG NHÂN KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS 5
1.1.Khái quát chung về Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics 5
1.1.1.Khái niệm về chủ thể kinh doanh dịch vụ logistics 5
1.1.2.Điều kiện của chủ thể kinh doanh dịch vụ logistics 5
1.2.Quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics 7
1.3.Giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics: 9
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THƯƠNG NHÂN KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS 11
2.1.Thực trạng quy định pháp luật về dịch vụ logistics tại Việt Nam 11
2.2.Những bất cập của pháp luật về quy định quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics 12
2.2.1.Quy định pháp luật về chủ thể kinh doanh dịch vụ logistics chưa cụ thể, chưa rõ ràng 12
2.2.2.Chưa có quy định cụ thể thế nào là “chi phí hợp lý” hoặc “lý do chính đáng” khi xác định nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics 12
2.2.3.Quy định trường hợp miễn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics khi tổn thất là do khuyết tật của hàng hóa 14
2.2.4 Quy định định mức bồi thường thiệt hại và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics 14
CHƯƠNG 3 : NHỮNG YÊU CẦU VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG NHÂN KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS 16
3.1.Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics 16
KẾT LUẬN 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài
Trong điều kiện kinh tế thị truờng hiện nay, các hoạt động thương mại phát triển rất phong phú, đa dạng và đan xen lẫn nhau, việc một thương nhân chỉ bằng khả năng của mình thực hiện tất cả các công đoạn của quá trình giao lưu thương mại ngày càng trở nên hạn hữu Chỉ để chuyển được hàng hóa đến cho người mua, thương nhân bán hàng có thể phải thực hiện một loạt các thao tác từ đóng gói sản phẩm, ghi ký mã hiệu, làm thủ tục thuế quan và một loạt các giấy tờ khác để gửi hàng và nhận hàng, xếp dỡ hàng hóa, lưu kho bãi…Thương nhân bán hàng có thể thực hiện được tất cả những công việc trên nhưng không phải bất cứ thương nhân nào cũng có đủ trình độ chuyên môn, mặt khác những chi phí phát sinh trong việc thực hiện các hoạt động phụ trợ trên cũng rất tốn kém Để giảm chi phí sản xuất, các thương nhân đã lựa chọn cho mình những dịch vụ liên quan đến việc chuyển hàng hóa đến người mua Và vì thế dịch vụ giao nhận hàng hóa ra đời.Dịch vụ này lần đầu tiên được quy định trong Luật thương mại 1997, và cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, giao nhận hàng hóa dần được mở rộng nội hàm Luật thương mại 2005 gọi loại dịch vụ này là dịch vụ Logistics.Tại điều 233 Luật thương mại 2005 đã định nghĩa: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo
đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho,lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng,đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao
Kinh doanh dịch vụ logistics là nội dung rất quan trọng trong hệ thống pháp luật của các quốc gia, trong đó có Việt Nam.Mặc dù Việt Nam đã hội nhập khá sâu rộng trong kinh tế quốc tế, song hiện nay, pháp luật còn nhiều bất cập, hạn chế về về
kinh doanh dịch vụ logistics.Chính vì điều đó e đã lựa chọn để tài “Thương nhân
Trang 4kinh doanh dịch vụ logistics -Thực trạng và hướng hoàn thiện” để có thể nếu ra
thực trạng kinh doanh logistics hiện nay và từ đó tìm ra giải pháp hoàn thiện
2.Đối tượng nghiên cứu, mục đích nghiên cứu
-Đối tượng nghiên cứu : Pháp luật về thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics -Mục đích nghiên cứu : Phân tích thực trạng và nêu ra hướng hoàn thiện luật pháp
về thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics
3.Phương pháp nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
-Phương pháp nghiên cứu: Phân tích
-Phạm vi : Pháp luật Việt Nam
4 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của đề tài gồm ba chương:
Chương 1 : Cơ sở lý luận về Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics
Chương 2:Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics
Chương 3: Những yêu cầu và hướng hoàn thiện pháp luật về thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics
Trang 5NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG NHÂN KINH DOANH DỊCH
VỤ LOGISTICS
1.1 Khái quát chung về Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics
1.1.1 Khái niệm về chủ thể kinh doanh dịch vụ logistics
Chủ thể kinh doanh dịch vụ logistics được quy định tại điều 234 (Luật Thương mại 2005) về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics, theo đó “thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là doanh nghiệp” có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics theo quy định của pháp luật Theo quy định tại Khoản 1, Điều 6 Luật Thương mại 2005: “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng kí kinh doanh” Trong khi đó, Khoản 1, Điều 4, Luật Doanh nghiệp 2005 định nghĩa
về doanh nghiệp như sau: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản,
có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”
1.1.2 Điều kiện của chủ thể kinh doanh dịch vụ logistics
Dịch vụ logistics là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, điều kiện này được quy định tại mục 61, phụ lục 4 của Luật Đầu tư năm 2014 và mục 60, phụ lục 4 của Luật Sửa đổi bổ sung điều 6 và phụ lục 4 về danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư
Chủ thể kinh doanh dịch vụ logistics dù là pháp nhân hoặc không phải là pháp nhân vẫn phải tuân thủ các điều kiện kinh doanh nhất định tại điều 4 Nghị định số 163/2017/NĐ-CP, ngày 30/12/2017 quy định chi tiết Luật Thương mại 2005 về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics: Thương nhân kinh doanh 16 dịch vụ cụ thể được quy
Trang 6định tại Điều 3 Nghị định này phải đáp ứng các điều kiện đầu tư, kinh doanh theo quy định của pháp luật đối với dịch vụ đó
1.1.3.Điều kiện đối với chủ thể là nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam
Trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện cam kết về logistics với Tổ chức Thương mại thế giới và các nước khu vực là điều tất yếu Nghị định số 140/2007/NĐ-CP ngày 05/9/2007 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistic và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistic; theo quy định hiện nay vừa được sửa đổi
để phù hợp với thực tế Nghị định số 163/2017/NĐ-CP, ngày 30/12/2017 quy định chi tiết Luật Thương mại 2005 về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics đã mở rộng đối tượng áp dụng là các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp logistics nước ngoài, đồng thời thể hiện sự không phân biệt các loại hình doanh nghiệp và mà tạo
ra sân chơi rộng lớn, bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp Đây cũng là cơ hội và cũng là thách thức cho các doanh nghiệp logistics Việt Nam, buộc họ phải nhanh chóng đổi mới, nâng cao năng lực cạnh tranh để có thể tồn tại và phát triển cùng với các doanh nghiệp nước ngoài ngay tại thị trường logistics Việt Nam và vươn ra môi trường quốc tế
Hiện nay, theo cam kết với Tổ chức Thương mại thế giới, Việt Nam đã mở cửa thị trường dịch vụ logistics bao gồm: Dịch vụ xếp, dỡ container, dịch vụ thông quan, dịch vụ kho bãi, dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa và các dịch vụ thực hiện thay mặt cho chủ hàng với những quy định hết sức cụ thể Các dịch vụ cụ thể đều yêu cầu nhà đầu tư nước ngoài phải thành lập liên doanh với đối tác Việt Nam, tỷ lệ vốn góp không quá 49%, 51%, 70% tùy từng dịch vụ và từng mốc thời gian cụ thể cho việc tăng vốn góp trong liên doanh hoặc thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Trang 7Đối với nhà đầu tư nước ngoài, bên cạnh việc đáp ứng các điều kiện chung thì nhà đầu tư nước ngoài thuộc nước, vùng lãnh thổ là thành viên tổ chức thương mại thế giới được cung cấp dịch vụ logistics theo các điều kiện quy định tại Nghị định số 163/2017/NĐ-CP, ngày 30/12/2017 quy định chi tiết Luật Thương mại 2005 về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics
Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài thuộc đối tượng áp dụng của các điều ước quốc
tế có quy định khác nhau về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics, nhà đầu tư được lựa chọn áp dụng điều kiện đầu tư quy định tại một trong các điều ước đó Đây là một quy định rất mở cho các nhà đầu tư nước ngoài và cũng là để phù hợp với những cam kết quốc tế của Việt Nam
1.2 Quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics
Quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là nội dung cơ bản của quy định pháp luật về dịch vụ logistics nằm rải rác trong các quy định của
hệ thống pháp luật chung và hệ thống pháp luật chuyên ngành điều chỉnh dịch vụ này Điều 235 Luật Thương mại 2005 quy định quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics như sau:
“1 Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics
có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
a) Được hưởng thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác;
b) Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có lý do chính đáng vì lợi ích của khách hàng thì thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng, nhưng phải thông báo ngay cho khách hàng;
c) Khi xảy ra trường hợp có thể dẫn đến việc không thực hiện được một phần hoặc toàn bộ những chỉ dẫn của khách hàng thì phải thông báo ngay cho khách hàng để xin chỉ dẫn;
Trang 8d) Trường hợp không có thoả thuận về thời hạn cụ thể thực hiện nghĩa vụ với khách hàng thì phải thực hiện các nghĩa vụ của mình trong thời hạn hợp lý
2 Khi thực hiện việc vận chuyển hàng hóa, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải tuân thủ các quy định của pháp luật và tập quán vận tải.”
Như vậy các chủ thể kinh doanh dịch vụ logistics có quyền thỏa thuận với nhau
về quyền và nghĩa vụ Pháp luật luôn ưu tiên sự thỏa thuận của các chủ thể Trong trường hợp các chủ thể không thỏa thuận được thì theo quy định, họ có các quyền
và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 235 Luật thương mại ,quyền được “hưởng thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác”
Về nguyên tắc, khi thực hiện hợp đồng, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải tuân thủ các quy định về nghĩa vụ trong hợp đồng trong đó có việc tuân theo các chỉ dẫn của khách hàng Tuy nhiên,“Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có lý do chính đáng vì lợi ích của khách hàng thì thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng, nhưng phải thông báo ngay cho khách hàng” Để đảm bảo quyền lợi cho các thương nhân kinh doanh dịch vụ logistic, Nhà nước đã có những quy định cụ thể các quyền của thương nhân, trong đó tại khoản 1 Điều 239 Luật Thương mại 2005 quy định: “ Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có quyền cầm giữ một số lượng hàng hoá nhất định và các chứng từ liên quan đến số lượng hàng hoá đó để đòi tiền nợ đã đến hạn của khách hàng nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho khách hàng” Trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày thông báo cầm giữ hàng hóa cùng các chứng từ liên quan đến hàng hóa mà khách hàng nợ mà khách hàng không trả lời thì thương nhân có quyền định đoạt số hàng hóa đó tương ứng với số tiền mà khách hàng đã nợ mình và chi phí liên quan.Bên cạnh quyền được cầm giữ và định đoạt hàng hóa thì thương nhân kinh doing dịch vụ logistics còn có các nghĩa vụ được quy định tại Điều 240 Luật Thương mại :“ Bảo quản , giữ gìn hàng hóa”, “Không được sử dụng hàng hóa nếu không được bên có hàng hóa bị cầm giữ đồng ý”,“Bồi
Trang 9thường thiệt hại cho bên có hàng hóa bị cầm giữ trong trường hợp để hư hỏng mất mát hàng hóa”.Nghĩa vụ này chỉ được đặt ra trong trường hợp khi thương nhân chưa thực hiện quyền định đoạt của mình , còn sau khi đã định đoạt thì nghĩa vụ này không được đặt ra , bởi khi đó về thực chất không còn hàng hóa nữa
1.3 Giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics:
Theo điều 5 Nghị định của chính phủ số 163/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 quy định về kinh doanh dịch vụ logistics
“Điều 5:Giới hạn trách nhiệm
1 Giới hạn trách nhiệm là hạn mức tối đa mà thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho khách hàng đối với những tổn thất phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện dịch vụ logistics theo quy định tại Nghị định này
2 Trong trường hợp pháp luật liên quan có quy định về giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics thì thực hiện theo quy định của pháp luật liên quan
3 Trường hợp pháp luật liên quan không quy định giới hạn trách nhiệm thì giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics do các bên thoả thuận Trường hợp các bên không có thoả thuận thì thực hiện như sau:
a) Trường hợp khách hàng không có thông báo trước về trị giá của hàng hóa thì giới hạn trách nhiệm tối đa là 500 triệu đồng đối với mỗi yêu cầu bồi thường b) Trường hợp khách hàng đã thông báo trước về trị giá của hàng hóa và được thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics xác nhận thì giới hạn trách nhiệm sẽ không vượt quá trị giá của hàng hóa đó
4 Giới hạn trách nhiệm đối với trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics tổ chức thực hiện nhiều công đoạn có quy định giới hạn trách nhiệm khác nhau là giới hạn trách nhiệm của công đoạn có giới hạn trách nhiệm cao nhất.”
Trang 10Thông thường , giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics thực hiện theo quy định của pháp luật hoặc do các bên tự thỏa thuận Giới hạn trách nhiệm đến đầu thường được các bên thể hiện rất rõ trong hợp đồng Điều khoản về giới hạn trách nhiệm bao giờ cũng được các bên rất quan tâm, đặc biệt là thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics
Theo Điều 238 Luật Thương mại năm 2005 thì: “Trừ trường hợp có thoả thuận khác, toàn bộ trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không vượt quá giới hạn trách nhiệm đối với tổn thất toàn bộ hàng hoá” Đây là trách nhiệm cao nhất được đặt ra đối với thương nhân, tuy nhiên quy định cũng chưa chỉ
rõ giới hạn tổn thất cho khách hàng là giới hạn tổn thất hiện tại hay giới hạn tổn thất cho khách hàng trong tương lai Thực tế có những tổn thất xuất hiện tại thời điểm hàng hóa bị hư hỏng, nhưng có những tổn thất có tính “tương lai ” Ví dụ : Do hàng hóa bị giao chậm , ảnh hưởng đến thu nhập hình thành trong tương lai của khách hàng
Thương nhân sẽ không được hưởng giới hạn trách nhiệm bồi thường này trong trường hợp: “Nếu người có quyền và lợi ích liên quan chứng minh được sự mất mát, hư hỏng hoặc giao trả hàng chậm là do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics cố ý hành động hoặc không hành động” Trong trường hợp này thương nhân không được hưởng quyền giới hạn trách nhiệm, nghĩa là lúc này thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có thể phải chịu trách nhiệm lớn hơn tổn thất gây ra đối với toàn bộ hàng hóa