ảnh hưởng của một số hóa chất thông dụng đến sức khỏe con người
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ NGỌC QUYÊN
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ HÓA CHẤT THÔNG
DỤNG ĐẾN SỨC KHỎE CON NGƯỜI
LUẬN VĂN THẠC SĨ HÓA HỌC
CHUYÊN NGÀNH: MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TH.S NGUYỄN VĂN BỈNH
Thành phố Hồ Chí Minh - 2007
Trang 2- Thầy Nguyễn Văn Bỉnh, người đã trực tiếp hướng dẫn và góp ý tận tình cho em trong suốt thời gian hoàn thành khóa luận
- Thầy trưởng Khoa Trịnh Văn Biều, các thầy cô trong khoa Hóa đã tạo mọi điều kien có thể giúp em có thể thuận lợi trong việc liên hệ đến các cơ quan thu thập tài liệu phục vụ cho luận văn
- Các bạn trong lớp Hóa 4B, một số bạn ở trường ĐH Y Dược TPHCM đã góp ý rất nhiều cho bài viết của em được hoàn thành tốt hơn
Do lần đầu tiếp xúc với những kiến thức hoá sinh còn khá mới lạ, do trình độ hiểu biết và thời gian có hạn nên chắc chắn trong bài viết sẽ còn nhiều chỗ thiếu sót về nội dung và cả hình thức trình bày Kính mong sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn để cho bài viết được hoàn thiện hơn
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 6 nam 2007
Nguyễn Thị Ngọc Quyên
Trang 3Phần I : MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Hoá chất đã và đang đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống hằng ngày của chúng
ta Hóa chất hiện diện trong ngôi nhà chúng ta đang sống, trong thực phẩm chúng ta ăn, trong nước chúng ta uống, trong sản phẩm vệ sinh cá nhân và mỹ phẩm dùng hằng ngày, ngay cả trong không khí chúng ta hít thở Có thể nói đó là một ngừơi bạn đồng hành cùng với sự tiến bộ của xã hội loài người
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), trong 50 năm qua, với sự phát triển của công nghiệp,
có một sự gia tăng khổng lồ về số lượng hoá chất mà chúng ta tiếp xúc trong cuộc sống hằng ngày Con người đã tổng hợp hơn 90.000 hợp chất hoá học mới, đó là những chất nhân tạo, và không có một chất nào trong số này tồn tại một mình nó trong tự nhiên, trong
đó chỉ ½ được thử nghiệm về ảnh hưởng của chúng đến con người
Trên thực tế, chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy nhiều hoá chất độc hại ngay trong nhà của mình: Sản phẩm gia dụng như bột giặt, thuốc đánh bóng nền nhà, sơn và những chất tẩy rửa kiếng, gỗ, kim loại, lò nướng, toilet và các vết ố chứa những hoá chất nguy hại như amoniac, axit sunfuric và axit photphoric, kiềm , chlorine, formaldehide (phooc môn) và phenol Những hành vi đơn giản như giặt thảm, rửa chén hoặc sơn tường có thể dễ dàng khiến chúng ta tiếp xúc với các sản phẩm gây hại cho sức khoẻ Tham chí, ngay cả việc làm đẹp của phụ nữ cũng đã vô tình đưa họ vào tình huống tự nguyện tiếp xúc với hoá chất gây hại, bởi việc trang điểm dù chỉ áp dụng trên bề mặt da nhưng các hoá chất trong mỹ phẩm
sẽ ngấm trực tiep qua da và đi vào máu trong cơ thể…
Với hơn 90.000 hoá chất đang hiện diện, thoát khỏi việc tiếp xúc với hoá chất là điều không thể, bởi vì chúng gần như có mặt trong mọi khía cạnh của đời sống hiện đại; riêng đối với người giáo viên hóa học thì đó là một hoạt động tất yếu Mỗi hoá chất bên cạnh những ưu điểm đã được ứng dụng nó còn chứa đựng những nguy hại khôn lường, đã và đang gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người Nham cung cấp thêm thông tin về các độc chất hoá học, cách sơ cứu và dự phòng các hoá chất độc hại, em đã quyết định chọn đề
tài : “ảnh hưởng của một số hoá chất thông dụng đến sức khoẻ con người” để trình bày
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :
- Đưa ra những tính chất cơ bản của một số hoá chất thông dụng trong cuộc sống (cơ sở
để xác định tính độc hại của hoá chất)
- Các ứng dụng, nguồn gây ô nhiễm, nguồn đưa hoá chất độc hại vào cơ thể người
- Triệu chứng gây hại của một số hoá chất thường gặp trong cuộc sống và trong chương trình phổ thông
- Cách sơ cứu, dự phòng độc chất hoá học
III NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI:
Nghiên cứu, tìm hiểu về những tác hại của các độc chất hoa học, các nguyên nhân phát sinh, thực trạng và cách phòng tránh Từ đó giúp mọi người có cái nhìn tổng quát về độc tính của hoá chất đối với sức khoẻ con người
Trang 4IV KHÁCH THỂ – ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU :
- Khách thể nghiên cưu : quá trình, cơ chế tác động của hoá chất đến sức khoẻ
- Đối tượng nghiên cứu : con người
V GIẢ THIẾT KHOA HỌC :
Nếu mọi người đều nhận thức được tính độc hại của hoá chất thì sẽ tự có biện pháp phòng tránh, để vừa đảm bảo được hoạt động sản xuất và sinh hoạt hằng ngày được duy trì phát triển, vừa đảm bảo sức khỏe cho bản thân và những người xung quanh
VI PHƯƠNG PHÁP – PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU :
- Tìm hiểu, nghiên cứu tài liệu tong hơp trong các sách báo và sách chuyên ngành
- Lấy thông tin trên mạng internet, số liệu trong các bệnh viện, thông tin tổng quát từ viện khoa học môi trường
Trang 5PHẦN II : NỘI DUNG CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN
A – MỘT SỐ KHÁI NIỆM:
I Độc tính:
1) Khái niệm:
- Độc tính của một chất là khả năng của chất đó gây tác hại hoặc gây tử vong cho cơ thể
sinh vật Độc tính trước đây được hiểu là độc tính cấp tính của một chất với liều lượng (tính ra mg) đủ khả năng giết chết 50% súc vật thí nghiệm (tính ra kg thể trọng) Đó là liều chí tử (DL50) hay liều hiệu lực (DE50)
- Ngày nay, các khái niệm được hiểu rộng hơn Người ta định nghĩa chất độc hay chất
nguy hại là chất khi xâm nhập vào cơ thể gây nên các biến đổi sinh lý, sinh hóa , phá vỡ
cân bằng sinh học, gây rối loạn chức năng sống bình thường, dẫn đến trạng thái bệnh lý của các cơ quan nội tạng, các hệ thống ( tiêu hóa, tuần hòan, thần kinh…) hoặc tòan bộ
cơ thể
- Theo quy chế quản lý chất thải nguy hại của Chính phủ Việt Nam ( ban hành 7/1999)
quy định: “ chất thải nguy hại là những chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có
một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn,
dễ lây nhiễm và các đặc tính gây nguy hại khác) hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khỏe con người”
Chất nguy hại có trong môi trường lao động có thể liên quan tới một loại bệnh nào đó
gọi là độc chất nghề nghiệp, còn bệnh do độc chất gây ra gọi là bệnh nghề nghiệp
- Độc tính là khả năng gây tổn thương, tác hại cho cơ thể sống, nó liên quan tới lượng hóa chất đưa vào hoặc hấp thụ, đường đưa hóa chất vào cơ thể (hít thở, tiêu hóa, tiêm, tiếp xúc với da…), sự phân bố hóa chất theo thời gian (liều lượng một lần hoặc liên tiếp), loại và mức độ tổn thương, thời gian cần để gây ra tổn thương, bản chất của cơ thể
bị tác động và các điều kiện khác Mức độ của độc tính gây ra do tiếp xúc với hóa chất thường tỉ lệ thuận với nồng độ tiếp xúc và thời gian tiếp xúc
Các tác hại ở mức nhẹ có thể phục hồi, còn ở mức nặng hay trạng đôi khi không thể khắc phục được Ví dụ, sưng phổi hay thay đổi hóa tính của huyết thanh ở mức nhẹ thì
có khả năng chữa được, nhưng ung thư thì rất nặng va khó có thể chữa khỏi
Những thay đổi bất lợi ở mức nhẹ bao gồm như thay đổi tiêu hóa thức, tăng trọng lượng cơ thể… Các tác động nặng bao gồm những thay đổi cấu trúc , chức năng của mô làm cho chức năng bình thường bị thay đổi có thể dẫn đến tử vong
Các dạng tác nhân độc hại tiềm tàng:
- Bao gồm các tác nhân hoá học (tự nhiên, tổng hợp, vô cơ hay hữu cơ) ,vật lý (sóng điện từ, vi sóng) và sinh học (các độc chất vi nấm, thực và động vật)
- Các tác nhân hoá học và lý học có thể gây ra những tác động có hại bằng việc thay đổi sự thống nhất , cấu trúc, chức năng của mô cũng như làm thay đổi quá trình sinh
Trang 6trưởng, phát triển… Các tác hại có thể khắc phục được hoặc đôi khi không khắc phục được dẫn đến tử vong
2) Liều lượng độc: (dose)
- Là đơn vị của sự xuất hiện các tác nhân hoá học, vật lý hay sinh học Liều lượng có thể được diễn tả qua đơn vị khoi lượng hay thể tích trên một trọng lượng cơ thể (mg, g, ml/kg trọng lượng cơ thể) hay đơn vị khối lượng hay thể tích trên một đơn vị bề mặt cơ thể ( mg, g, ml/m2 bề mặt cơ thể) Nồng độ trong không khí có thể được thể hiện qua đơn vị khối lượng hay thể tích trên phần triệu thể tích không khí (ppm ) hay miligam, gam trên m3 không khí Nồng độ trong nước có thể diễn tả qua đơn vị ppm hay pp
- Liều lượng thấp nhất gây ra phản ứng mà ta bắt đầu quan sát được gọi là liều lượng
ngưỡng Dưới liều lượng ngưỡng ,không thể quan sát được phản ứng Mỗi liều lượng
ngưỡng ứng với mỗi hiện tượng sinh học Trong một chuỗi những phản ứng, tồn tại từng ngưỡng cho mỗi bước phản ứng
- Các yếu tố gây ảnh hưởng đến ngưỡng bao gồm: liều lượng và khả năng lắng đọng của hoá chất, sự nhạy cảm của cơ thể có phản ứng, bản chất của phản ứng được tạo thành…
Độ nhạy của phương pháp dùng để xác định phản ứng ảnh hưởng đến ngưỡng quan sát
3) Độ độc cấp tính :
Là độ độc tính thường được xác định bằng nồng độ của một hoá chất, một tác nhân gây độc tác động lên một nhóm sinh vật thử nghiệm trong thời gian ngộ độc ngắn trong điều kiện có kiểm soát Để đánh giá độc tính cấp và ngưỡng độc, người ta dùng các đại lượng sau để đánh giá :
- LD 50 : (median lethal dose) : liều lượng gây chết 50 % động vật thực nghiệm Đơn vị mg/kg động vật sống trên cạn
- LC 50 : (median lethal concentration ): nồng độ gây chết 50% động vật thực nghiệm
Đơn vị mg/ l dung dịch hoá chất Thường dùng để đánh giá độc tính của chất độc dạng lỏng hoà tan trong nước sông suối hay nồng độ hơi hoặc bụi trong môi trường không khí
ô nhiễm có thể gây chết 50% số động vật thực nghiệm
- Tổ chức Y tế thế giới (WHO ) đã dựa vào giá trị LD50 để phân loại độc tính của độc chất Giá trị LD50 càng nhỏ, độc tính càng cao
- Có nhiều quy ước phân loại chất độc dựa vào LD50 của chúng như sau : Nhóm I : rất độc , LD50 < 100 mg/kg
đó độ độc mãn tính cung cấp nhiều số liệu nhạy cảm hơn độ độc cấp tính
Khái niệm không ngưỡng :
- Có giả định rằng bệnh ung thư và các bệnh khác liên quan đến thay đổi vật liệu di truyền không ngưỡng Điều này có nghĩa là khả năng gây ra phản ứng tỷ lệ với các tác nhân gây hại ngay cả khi liều lượng tiếp xúc thấp nhất
Trang 7- Việc giả định không ngưỡng chỉ ra rằng không có một mức tiếp xúc nào mà không mang lai nguy cơ cho sức khoẻ
- Sự liên hệ giữa liều lượng- đáp ứng thể hiện mối tương quan giữa liều lượng và đáp ứng quan sát được Đồ thị là đường cong liên hệ giữa cường độ của đáp ứng và liều lượng
5) Nồng độ cho phép của chất độc:
- Nồng độ cho phép là biện pháp khống chế chất độc trong việc bảo vệ sức khoẻ cho người lao động.Nó là cơ sở giám sát môi trường, đánh giá tiếp xúc nghề nghiệp và tác hại sức khoẻ cũng như có ý nghĩa dự phòng
- Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) : nồng độ tối đa cho phép là những nồng độ chất độc mà người công nhân tiếp xúc 8 giờ / ngày và 40 giờ /tuần không hề gây những ảnh hưởng gì cho sức khoẻ của họ
- Ở Liên Xô (cũ) , nồng độ tối đa cho phép là những nồng độ không làm ảnh hưởng gì đến sức khoẻ người công nhân trong thời gian họ đang làm việc và cả sau này suốt đời
họ
- Các giá trị giới hạn ngưỡng của Mỹ qui định chỉ áp dụng cho đa số công nhân có sức khoẻ bình thường, không kể những ngoại lệ Qui định này chỉ có tính chất chỉ dẫn về vệ sinh
ra càng lớn Khi chất kích thích là hoá chất thì đáp ứng thường là hàm số của liều lượng
và mối quan hệ này được gọi là mối quan hệ liều lượng – đáp ứng
- Những đáp ứng đối với các tác nhân hoá hay lý học có thể xảy ra ngay lập tức hoặc xảy
ra muộn hơn; có thể nhẹ hoặc nặng; phục hồi hoặc không phục hồi được; trực tiếp hoặc gián tiếp; có thể có lợi hoặc bất lợi (có hại)
- Đáp ứng là phản ứng bất bình thường hay không đeu đặn, có thể liên quan đến hệ thống miễn dịch hoặc có thể gây ra những thay đổi về gen tại những điểm lắng đọng hoá chất
- Các đáp ứng đối với các tác nhân phụ thuộc vào điều kiện tiếp xúc như thời gian, liều lượng tiếp xúc, tính chất hoá , lý tác nhân, tình trạng sức khoẻ của cơ thể tại thời điểm tiếp xúc…
III Cơ quan tiếp nhận:
Tác nhân hoá học hay vật lý thường kết hợp với nhau ở mô, ở các cơ quan tiếp nhận
Cơ quan tiếp nhận có thể coi là “ bến định vị của hoá chất” Đó là điểm nhạy cảm hay
điểm đáp ứng, nằm tại tế bào đối tượng mà các tác nhân vật lý hay hoá học cùng tác động lên Cơ quan tiếp nhận có thể đặc trưng cho tác nhân hoá học hay một nhóm hoá chất
- Khi liều lượng hoá chất tăng, lượng hoá chất nhiễm vào các cơ quan tiếp nhận cũng có thể tăng theo Hóa chất gắn với cơ quan tiếp xúc có thể là liên kết cộng hoá trị, liên kết ion, hydrogen hay lực VandeWalls Bản chất của sự liên kết sẽ ảnh hưởng đến thời gian của phức hoá chất- cơ quan tiếp nhận và thời gian của tác động tạo ra Liên kết hoá trị
Trang 8thường là không phục hồi được, còn liên kết ion, hydrogen, VandeWalls thường là phục hồi được
- Để cơ quan tiếp nhận có thể gây ra được phản ứng, trước hết nó phải gắn với hoá chất Liên kết này thường không phải là liên kết hoá trị và có thể phục hồi được Tiếp theo, các cơ quan tiếp nhận phải được kích hoạt và quá trình này xác định hoạt động nội lực Sau đó là hàng loạt các hiện tượng và cuối cùng là tạo ra sự đáp ứng của cơ thể Quá
trình này gọi là quá trình liên kết giữa cơ quan tiếp nhận – đáp ứng
Các yếu tố gây ảnh hưởng đến phản ứng hóa chất:
Các yếu tố ảnh hưởng đối với hoá chất bao gồm:
- Đặc tính lý hoá, độ tinh khiết
- Độ bền
- Điều kiện tiếp xúc (liều lượng , thời gian, mật độ)
- Thể trang di truyền, loài, giới tính, trọng lượng cơ thể, tình trạng sức khoẻ của cơ thể tại thời điểm tiếp xúc
- Sự có mặt của những hoá chất khác (sự tương tác) : khi trong môi trường có nhiều độc chất cùng tồn tại thì tính đoc sẽ thay đổi –phản ứng thu được có thể là tính cộng: chất A + chất B độ độc tăng gấp 2 lần, thậm chí nhiều trường hợp , khuyếch đại độ độc lên gấp bội (5 lần hoặc cao hơn) và thường không thể dự báo được.Bên cạnh đó, phản ứng hóa chất xảy ra còn có thể mang tính tiêu độc (chất A + chất B < 1 lần độ độc, hoặc cũng có thể có trường hợp tiêu độc hoàn toàn)
- Các điều kiện môi trường (nhiệt độ, độ ẩm, áp suất, ánh sáng…)
- Tính thích ứng và tính nhạy cảm của từng cá thể
- Liều lượng và số lượng bộ phận tiếp nhận bị nhiễm và bị kích hoạt (Liều lượng thấp, phản ứng có thể không quan sát được.Khi liều lượng tăng, phản ứng tạo thành ở mức có thể quan sát được)
IV Nhiễm độc và gây ngạt:
- Nhiễm độc và gây ngạt có mối quan hệ nhân quả với nhau Đa số các hiện tượng gây ngạt là do cơ thể bị nhiễm độc
- Nhiễm độc là do chất độc tác động trên một cơ quan hay một hệ thống các cơ quan dẫn tới tử vong do các hoạt động sinh học của cơ quan bị nhiễm độc không phục hồi
- Ngạt là do một hoặc nhiều cơ quan của cơ thể thiếu oxi dẫn tới tử vong là do cơ thể thiếu oxi
Léon Derobert cho rằng hiện tượng nhiễm độc và ngạt chỉ là một và có 4 loại ngạt:
1/ Ngạt do thiếu oxi cho huyết sẵc tố do nhiều lý do, ví dụ do nguyên nhân cơ học như thắt cổ, phù phổi cấp, tê liệt hô hấp
2/ Ngạt do huyết sắc tố không còn khả năng liên kết với oxi, như do huyết sắc tố chuyển thành cacboxihemoglobin (COHb) trong nhiễm độc CO (cacbon oxit), hoặc chuyển thành methemoglobin (MetHb) trong nhiễm độc NO2 , nitrit…
3/ Ngạt do tuần hòan bị chậm, như bị nhiễm độc do các dẫn suất của clo, do máu đặc lại trong bệnh suy tim
4/ Ngạt do oxi không đưa tới tổ chức làm nhiệm vụ hô hấp tế bào, như trong nhiễm độc axit xianhidric (HCN) và xianua (CN-) …
Quan niệm trên đây đúng cho đa số trường hợp
Trang 9Pentan (5C) độc hơn butan (4C)
Butylic (4C) độc hơn etylic (2C)
Trong những hợp chất có cùng số nguyên tố, những hợp chất chứa ít nguyên tử độc hơn các hợp chất chứa nhiều nguyên tử Ví dụ:
Nitrit (NO2-) độc hơn nitrat (NO3-)
Oxit cacbon (CO) độc hơn cacbonic (CO2)
Khi nguyên tố halogen thay thế cho hyđro nhiều bao nhiêu trong cac hợp chất hữu cơ thì độc tính tăng lên bấy nhiêu Ví dụ:
Tetracloruacacbon (CCl4) độc hơn Chlorofoc (CHCl3)
Gốc nitro (-NO2) và gốc amino ( -NH2) thay thế cho H trong các hợp chất carbua vòng nhiêu bao nhiêu thì độc tính tăng lên bấy nhiêu Ví dụ:
Nitrobenzen (C6H5NO2) độc hơn bezen ( C6H6)
2) Tính chất lý học của độc chất: được đặc trưng bằng nhiệt độ sôi , độ bay hơi, độ hòa
tan, khả năng hấp phụ…
Nhiệt dộ sôi : xác định các hằng số lý học khác như tính bay hơi và tốc độ bay hơi Các
chất bay hơi cao tạo ra nồng độ cao trong không khí Mặt khác các chất này sẽ làm tăng tỉ trọng của không khí lên
Tính hòa tan:
Các tính chất lý hóa kể cả dạng của hóa chất ( chất bột, chất lỏng, chất khí) và dộ hòa tan trong mỡ sẽ xác định tốc độ và cường độ vận chuyển hóa chất qua màng tế bào cũng như nồng độ hóa chất tại cơ quan tiếp nhận Độc chất càng dễ hòa tan trong nước, trong dịch thể và mỡ thì càng độc Các chất càng dễ tan trong mỡ thì độc tính cho hệ thần kinh càng cao Các hóa chất tan được trong mỡ có thể dễ dàng đi qua màng tế bào hơn các hóa chất tan được trong nước
Trang 10Độ hòa tan trong mỡ được biểu thị bằng hệ số Oerton Mayer là tỷ số giữa độ hòa tan của một chất trong mỡ so với nước Ví dụ: Benzen có hệ số là 300, độc hơn rượu etylic có hệ số
là 2,5
Mức độ ion hóa cũng làm ảnh hưởng đến di chuyển của hóa chất Sự lắng đọng sinh học
cũng phụ thuộc vào tính chất này Sự lắng đọng sinh học ở đây bao gồm cả hấp thụ, phân
bố, chuyển hóa sinh học, đào thải và cơ cấu tĩnh động học của những quá trình này Trong quá trình chuyển hóa sinh học, cơ thể thường chuyển hóa các hợp chất tan trong mỡ sang một dạng khác dễ đào thải và ít hoat tính hơn dưới dạng hóa chất tan được trong nước
Khả năng hấp phụ là khả năng tập trung những chất ở dạng khí, bụi, hơi trên bề mặt
chất rắn Mức độ hấp phụ tùy thuộc vào khả năng hấp phụ của vật liệu xây dựng, nhiệt độ không khí, nồng độ độc chất và thời gian tiếp xúc
II Điều kiện tiếp xúc:
Ngoài bản chất của hóa chất và các đặc tính lý hóa của chúng, phản ứng đối với một hóa chất thường bị ảnh hưởng bởi điều kiện tiếp xúc bao gồm liều lượng hay nồng độ, dòng tiếp xúc và thời gian tiếp xúc
1) Liều lượng: có thể tiếp nhận được về phương diện sinh học của tác nhân, nồng độ tại cơ
quan tiếp nhận sẽ xác định cường độ phản ứng Có thể nói “ liều lượng làm các chất trở
thành độc chất”
Phản ứng đối với một hóa chất có thể được xác định bởi độ lớn của mối liên kết với cơ quan tiếp nhận, đó là số lượng các cơ quan tiếp nhận riêng biệt được hóa chất chiếm giữ và thời gian tương tác giữa các hóa chất – cơ quan tiếp nhận Đó là hàm số của bản chất mối liên kết hóa học ( hydro hay Vander Waals) và nồng độ hóa chất tại cơ quan tiếp nhận Liều lượng
Trang 11hay nồng độ càng lớn thì số cơ quan tiếp nhận tham gia càng nhiều, sự liên kết càng lâu hơn, phản ứng gây ra lớn hơn và trong một thời gian dài hơn
Ví dụ: người ta tính tóan liều lượng caffein trong 100 tách cà phê có thể gây chết người; lượng solanine tìm thấy trong 180 kg khoai tây có thể gây chết người
Liều lượng là đơn vị có khả năng phản ứng của chất hóa học, lý học hay sinh học Liều lượng có thể là khối lượng trên thể trọng (mg,g,ml/ trọng lượng cơ thể) hoặc khối lượng trên đơn vị bề mặt tiếp xúc của cơ thể (mg, g, ml/ diện tích da) Tiêu chuẩn để xác định độc tính là liều chí tử hoặc nồng độ chí tử (LC50)
Nồng độ trong không khí có thể được biểu diễn như đơn vị trọng lượng hay khối lượng trên một thể tích không khí như ppm ( mg/m3 không khí ) Nồng độ trong nước có thể biểu diễn bằng đơn vị khối lượng/ lít nước (mg/l = ppm hay g/l = ppb)
2) Đường tiếp xúc: cũng là một yếu tố đáng kể ảnh hưởng đến phản ứng
Ví dụ: Đường mía là thực phẩm dùng để ăn, uống, nhưng bụi đường vào phổi lại gây bệnh cho phổi Động vật hít metylenclorua thì bị các khối u, nhưng cho vào khẩu phần ăn của
chúng có metylen clorua thì không gây bệnh
Đường tiếp xúc ảnh hưởng đến phản ứng của hóa chất do chúng sẽ xác định một lượng lớn như thế nào được thâm nhập vào cơ thể Con đường tiếp xúc thông thường là qua miệng vào đến hệ tiêu hóa, qua da, qua hệ hô hấp Ví dụ: khi ta tiếp xúc với nước qua miệng hay qua da, điều này chẳng gây nên một tác động xấu nào, nhưng nếu ta tiếp xúc với nước qua phổi thì điều nay có thể gây chết người
Phần nhiều những tiếp xúc với hóa chất gây ra đồng thời do nhiều đường, nhưng không
phải tất cả các hóa chất đều được hấp thụ qua tất cả mọi đường Ví dụ: các thuốc trừ sâu
nhóm lân hữu cơ nhìn chung hấp thụ vào cơ thể qua tất cả các đường và gây độc như nhau không phân biệt về con đường thâm nhập Uống vitamin D vơi nồng độ cao có thể gây độc, nhưng nếu tiếp xúc với vitamin D qua da thì không gây nên độc tính nào cả Thủy ngân kim loại không độc nếu bị thâm nhập qua tất cả các đường; nếu thâm nhập qua đường thức ăn nó
sẽ được thải nguyên vẹn ra ngòai Song nếu hơi của Hg bị hít vào qua phổi hay tiếp xúc hơi qua da thì nó sẽ bị hấp thụ và gây nên tính độc rất lớn
3) Thời gian tiếp xúc:
Tiếp xúc trong một thời gian ngắn thường chỉ bị những tác động gây hại mang tính có thể phục hồi được, nhưng nếu tiếp xúc trong một thời gian dài sẽ bị những tác hại không thể phục hồi được Ví dụ: Tiếp xúc ngắn hạn với rượu etylic có thể dẫn tới bệnh gan nhiễm mỡ (do gan không thể lọc nổi mỡ trong một thời gian nhất định), nhưng tiếp xúc dài hạn có thể dẫn tới benh xơ gan…
III Loài, giới tính, độ tuổi và tình trạng của cơ thể sinh vật tại thời điểm tiếp xúc:
- Phản ứng đối với một hóa chất mang tính đặc thù riêng về loài
Ví dụ: methanol rất độc hại đối với con người và các lòai động vật linh trưởng, nó có thể gây mù cho những loài này, nhưng không gây mù cho các loài khác Nitrobenzen gây nên bệnh về máu gọi là methemoglobineme và nó rất độc đối với con người nhưng lại không độc đối với khỉ, chuột hay thỏ; 1,2- dichloroethane gây ung thư phổi ở chuột nhắt nhưng không gây ung thư cho chuột to…
Trang 12Tác động của các hóa chất trong cơ thể người chỉ được đánh giá khi có đủ các số liệu độc chất học thu được từ các thí nghiệm dựa trên cơ sở động vật Nói chung, các loài động vật phân loại gần người có thể được coi là loài phù hợp hơn để nghiên cứu độc chất học Trong một số trường hợp nghiên cứu có thể sử dụng đến các lòai động vật mang tính nhạy cảm cao
- Phản ứng đối với hóa chất có thể bị ảnh hưởng bởi độ tuổi của cơ thể tại thời điểm tiếp
xúc Ví dụ: DDT không có tính độc hại tức thời đối với những chuột con mới sinh nhưng chúng sẽ trở nen độc hại hơn rất nhiều đối với những con chuột có tuổi đời lâu năm hơn; Boric axit độc đối với chuột mới sinh hơn là với chuột có tuổi đời lâu hơn…
Cơ sở của những khác biệt trong phản ứng có thể liên quan đến kích thước cơ thể, trọng lượng bề mặt, thành phần cấu tạo cơ thể, khả năng chuyển hóa sinh học, hay các yếu tố khác chưa xác định được
- Phản ứng với hóa chất còn phụ thuộc nhiều đến giới tính Ví dụ: chuột đực nhạy cảm
hơn chuột cái gấp 10 lần khi bị tiếp xúc lâu với DDT Một số các hợp chất photpho hữu cơ độc hơn đối với chuột nhắt cái và chuột cái to trong khi một số hợp chất khác lại độc hơn đối với chuột đực…
- Tình trạng sức khỏe của cơ thể sinh vật, trong đó tình trạng bệnh tật có thể gây ảnh
hưởng trực tiếp đến các phản ứng hóa chất Thông thường điều này gây nên những ảnh hưởng xấu đến tồn đọng của hóa chất trong cơ thể sinh vật
Ví dụ: khi gan bị bệnh ( như khi bị tiếp xúc với các hyđrocacbon bị halogen hóa ) thì phản
ứng của gan đối với rượu có thể bị kéo dài hơn do cơ chế chuyển hóa sinh học của rượu trong gan bị thay đổi Sự tồn tại các bệnh về gan hay phổi làm tăng các tác động có hại của các tác nhân gây độc đối với gan và phổi Sự tồn tại của các bệnh về thận gây ảnh hưởng đến sự đào thải các hóa chất và kéo dài thời gian hoạt động của các hóa chất này trong cơ thể
IV Sự có mặt của các hoá chất trong cơ thể sinh vật, trong môi trường và trong thời gian tiếp xúc:
Mức độ phản ứng đối với hoá chất trong hệ thống sinh học là hàm số lượng hoá chất có hoạt tính sinh học tại cơ quan tiếp nhận, tại mô tế bào được tiếp nhận, thời gian tương tác giữa hoá chất và cơ quan tiếp nhận; phản ứng đối với một hoá chất là hàm số của liều lượng
và điều kiện tiếp xúc Mức độ của mối tương tác độc chất hoc phụ thuộc vào liều lượng Tác động của hai hay nhiều hoá chất đồng thời hoạt động cùng nhau có thể là : tác động tương đương, tác động lớn hơn hay tác động nhỏ hơn
Cộng thêm các tác động xuất hiện khi kết hợp tác động của hai hay nhiều hoá chất gây ra một phản ứng, chúng bằng tổng các tác động riêng biệt cộng lại Cơ chế hoạt động của các chất tương tác co thể giống hệt nhau, tương tự hay khác hẳn nhau
Ví dụ: A + B phản ứng; 1 mức độ tác động + 3 mức độ tác động = 4 mức độ tác động Khi hai loại thuốc trừ sâu : lân hữu cơ được đưa đồng thời, thì tác hại gây ức chế enzym cholinesterase thường được tăng theo phép tính cộng
Trang 13+ Muối kim loại, axit và kiềm vô cơ
3) Chất thải bệnh viện, các phòng thí nghiệm
4) Chất gây nổ
5) Chất gây cháy
II Phân loại dựa theo độ bền vững:
Dựa vào tính bền vững của chất nguy hại có thể phân ra 4 nhóm sau:
1) Không bền vững :độ bền vững 1-2 tuần (P hữu cơ, carbonate…)
2) Bền vững trung bình : độ bền vững từ 3 tháng đến 18 tháng
3) Bền vững: thời gian bền vững kéo dài từ 2-5 năm ( DDT, aldrin, chlorodane…)
4) Rất bền vững ; lưu tồn rất lâu trong cơ thể sinh vật (kim loại nặng…)
III Phân loại dựa trên cơ quan bị tác động:
1) Các chất gây ảnh hưởng tập trung, điểm:
Cl2 , O3 , kiềm, muối kim loại nặng, formol, F…
2) Các chất gây ảnh hưởng hệ thần kinh:
CO2 , phenol, F, formol…
3) Các chất gây độc hại máu: Zn, P…
4) Các chất gây độc hại nguyên sinh chất: F…
5) Các chất gây độc hại hệ enzym:
8) Một số độc chất có hàm lượng khác nhau gây ảnh hưởng khác nhau
Ví dụ: phenol hàm lượng thấp hệ thần kinh
Phenol hàm lượng cao máu
IV Phân loại dựa trên mức tác dụng sinh học:
Tại hội nghị quốc tế năm 1969 về độc học sinh thái, các chuyên gia đã đề nghị phân loại sinh học các chất công nghiệp Việc phân loại này dựa vào 4 mức độ tác dụng của chất nguy hại:
Loại A :(tiếp xúc không nguy hiểm) tiếp xúc không gây ảnh hưởng đến sức khoẻ
Loại B : Tiếp xúc có thể gây tác hại đến sức khoẻ nhưng có thể phục hồi được
Loại C : Tiếp xúc có thể gây bệnh nhưng không hồi phục được
Loại D : Tiếp xúc có thể gây bệnh không thể phục hồi được hoặc chết
Sự phân loại này phù hợp với thời gian tiếp xúc 8 giờ/ ngày và 5 ngày/ tuần Tuy nhiên, phân loại này khó đối với những chất gây ung thư hoặc đot biến gen
V Phân loại các hoá chất dựa trên nguy cơ gây ung thư ở người:
Dựa trên những chứng cứ rõ ràng, IARC (cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế ) đã phân loại các chất hoá học theo 4 nhóm có khả năng gây ung thư:
Nhóm 1 : tác nhân là chất gây ung thư ở người
Nhóm 2A : tác nhân có thể gây ung thư ở người
Nhóm 2B : tác nhân có lẽ gây ung thư ở người
Trang 14Nhóm 3 : tác nhân không thể phân loại dựa trên tính gây ung thư ở người
Nhóm 4 : tác nhân có lẽ không gây ung thư ở người
IARC xem xét toàn thể các chứng cứ để đánh giá toàn diện về khả năng gây ung thư ở người của các tác nhân, hỗn hợp và tình huống gây nhiễm
Việc phân nhóm các yếu tố này mang tính khoa học dựa trên thông tin số liệu tin cậy, chứng cứ thu được từ những nhóm nghiên cứu ở người, động vật thí nghiệm
Nhóm 1 : tác nhân (hoặc hỗn hợp ) chắc chắn gây ung thư cho ngừơi:
Đây là những chất mà khả năng gây ung thư ở người của chúng đã cónhững chứng cứ chắc chắn Ngoài ra, một tác nhân (hỗn hợp ) có thể xếp vào nhóm này khi bằng chứng gây ung thư cho người chưa hoàn toàn đầy đủ nhưng chắc chắn là gây ung thư trên động vật thí nghiệm và có luận cứ cho thấy khi vào cơ thể nó sẽ có tác động theo cơ chế dẫn đến ung thư
* Nhóm 2A : Tác nhân (hoặc hỗn hợp ) có thể gây ung thư cho người
Đó là những chất mà có một số bằng chứng chưa hoàn toàn đầy đủ về tính gây ung thư cho người nhưng có bằng chứng xác nhận là gây ung thư cho động vật thí nghiệm Trong một vài trường hợp, một tác nhân (hỗn hợp ) có thể xếp vào nhóm này khi các bằng chứng về tính gây ung thư trên người không thoả đáng, nhưng đủ bằng chứng xác nhận là gây ung thư trên động vật thí nghiệm và có luận cứ vững chắc cho thấy tiến trình gây ung thư đó tương tự như
cơ chế gây ung thư ở người Một số trường hợp ngoại lệ, một số tác nhân (hỗn hợp) có thể xếp vào nhóm này chỉ vì lý do có một bằng chứng cho thấy có thể gây ung thư ở người
* Nhóm 2B : Tác nhân (hỗn hợp) có lẽ gây ung thư cho người
Đó là các tác nhân ( hỗn hợp) mà có một số bằng chứng (nhưng chưa đầy đủ hoàn toàn )
về khả năng gây ung thư cho người và gần đầy đủ bằng chứng về tính gây ung thư trên động vật thí nghiệm Cũng xếp vào nhóm này những chất mà chứng cứ gây ung thư cho người không thoả đáng nhưng có đủ bằng chứng thích hợp về tính gây ung thư ở động vật thí nghiệm Trong một vài trường hợp, một tác nhân (hỗn hợp) cũng được xếp vào nhóm này khi bằng chứng gây ung thư cho người không thoả đáng, nhưng có một số bằng chứng gây ung thư ở động vật thí nghiệm đi kèm với những chứng cứ bổ sung từ những nguồn thông tin, số liệu đáng tin cậy
Nhóm 3 : tác nhân (hoặc hỗn hợp) chưa thể xếp vào nhóm chất gây ung thư cho người
Đó là các tác nhân (hỗn hợp ) không có bằng chứng rõ ràng gây ung thư ở người nhưng lại có đầy đủ bằng chứng gây ung thư ở động vật thí nghiệm, song cơ chế gây ung thư ở đây không giống như đối với người
Nhóm 4 : tác nhân ( hỗn hợp ) có thể gây ung thư cho người
Trang 15Đó là những tác nhân (hỗn hợp) mà bằng chứng cho thấy không có tính gây ung thư cho ngườivà động vật thí nghiệm Trong một số trường hợp, những tác nhân (hỗn hợp ) có bằng chứng không chắc chắn là gây ung thư cho người, nhưng từ nhiều thông tin, số liệu rõ ràng chứng minh là không gây ung thư cho động vật thí nghiệm cũng được xếp vàp nhóm này
Trang 16CHƯƠNG I I : TÁC HẠI CỦA HOÁ CHẤT
ĐẾN SỨC KHOẺ CON NGƯỜI
A Đường xâm nhập của hoá chất vào cơ thể người:
Sự luân chuyển của hoá chất xảy ra bên ngoài và bên trong cơ thể sống
Sự luân chuyển ngoài cơ thể liên quan đến các tác nhân môi trường như
các điều kiện khí hậu và đặc tính hoá, lý của hoá chất, kể cả độ tan nếu
như hoá chất được tìm thấy trong môi trường nước Sự khuyếch đại sinh
học cũng có thể xuất hiện
Ví dụ: Metyl thuỷ ngân tham gia vào dây chuyền thực phẩm thông qua
sinh vật phù du và khuyếch đại do tích đọng ở cá với nồng độ lớn gấp
khoảng 103 lần hoặc hơn so với lúc đầu
Sinh vật trôi nổi
Hấp thụ:
Trang 17Hấp thụ là quá trình các chất thấm qua màng tế bào và xâm nhập vào máu Sự hấp thụ các độc chất con có thể xảy ra qua đường tiêu hoá, hô hấp, da…
Sự vận chuyển của độc chất từ hệ tuần hoàn vào trong mô cũng được gọi là sự hấp thụ, nó tương tự như quá trình hấp thụ hoá chất từ bề mặt cơ thể vào hệ tuần hoan
Lượng hấp thụ các chất trong cơ thể động vật phụ thuộc vào lượng chất đưa vào, thời gian
cơ thể bị tiếp xúc, kiểu , loại xâm nhập…
Ví dụ: độc chất trong không khí có thể ở dạng khí , cũng có thể ở dạng hạt bụi Sự hấp thụ và thời gian lưu trữ các độc chất trong cơ thể động vật phụ thuộc nhiều vào kích thước hạt của chúng Những hạt này có thể sẽ kết lắng ở bề mặt cơ quan hô hấp theo 1 trong 3 quá trình sau:
+ Phân tán hạt : xảy ra đối với những hạt có kích thước vài micron khi luồng khí gặp bề
mặt dốc
+ Lắng đọng theo lực hấp dẫn : phụ thuộc vào khối lượng và hình dạng của hạt Đối với hạt
có đồng mật độ thì quá trình này thường có ở hạt có đường kính 0,5 – 5 micron
+ Khuyếch tán: hiện tượng này thường có ở hạt có kích thước nhỏ
Ngoài ra, sự hấp thụ còn phụ thuộc vào các quá trình phân bố, chuyển hoá và bài tiết trong cơ thể
+ Các protein của huyết tương
Thận là cơ quan đào thải chính Bên cạnh đó, độc chất cũng được đào thải ra qua các nội
cơ quan khác như: kim loại nặng thường đào thải ra khỏi cơ thể qua đường ruột…., ở gan một
số độc chất được chuyển hoá rồi liên hợp với sulfo hoặc glucuronic, sau đó được đào thải
Trang 18Qua hơi thở có thể đào thải một số lượng lớn chất độc dưới dạng khí và hơi Ngoài ra các độc chất cũng còn được bài tiết qua mồ hôi và sữa
Tồn lưu:
Khả năng tồn lưu của các chất trong cơ thể phụ thuộc vào đặc điểm hoá học, cấu trúc phân
tử và tính chất vật lý của chúng Một số chất thường tập trung ở các tổ chức mỡ như: Chlordane, DDT,… Protein của plasma có thể liên kết với Cu, Zn Còn Pb tích đọng trong xương ( nguồn : độc học môi trường và sức khoẻ con người – Trịnh Thị Thanh Trang 55)
Sơ đồ chu trình tương tác giữa các độc chất và độc tố với cơ thể sinh vật
Xâm nhập Độc chất
Gây độc trực tiếp, cấp tính Đào thải
Chuyển hoá
Tích luỹ độc chất và độc tố
Môi trường bên trong Nguồn
Rượu etylic Cơ thể Đào thải
Chuyển hoá trong cơ thể
Tiết niệu
- Sự lưu chuyển hoa chất trong cơ thể liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến sự lắng đọng sinh học chất đó ở trong cơ thể Điều này bao gồm cả tính chất hoá – lý như : cỡ hạt, điều kiện tiếp xúc và tình trạng sức khoẻ của cơ thể
Cơ thể người được ngăn cách với môi trường bên ngoài bởi ba loại màng chính:
+ Da
+ Biểu mô của hệ tiêu hoá
+ Biểu mô của hệ hô hấp
Các con đường tiếp xúc giữa hoá chất với cơ thể động vật và con người : qua đường tiêu hoá, hô hấp, tiếp xúc qua da… Nhìn chung, độc chất hấp thụ qua đường tiêu hoá ít hơn so với đường da và biểu mô của hệ hô hấp Độ độc của các chất sẽ bị giảm bớt khi qua đường tiêu hoá
do tác động của dịch tiêu hoá
Hóa chất vận chuyển từ điểm tiếp xúc vào hệ mạch máu Để xâm nhập vào máu, độc chất phải vượt qua được các màng trên trước khi tân công lên một khu vực nào đó của cơ thể Sự
Trang 19xâm nhập của một độc chat qua bất kì một màng sinh học nào đều được quyết định bởi tính chất lý hoá của nó như:
+ Mức độ ion hoá thấp
+ Hệ số phân bố mỡ / nước của dạng không ion hoá cao
+ Các bán kính nguyên tử hoặc phân tử của các chất có khả năng tan ít trong nước Ngay khi một độc chất đã vượt qua các màng, nó nhập vào vòng tuần hoàn máu và mang đi khắp cơ thể với một số dạng khác nhau:
+ Các phân tử cókhả năng khuyếch tán tự do được hoà tan trong nước nhũ tương
+ Các phân tử liên kết thuận nghịch với các protein, chylommicron hoặc các cấu tử khác của huyết thanh
+ Các phân tử tự do hoặc liên kết nằm trong hồng cầu và các yếu tố tạo thành khác Trong mau, hoá chất có thể tồn tại tự do, không cần liên kết , hoặc liên kết với protein ( thường là liên kết với albumin) Hoá chất có thể từ máu để vào mô và các tế bào ( ở gan ), tích đọng lại (ở mô mỡ ), đào thải ra khỏi cơ thể (qua thận), hay sẽ tạp nên các phản ứng ( trong não) Biên độ của phản ứng phụ thuộc vào nồng độ của hoá chất tại cơ quan tiếp nhận, ái lực của chúng và hoạt động trong cơ thể Nhìn chung, tác động của bất ky một độc chất nào cũng đều phụ thuộc chủ yếu vào nồng độ của nó tại khu vực tác động
Có nhiều dạng phản ứng tạo thành do sự tương tác của hoá chất và bộ phận tiếp nhận Chúng bao gồm những thay đổi hình dạng trông thấy được và không trông thấy được, hoặc những thay đổi trong các chức năng sinh lý và sinh hoá Các phản ứng có thể không đặc trưng như viêm nhiễm, hoặc đặc trưng như :đột biến gen, dị hình, ung thư… Các phản ứng có thể quan sát được ngay lập tức hay phải một khoảng thời gian sau đó; phản ứng có thể phục hồi được, hoặc không phục hồi được, có thể tại chỗ, có thể liên quan đến một hay nhiều bộ phận và
nó có thể có lợi hoặc có hại Các phản ứng này có thể liên quan đến tính thống nhất, chức năng,
sự phát triển và liên hệ giữa các tế bào Tuy nhiên, bản chất cơ bản của tế bào không thể nào bị thay đổi do hoá chất; ví dụ: tế bào cơ không thể bị biến đổi thành tế bào bài tiết
I Hấp thụ qua đường hô hấp :
- Hệ thống hô hấp bao gồm: đường hô hấp trên (mũi, miệng, họng ); đường thở (khí quản, phế quản, cuống phổi) và vùng trao đổi khí (phế nang), nơi oxy tư không khí vào máu và đioxit cacbon từ máu khuyếch tán vào không khí
- Đây là con đường xâm nhập quan trọng nhất và luôn xảy ra do con người luôn phải hít thở.Thể tích hô hấp khí của người lớn là 20m3/ngày và trẻ em la 5m3/ngày
- Các độc chất hấp thụ qua đường này thường ở dạng khí như CO, NO2 , SO2 ,…hơi của các chất lỏng dễ bay hơi như benzen, CCl4 , hơi chì trong xăng và các Sol khí
Hình 2 : không khí vào phổi tới tận phế nang,
Trang 20nơi đó xảy ra sự trao đổi giữa oxy và cacbonic
- Thống kê thấy rằng, 95% nhiễm độc nghề nghiệp là qua hô hấp Với một người lớn khoẻ mạnh thì diện tích bề mặt trao đổi khí của phổi là 90m2, trong đó 70m2 là của phế nang; ngoài ra còn có một mang lưới mao mạch với diện tích 140m2, dòng máu qua phổi nhanh và nhiều thuận lợi cho việc xâm nhập của khí độc Chúng đi vào mũi, qua họng, khí quản, vào phổi, phế nang, các mao quản trong phổi và cuối cùng là túi phổi Ở đây có những mạch máu nhỏ li ti, màng nhầy là nơi diễn ra quá trình trao đổi khí Một hoá chất khi lọt vào đường hô hấp sẽ kích thích màng nhầy của đường hô hấp trên và phế quản-
đây là dấu hiệu cho biết sự hiện diện của hoá chất Sau đó, chúng sẽ xâm nhập sâu vào
phổi gây tổn thương phổi hoặc lưu hành trong máu Máu tuần hoàn nhanh, trong 23 giây,
sẽ đưa đến các cơ quan như não, gan, thận, mật
- Mức độ thâm nhập của các hạt bụi vào cơ thể phụ thuộc vào kích thước hạt và tính tan của chúng:
Các chất khí có khả năng tan trong nước khi vào cơ thể sẽ tan trong nước nhầy của khí quản, tích đọng và gây tổn thương Các chất khí tan trong mỡ thẩm thấu qua màng phổi với tốc độ phụ thuộc vào hệ số tỷ số phân bố mỡ/ nước và sự hoà tan của khí trong máu Các hạt bụi có đường kính lớn hơn 10 m thường gây tác động đến đường hô hấp trên, đặc biệt là phần mũi và khí quản
Các hạt có đường kính từ 1-5 m tác động đến phổi và các mao mạch trong phổi Các hạt có đường kính nhỏ hơn 1 m thường đến tới màng phổi Các hạt lọt vào phần trên của
hệ hô hấp thường bị thải ra thông qua việc ho, hắt hơi hoặc đôi khi nuốt vào theo đường tiêu hoá
Các hạt mắc vào phần dưới cua hệ hô hấp có thể sẽ được vận chuyển đến tận màng phổi Trung bình, khoảng ½ các chất sẽ thâm nhập vào cơ thể trong vòng 1 ngày, điều này cũng còn phụ thuộc vào bản chất của độc chất Phần còn lại sẽ được thâm nhap trong những ngày tiếp theo, thậm chí hàng năm sau
- Chỉ những hạt nhỏ ( đường kính nhỏ hơn 1/7000 mm) mới tới được vùng trao đổi khí Những hạt bụi này sẽ lắng đọng ở đó hoặc khuyếch tán vào máu tuỳ theo độ tan của hoá chất Các hạt tan thấm qua màng phổi và đi vào hệ tuần hoàn máu
Các hạt không tan được khuyếch tán chậm hơn và vào đến được mạch máu thông qua
hệ tuần hoàn của bạch cầu
Những hạt bụi không hoà tan gan như được loại trừ bởi bộ phận làm sạch của phổi Những hạt bụi lớn hơn sẽ được lông mũi giữ lại hoặc lắng đọng dọc theo khí , phế quản Cuối cùng chúng sẽ được chuyển tới họng và nuốt, ho, hay khạc ra ngoài
- Bên cạnh đó, qua hơi thở cũng có thể đào thải một số độc chất dưới dạng khí hay hơi Như ta đã biết toàn bộ phế nang phổi có một mạng lưới mao mạch dày đặc làm cho chất độc khuyếch tán nhanh vào trong máu, không qua gan để giải độc một phần như hệ tiêu hoá mà qua ngay tim để đi đến các phủ tạng, đặc biệt đến hệ thần kinh trung ương Khi chất độc qua
đường hô hấp vào máu, rồi theo máu tuần hoàn đi khắp cơ thể chỉ trong thời gian 23 giây Do
đó có thể nói sự xâm nhập của hoá chất vào trong cơ thể theo con đường hô hấp diễn ra nhanh
và gần như tiến thẳng vào tĩnh mạch (nguồn : Độc học môi trường và sức khoẻ con người-
Trịnh Thị Thanh, trang 62, 63 và tai liệu mạng)
II Hấp thụ qua da :
Trang 21- Da có vai trò bảo vệ cơ thể chống các yếu tố hoá học, lý học và sinh học Một số hoá chất do có áp lực lớn với lớp mỡ dưới da, đi qua lớp thượng bì và mô bì, đi vào hệ tuần hoàn và gây nhiễm độc cho cơ thể Rất nhiều hợp chất được sử dụng cho các mục đích nông nghiệp và công nghiệp có khả năng tan trong mỡ cao và đã gây độc cho người sử dụng Các hoá chất đó là xăng pha chì, nicotin, các dẫn suất nitro và amin thơm, các dung môi có Cl2, thuốc trừ sâu photphat (DFP , parathinon ) và clo hữu cơ CCl4 …
- Những yếu tố để xác định khả năng hấp thụ qua da của chất độc trước hết là tính chất lý học và hoá học của các chất như tính hoà tan trong nước và trong các dung môi, trọng lượng phân tử, sự ion hoá, tính hoạt động bề mặt… Rồi đến tính nguyên vẹn của da, độ dày nơi tiếp xúc, các điều kiện tiếp xúc… Nếu da bị tổn thương từ trước thì đươc xem như cửa mở sẵn cho chất độc xâm nhập cơ thể
- Khả năng xâm nhập qua da phụ thuộc vào :
Độ dày của da
Sắc tố da
Mao mạch dưới da
Thời tiết: nóng nhanh hơn lạnh
Độ ẩm da: da đổ mồ hôi nhiều dễ bị nhiễm độc tố tan trong nước
Bộ phận cơ thể: da so hấp thụ nhanh hơn da lòng bàn tay, bàn chân…
- Một chất dây dính trên da có thể có các phản ứng sau:
Da và tổ chức mỡ tác dụng như hàng rào bảo vệ chống lại sự xâm nhập của độc chất gây tổn thương cơ thể
Độc chất có thể phản ứng với bề mặt da và gây viêm da sơ phát
Độc chất xâm nhập qua da vào máu
Tuỳ theo tính chất của hoá chất, có chất tác dụng mạnh mẽ tai chỗ da tiếp xúc gây hư hại
da, gây kích ứng hoặc hoại tử, đặc biệt có thể phá huỷ ngay tức khắc, ví dụ H2SO4 Nhiều hoá chất có thể vượt qua các lớp của da hấp thụ vào máu gây nhiễm độc toàn thân…
- Da dễ cảm thụ với các chất độc như paraphenylendiamin, dinitrobenzen, toluen…, và các kim loại như : Ni, Hg, Cr (VI) …
- Một số chất độc có thể qua da nguyên vẹn một cách nhanh chóng và gây nhiễm độc, ví dụ các hợp chất lân hữu cơ dùng làm chất trừ sâu : parathion, vophatoc, DDVP…, các hợp chất khác như nicotin, anilin…
- Nhiễm độc qua niêm mạc càng nguy hiểm hơn vì ở niêm mạc có các mao mạch dày đặc như niêm mạc mắt… chúng hấp thụ dễ dàng một số chất độc và nhạy cảm với một số chất kích thích Về nguyên tắc, các độc chất qua mắt tương tự qua da nhưng về cường độ thì mạnh mẽhơn nhiều vì mắt và các bộ phận của mắt rất nhạy cảm với chất độc Các chất dễ gây tổn thương cho mat là các chất kích ứng, các chất ăn mòn, các dung môi hữu cơ, các chất tẩy rửa, các chất độc chiến tranh gây phỏng rộp, các chất làm chảy nước mắt…
III Hấp thụ qua đường tiêu hoá:
Do bất cẩn để chất độc dính trên môi, miệng rồi vô tình nuốt phải, hoặc ăn uống, hút thuốc trong khi bàn tay dính hoá chất hoặc dùng thức ăn và đồ uống bị nhiễm hoá chất là những nguyên nhân chủ yếu để hoá chất xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hoa
Nhiều độc chất môi trường là các cấu tử của thực phẩm và do đó được hấp thụ qua hệ tiêu hoá Các độc chất thường rất giống các chất dinh dưỡng về cấu trúc và các chất điện ly thường vận chuyển chúng vào mau
Trang 22Hình 3 : ăn, uống hoặc hút thuốc ở nơi làm việc có sử dụng hoá chất Thức ăn, đồ uống có thể bị nhiễm bẩn do tay bẩn hoặc do hơi hoá chất
Sự hấp thụ có thể xảy ra từ miệng cho đến ruột già Nói chung, các hợp chất được hấp thụ qua ruột tại những nơi chúng có mặt với nồng độ cao nhất và ở dạng tan được trong mỡ
Các độc chất có trong thức ăn, nước uống vào đường tiêu hoá, qua miệng dạ dày, ruột non, gan (được giải độc một phần), qua đường tuần hoàn, đến các phủ tạng và gây độc Tuy nhiên, không phải tất cả các hoá chất đều đi qua được mà chỉ có những phần tử có đường kính bằng 0,1mm đi qua các kẽ hở của tế bào chất ruột non, chúng đi vào tế bào chất Tại đây, chúng huỷ hoại tế bào chất ruột non, sau đó đi vào máu phá vỡ bạch cầu, làm giảm sức đề kháng của con người Một số loại chất độc khu trú lai trong mô mỡ hay trong gan, xương…
B Tác động, tích luỹ và đào thải hoá chất trong cơ thể người:
I Các dạng tác động của chất độc trên cơ thể :
1/ Tác động cục bộ:
Là tác động của chất độc chỉ xảy ra ở vị trí nó tiếp xúc với cơ thể như da, mắt, đường hô hấp, đường tiêu hoá Hậu quả của tác động cục bộ của chất độc phụ thuộc vào tính chất và nồng độ của nó, có thể là gây kích ứng, gây phù thũng, gây viêm mạc hoặc có thể gay hoại
Chất độc có thể tác động chọn lọc đối với một số cơ quan đặc thù Điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố , ví dụ mức độ dẫn truyền của máu qua cơ quan đó có chứa một lượng chất độc quá lớn , thành phần hoá học của cơ quan nào thích hợp nhất với tính chất của chất độc,
vị trí của cơ quan trên đường xâm nhập cơ thể của chất độc như phổi thường bị tấn công bởi
Trang 23các chất độc trong không khí hít vào hoặc gan là cơ quan đích của các chất độc nuốt vào…
và nhiều đặc điểm sinh hoá khác của cơ quan chịu tác động của chất độc…
- Cấu tạo hoá học của các cơ quan
- Tình trạng riêng của đường vận chuyển độc chất
- Các đặc điểm sinh hoá học của các cơ quan bị tác động Chẳng hạn, cơ quan có khả năng chuyển hoá chat độc thành chất không độc,hoặc thành chất độc hơn
II Sự phân bố, chuyển hoá và tích luỹ chất độc trong cơ thể:
1/ Sự phân bố:
Chất độc khi đã đi vào hệ thống tuần hoàn, nó có thể qua một hay nhiều cơ quan của cơ thể Chất độc có thể khu trú trong các mô thích hợp với nó Sự khu trú này không nhất thiết liên quan đến vị trí tác động ban đầu, được gọi là sự tích luỹ Một số chất độc được phân bố
và tích luỹ như sau:
- Các chất có khả năng hoà tan trong các dịch của cơ thể thì phân bố khá đồng đều trên toàn cơ thể, ví dụ các cation Na+ , K+ , Li+ , Ru+, Ca2+… một số nguyên tố hoá trị 5,6,7 ; các anion Cl- , Br-, F-, rượu etylic…
- Các chất có thể tập trung trong xương, chúng có ái lực với các mô xương gọi là các nguyên tố hướng xương, ví dụ: Ca2+, Ba2+ , Be2+…và F-…
- Các chất có thể tập trung và khu trú trong các mô mỡ , mô béo, trứơc hết phải kể đến các hơp chất clo hữu cơ dùng làm thuốc trừ sâu là những chất rất ít tan trong nước nên tích luỹ trong các mô mỡ, mặt khác chúng rất bền vững về mặt hoá học nên tồn tại dai dẳng nhiều năm, rồi đến các dung môi hữu cơ; các khí trơ; các thuốc ngủ khu trú ở các tế bào thần kinh, gan, thận…
- Các chất có thể khu trú trong cơ quan đặc thù, ví dụ iot trong tuyến giáp, uran trong thận, digitalin ở tim…
2/ Sự chuyển hoá:
Trong cơ thể, các chất lạ (độc chất) nói chung chịu sự chuyển hoá của cơ thể để chuyển thành hợp chất có cực và được thải loại (bài xuất) một cách dễ dàng hơn Những sự chuyển hoá này hầu hết được xúc tác bởi các enzim của gan và các mo khác (da,máu, thận, phổi, rau thai) Cũng có một số phản ứng được xúc tác bởi các enzim loại khác Nhiều hoá chất lạ cũng
có thể bị chuyển hoá bởi các tạp khuẩn đường ruột…
Các phản ứng của sự chuyển hoá:
Sư chuyển hoá sinh học xảy ra trong cơ thể khi tác động với chất lạ là một quá trình phức tạp Ở đây chỉ nêu một số ví dụ thường gặp:
Sự oxi hoá:
Là phản ứng chuyển hoá xảy ra thường xuyên nhất
Trang 24Ví dụ: rượu etylic mot phần được oxi hoá thành CO2 và H2O rồi theo không khí thở ra ngoài cùng với một lượng rượu etylic Người ta thấy rượu metylic bị oxi hoá chậm hơn rượu etylic
Sự liên hợp được xem là giai đoạn thứ hai của sự chuyển hoá của chất độc trong cơ thể và là
cơ chế quan trọng của sự giải độc trong cơ thể
Ví dụ: trong giải độc axit xianhydric hoặc xianua, có giai đoạn người ta dùng Natri thiosunfat, chất này liên hợp với gốc CN- để tạo thành phức chất sunfo- xianua và được thải qua nước tiểu
Kết quả của sự chuyển hoá :
Sự chuyển hoá chất độc trong cơ thể cóthể dẫn tới một trong ba kết quả sau:
- Làm cho chất độc dễ bị thải loại khỏi cơ thể qua thận
- Làm giảm độc tính của chất độc Đó là sự giải độc thực sự cho cơ thể Ví dụ: sự chuyển hoá xianua thành sunfo xianua hoặc sự liên hợp của phenol glucuronic, các phức chất là sản phẩm của phản ứng liên hợp được thải khỏi cơ thể…
- Sự chuyển hoá có thể tạo ra chất mới độc hơn chất độc ban đầu Ví dụ:
Rượu metylic bị oxi hoá bởi enzym ( của gan và võng mạc) thành fomandehit, là chất được cho là tác nhân gây mù ( CH3OH HCHO )
2- Naphtylamin bị oxi hoá thành 2- Naphtyl hidroxilamin, chất được cho là tác nhân gây bệnh ung thư bàng quang
Chì tetraetyl bị oxi hoá thành chì trietyl là chất gây bệnh về thần kinh :
Pb(C2H5)4 Pb (C2H5)3 + CH3CHO
Chì tetraetyl chì trietyl axetaldehyt
Flo etanol độc, ít chuyển thành Flo axetat rất độc
3/ Sự tích lũy :
- Sau khi vào cơ thể, chất độc lưu thông trong máu, bạch huyết, đến các tổ chức và phủ tạng Trong phần lớn trường hợp, có sự tích luỹ chọn lọc , sự tích luỹ này ít nhiều phụ thuộc vào ái tính rât đặc biệt của từng loại chất độc, của từng loại tổ chức của cơ thể, như :
Các chất có khả năng hoà tan trong nước (cồn etylic) có thể được giữ lại trong toàn bộ các phủ tạng
Các chất hoà tan trong mỡ như các dung môi, các chat trừ sâu clo hữu cơ tích luỹ trong các tổ chức giàu mỡ cũng như trung ương thần kinh, gan, thận
Trang 25 Các ion kim loại nặng (như Hg, Pb, Cd, As …) tác dụng lên nhóm thiol, ức chế hoạt tính các enzym và tích luỹ ở lông, tóc, móng……
- Một số cơ quan, tổ chức đóng vai trò là nơi tích luỹ của chất độc như :
Gan là một cơ quan quan trọng , là nơi các chất độc bị giữ lại, chuyển hoá và biến đổi Phần lớn các ion vô cơ đọng lại ở gan, do đó người ta thường gặp nhiều chất độc ở mật rồi thải ra ngoài qua đường tiêu hoá
Máu là một tổ chức không thuần nhất, một số ion kim loại như thuỷ ngân, đồng… được giữ lại trong huyết tương, dưới dạng hợp chất protein Các ion khác như chì hầu như tích luỹ trong hồng cầu Đối với các chất hữu cơ, nhiều chất kết hợp với prrotein huyết tương, song có chất tập trung ở hồng cầu như hyđro asen
(nguồn : độc chất học công nghiệp – Hoàng Văn Bính, trang 38 - 40)
III Sự thải loại chất độc khỏi cơ thể :
Quá trình chuyển dời các chất độc khỏi cơ thể gọi là sự thải loại hay bài xuất chất độc và quá trình này có kèm theo các tác động của các bộ phận cơ thể như thận (tạo ra nước tiểu), gan (tạo ra mật), và phổi ( thở ra các chất độc bay hơi)… chất độc trong môi trường xâm nhập cơ thể bằng nhiều đường khác nhau, chúng cũng có thể thải loại khỏi cơ thể băng nhiều đường, nhiều cách, ví dụ chúng có thể bị thải loại khỏi cơ thể theo trình tự tự nhiên, hoặc chúng được đào thải do sự can thiệp của con người, do tác dụng nhân tạo như gây nôn, rửa dạ dày, tháo thụt, uống hoặc tiêm thuốc giải độc…
Các chất độc được thải loại khỏi cơ thể theo nhiều cơ chế phản ứng khác nhau, trong thực tế có thể tóm tắt một số đường đào thải chất độc như sau:
1 Qua đường hô hấp:
- Đường hô hấp có thể đào thải phần lớn các chất được hít vào và cả các chất được cơ thể hấp thụ bằng các đường khác nữa Phần lớn cac khí, các hơi dung môi được thải một phần đáng kể qua phổi theo không khí thở ra, ví dụ CO, CO2, H2S, HCN, ete, clorofom, rượu etylic…
- Tỷ lệ và thời gian đào thải của từng chất khác nhau Dưới đây là tỉ lệ đào thải qua đường hô hấp của một số chất :
Hiđrocacbon mạch thẳng 92%
Ete, clorofom, benzen 90%
Axeton 7%
Anilin 1%
2 Qua đường tiêu hoá:
Bộ máy tiêu hoá đào thải chủ yếu các chất độc vào cơ the qua đường miêng và một số chất vào cơ thể qua các đường khác Chất độc vào cơ thể được hấp thụ vào máu rồi theo hệ thống tuần hoàn tới gan Ở gan, chất độc chịu tác động của mật và các hệ thống enzim của gan làm chuyển hoá rồi qua ruột… Và cuối cùng bị tống ra ngoài theo phân Chính vì vậy phân trở thành một loại mẫu sinh học được dùng để xét nghiệm chất độc, đặc biệt là kim loại nặng
3 Qua nước bọt:
Trang 26Nứơc bọt đào thải các hợp chất hữu cơ và các kim loại Ví dụ : Một số dược phẩm uống vào một thời gian sau cảm thấy vị đắng trong miệng vì chúng được thải một phần qua nước bọt, ví dụ : quinin
Một số kim loại được cơ thể hấp thụ từ môi trường khi bị thải loại qua nước bọt đã gây ra các dấu hiệu hoặc tổn thương đặc trưng được sử dụng trong chuẩn đoán nhiễm độc Ví dụ : thuỷ ngân được thải qua nước bọt có thể dẫn đến viêm lợi, viêm họng; Chì và hợp chất vô
cơ của nó được thải qua nước bọt ở miệng, gặp H2S tạo thành chì sunfua màu xám đen bám vào lợi, đó là dấu hiệu có tính cổ điển trong chẩn đoán chẩn độc chì vô cơ, thường gọi là đường viền Burton
4 Qua sữa:
Có thể nói sữa là đặc sản tự nhiên của người và động vật có vú Thành phần sữa chứa nhiều chất béo rất thích hợp với các hoá chất tan trong mỡ, ví dụ : các hợp chất clo hữu cơ… Người ta đã nghiên cứu sữa các bà mẹ tiếp xúc với các hoá chất và thấy trong sữa có mặt các hoá chất như: thuỷ ngân, asen, dung môihữu cơ, DDT, HCH (666)…
Ở các bà mẹ sử dụng dược phẩm người ta tìm thấy chất ma tuý như morphin, các thuốc như Aspirin, quinin…
5 Qua da:
Mặc dù cơ thể thải độc qua da chưa được sáng tỏ nhưng thực tế người ta đã lấy mồ hôi
để xét nghiệm các chất độc được cơ thể thải qua da, ví dụ các chất điện ly Cl- , Na+ , K+… Ở những người tiếp xúc với các chất độc trong công nghiệp, mồ hôi của họ có chứa As, Hg ,
Pb, Bi… Đặc biệt có đối tượng thấy cả morphin trong mồ hôi
6 Qua thận:
Thận là cơ quan đào thải chất độc quan trọng Nứơc tiểu là sản phẩm bài xuất tự nhiên của thận chứa nhiều chất thải khác nhau, trong đó có chất độc và các chất chuyển hoá của chất độc Nhiều chất lạ sau khi được uống vào chỉ ít phút sau đã thấy xuất hiện trong nước tiểu như iođua, nitrat, clorat
Nước tiểu là một trong các đối tượng xét nghiệm quan trọng của độc chất học công nghiệp, đặc biệt trong nhiễm độc mãn tính, tuy nhiên ý nghĩa của mỗi chất trong xét nghiệm nước tiểu có khác nhau Ví dụ trong nhiễm độc chì vô cơ mãn tính, nồng độ chì trong nước tiểu ít có ý nghĩa nhưng trong nhiễm độc chì hữu cơ mãn tính, nồng độ chì trong nước tiểu lại là một tiêu chuẩn chẩn đoan nhiễm độc có tầm quan trọng hàng đầu
7 Qua các đường khác:
Móng, lông, tóc cũng đào thải chất độc và ngày càng được quan tâm ứng dụng trong nghiên cứu Ví dụ: xét nghiệm tóc là một trong những kĩ thuật hiện đại để xác định các kim loại và á kim ( phi kim loại)
Trang 27HẤP THỤ
tế bào
Mỡ
Các cơ quan của
cơ thể
Các mô mềm hoặc xương
Các tuyến bài tiết
Trang 28CHƯƠNG III : TÁC HẠI CỦA MỘT SỐ HOÁ
răng và xương…
- Trong sản xuất công nghiệp , Flo ở dạng khí (F2 ) và các hợp chất của nó trong môi trường lao động đều tác hại đến sức khoẻ, được mô tả đầu tiên năm 1932 ( do Flemming,
Mollen và Gudjonsson )dưới tên Fluorsis
- Đặc biệt, các chất độc ở dạng khí của Flo đều là những chất kích thích mạnh đường hô
hấp, có thể dẫn đến tai nạn là phù phổi cấp tính và tử vong
I.1.1- Tính chất :
a/ Flo :
- Flo là một nguyên tố phi kim điển hình, thuộc nhóm halogen
Nếu so sánh Flo với các nguyên tố khác trong nhóm halogen thì
Flo hoạt động mạnh nhất Flo luôn tồn tại ở trạng thái phân tử,
được phân bố rải rác trên vỏ địa cầu từ 750 -800 g/ tấn (trong
các mỏ quặng và hòa tan trong các mạch nước ngầm)
- Là chất khí màu vàng xanh, tỉ trọng hơi tương đối là 1,7 (
không khí bằng 1) Nó là 1 chất rất hoạt động ngay ở nhiệt độ
thường, kích thích cực mạnh Trong thiên nhiên, Flo luôn ở trạng thái kết hợp với một chất khác như Canxi, Natri, photphat… hoặc ở trạng thái hoà tan trong nước với tỉ lệ nhỏ
Ví dụ: Flo tác dụng với Natri sẽ tạo NaF Các loại muối này đều dễ tan trong nước và tất
cả các muối của flo đều rất độc
- Flo phản ứng với H2SO4 tạo thành HF và phản ứng với mọi hợp chất hữu cơ oxi hoá được
- Nó phá huỷ các hiđroxit kim loại, phá huỷ đồng với sự có mặt của độ ẩm, phản ứng cả với platin ở điều kiện nóng
- Flo còn hoà tan được thuỷ tinh
b/ HF (hiđroflorua hay axit flohidric) :
- HF là một khí không màu, rất háo nước, thường sử dụng ở dạng dung dịch hoà tan trong nước HF ngậm nước, tỷ trọng với nước là 1,5 ; cất được ơ 120oC
- HF tác dụng được với tất cả kim loại, trừ vàng, bạch kim và bạc Tác dụng với thuỷ tinh cho ra SiF4
Trang 29I.1.2 - Nguồn tiếp xúc và ô nhiễm:
- Hoạt động của núi lửa là nguồn tự nhiên sinh ra khí HF trong khí quyển Khí này còn được sinh ra từ các nhà máy luyện Al, thép, các nhà máy hoá điện, supper photsphat, các lò nung gạch ngói và từ quá trình đốt than
a / Sản xuất phân bón: Sự xâm nhiễm Florua xảy ra trong các quá trình sản xuất và sử dụng
phân bón photsphat (phân photsphat có chứa đến 4% Flo)
b / Kĩ nghệ thuỷ tinh, men sứ:
HF dùng để đánh bóng và khắc thuỷ tinh…
Amoniflorua để tráng men thuỷ tinh
NaF để làm mờ thuỷ tinh
c / Tẩy gỉ kim loại
d/ Kĩ nghệ thực phẩm : florua và flosilicat được dùng để bảo quản thực phẩm
e/ Người ta còn lợi dụng tính chất độc của Flo để làm thuốc trừ sâu, diệt côn trùng, diệt
chuột; làm thuốc diệt khuẩn, khử trùng nước uống Thuốc chống sâu răng được tạo bằng cách cho Flo vào kem đánh răng Những thí nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy rằng , việc thêm flo vào trong nước hoặc kem đánh răng đã làm giảm tỉ lệ sâu răng và chứng bệnh vi khuẩn trong miệng (vì trong miệng, nước bọt có độ pH và nhiệt độ thích hợp cho việc phát triển vi khuẩn gây bệnh sâu răng)
f/ Ở dạng thực phẩm, flo có trong cá biển, trà, rau, mễ cốc (đậu, ngô ), trong xương răng
của con người và động vật
- Về hô hấp: bị kích ứng mạnh Nếu tiếp xúc lâu dài với nồng độ cao F2 hoặc HF trong không khí có thể dẫn tới phù phổi và các bệnh phổi khác
- Nếu hàm lượng Flo quá lớn sẽ gây bệnh mục xương, viem tuỷ, viêm chân răng, nứt men răng, và hàm lượng bị nhiễm quá lớn có thể dẫn đến cái chết Nếu hàm lượng Flo trong nước 5 mg/l sẽ làm men răng bị nứt, răng bị biến dạng Tuy nhiên người ta nhận thấy rằng, khi trong nước flo có từ 1,5 – 2 mg/l là đã bắt đầu gây bệnh về răng
- Hít thở một lượng nhỏ HF, họng và phế quản bị kích thích gây khó nuốt, ho, tức ngực, nghẹt thở
- Khi hít thở hơi HF có nồng độ trên 1/5000 sẽ gây tổn thương niem mạc và phổi Miệng và mũi bị loét giống như ở da Các vết loét rất đau, tiến triển chậm, kèm theo là chảy nước mũi và nước bọt, đôi khi còn thấy loét ở giác mạc
Trang 30- Thở hít nhiều HF gây khó thở dữ dội, suy tim và liệt cơ hô hấp, tím tái, có thể gây tử vong, nếu không thì cũng dẫn đến tình trạng viêm phế quản- phế nang, phù phổi, hoại thư phổi
- Thường xuyên tiếp xúc với florua ở dạng hơi hay hạt trong không khí sẽ tổn thương xương, dây chằng và còn gây rối loạn cấu trúc răng
- Nuốt phải 15 g HF gây tử vong trong 30 phút
Chú ý : F2 hoá lỏng vô cùng nguy hiểm khi tiếp xúc
Sau khi hấp thụ, florua nhanh chóng thải ra khỏi máu tuần hoàn bằng hai cach kết hợp:
Bài tiết qua thận
Tích luỹ vào xương
Bụi florua gây kích ứng, tiếp xúc gây tổn thương răng, có thể bị nhiễm độc flo
I.1.4 – Cấp cứu :
1/ Trường hợp nhiễm độc hơi khí cần xử lý như sau:
- Đưa nhanh nạn nhân ra khỏi nơi ô nhiễm
- Nằm nghỉ
- Theo dõi, quan sát ít nhất 24 giờ để phát hiện ra những biến đổi về phổi
- Điều trị triệu chứng
2/ Da bị nhiễm hoá chất:
- Rửa cẩn thận bằng nước, sau đó bằng dung dịch nước NH3
- Sau khi lau khô da, bôi thuốc MgO 20% trong glyxerin
- Người ta khuyên nên tiêm dung dịch Ca gluconat 10% quanh nơi da bị bỏng Tiêm thuốc đó có tác dụng làm kết tủa HF dứơi dạng CaF2 (buffet)
3/ Khi nuốt phải flo :
Triệu chứng quá liều Flo :
- Cảm thấy có vị mặn hoặc có mùi xà phòng
- Nước miếng tiết ra nhiều
- Buồn nôn, đau thắt vùng bụng
- Nôn, tiêu chảy
- Ra mồ hôi nhiều và khát nước
Xử trí :
- Cho uống thật nhiều sữa
- Lấy ngón tay ấn vào đáy lưỡi gây phản xạ nôn, cho nôn càng nhiều càng tốt Nôn đến khi ra nước mới thôi
- Cho bệnh nhân đến bệnh viện cấp cứu ngay
I.1.5 – Nồng độ cho phép:
- Nồng đo tối đa cho phép của HF trong khôngkhí nơi làm việc là 0,0005 mg/l , của F- là 0,001 mg/l (bộ Y tế, 1992)
Trang 31- Liều gây chết người của NaF vào khoảng 5 gam Liều cho phép
- Theo quy định cua Mỹ, TLV (ACGIH 1998 ):
- Clo là chất khí màu vàng lục, có mùi sốc gây khó thở, ngạt thở
Nặng hơn không khí, d = 2,49 , dễ hóa lỏng, 1 lít clo lỏng cho
hiện ra mùi của clo ở nồng độ 5 ppm hay 0,016
uy không cháy được nhưng
ăn mòn mạnh, phá huỷ các thiết bị, dụng cụ bằng kim loại để tạo thành Clorua
ỉ tồn tại ở dạng nguyên tố trong điều kiện pH dưới 2
458 lít clo khí
- Có thể phát
mg/l (nồng độ cho phép là 0,001 mg/l)
- Dễ tan trong nước, 1 lít nước ở 10oC hòa tan 2,58 lít Cl2 Dễ tan
trong dung môi hữu cơ
- Clo dễ bị hấp phụ bởi than hoạt tính, là chất oxi hoá mạnh T
hiều trong nước thì nó có khả năng
uyển, khí Cl2 và HCl có nhiều ở vùng nhà máy hoá chất Khi đốt than,
và nhiên liệu rắn cũng tạo ra khí clo và HCl
nào clo cũng đều gây
ủa clo khí đối với sức khoẻ là kích ứng các niêm mạc đường hô hấp và
ọc
đroclorua (HCl ) là chất khí không màu, t
I.2.2 – Nguồn gây ô nhiễm- nhiễm độc:
- Clo là nguyên tố được sử dụng rất nhiều trong công nghiệp như :hoá chất, giấy, dệt, dược phẩm, thực phẩm, mỹ phẩm… Clo cũng còn được dùng để khử trùng, tẩy uế…
- Một số ngành phải tiếp xúc với clo như: tổng hợp hoá học, khử trùng n
dòng chảy; trong các công nghệ khác nhau như : chất phụ gia cho xăng, brom, cao su, metyl clorua, vinyl clorua, chất trừ sâu, chất làm lạnh, dung môi có clo…
- Hiện nay người ta sử dụng nhiều Clo làm chất sát trùng cho các công trình xử lý nước thải và xử lý nước cấp Tuy nhiên, Cl2 có thể là “con dao hai lưỡi” vì tuy nó giúp cho việc khử trùng nhưng nếu hàm lượng Clo dư còn n
kết hợp với các chất hữu cơ có sẵn, vào tạo ra chất độc trong nước như Clorofom
CH3Cl Vì vậy sử dụng Clo phải hết sức thận trọng
- Tác hại của Clo lỏng là gây bỏng da, nguy hiểm nhất là bỏng mắt
- Tác hại của Clo khí ở nồng độ cao cũng gây bỏng nhẹ
- Tác hại chủ yếu c
mắt Ở nồng độ cao, clo có thể gây chết bất ngờ do ngừng hô hấp và ngạt, phù phổi và bỏng hoá h
Trang 32- Ơ nồng độ thấp hơn, Clo kích ứng các niêm mạc và gây chảy nước mắt, ho và co thắt phế quản
- Do có mùi đặc biệt nên Cl2 được phát hiện ngay tức khắc, điều đó được sử dụng cùng
u phản ứng của người với khí Cl2 ở nồng
uồn nôn, nôn
cấp tính (phù phổi), các biến chứng nhiễm khuẩn (viêm
, Cl2 được sử dụng làm chất
xúc ồ ạt với Cl2 gây ra các tổn thương trải dài theo đường
i hít phải nồng độ Clo cao
- Chụp X quang phát hiện thâm nhiễm phổi lan tỏa Trường hợp được cứu sống, có thể ho
và trở ngại hô hấp dai dẳng trong khoảng 2 tuần lễ
- Sau sự thuyên giảm của thời kì
phế quản – phổi, áp xe phổi), có thể xảy ra và có thể tiến triển xơ hoá phổi Cũng có đôi khi khỏi không để lại di chứng
- Một số kinh nghiệm về nhiễm độc cấp tính do tiếp xúc ngắn hạn với nồng độ khí Clo rất cao đã được ghi nhận, ví dụ trong chiến tranh thế giới thứ I
độc chiến tranh.Những binh lính bị nhiễm độc thường chết tức khắc, một số chết sau vài ngày do viêm phổi, 10% sống sót mắc bệnh đường hô hấp
- Tai nạn nghiêm trọng khi tiếp
hô hấp, ho tăng lên , buồn nôn, nôn, tím tái, hôn mê và phù phổi Tử vong sau vài giờ
Có thể kết hợp với viêm phổi
Ví dụ : tai nạn do ô tô chở xitec Cl2 đã xảy ra ở N
– 174 mg/m Một tai nạn khác ở Mĩ làm chết 1 người và 16 người
ối loạn tiêu hoá : chán ăn, ợ nóng, nôn
ối loạn toàn thân : gầy ốm, thiếu máu, nhức đầu, chóng mặt
- Các tổn thương da : trứng cá
- Các rối loạn hô hấp : viêm phế quản mãn tính
- Các rối loạn về mắt : viêm kết mạc, viêm giá
- Các biến tính về răng : mòn men và ngà răng dưới tác dụng của HC
- Các r
- Các r
Trang 332 HCl :
- Các rối loạn tiêu hoá: chán ăn, ợ nóng, nôn
- Hơi axit có tác hại đến đường hô hấp và niêm mạc mắt Hít thở phả
có thể bị nhiễm độc Do tác dụng kích thích cục bộ, HCl sẽ gây bỏng
i hơi axit clohidric , sưng tấy, tụ máu, hổi bị mọng nước
- HCl gây co thắt phế thanh quản, viêm phế quản kích thích, phù phổi
.5 – Cấp cứu , điều trị nhiễm độc:
Trường hợp nhiễm độc cấp tính cần nhanh chóng đưa nạn nhân ra khỏi môi trường độc hại, đặt ở tư thế nằm, cho thở khí dung natribicacbonat 0,5 % Thực hiện oxi liệu pháp và
ch dùng các tác nhân chống bọt o là cách tốt nhất để điều trị phù phổi cấp Trường hợp nặng,
hỉ định kết hợp cocticoit và kháng sinh Đôi khi thủ thuật mở thông khí quản là cần thiết Điều
Chủ yếu cho n
lực…
I.2.6 – Dự phòng:
a/ Nồng độ cho phép:
- Nồng độ tối đa cho phép của Việt Nam là 0,001 mg/l
c đây TLV của Cl2 là 1 ppm Hiện nay TLV (ACGIH 1998 )
- Theo quy định của Mĩ trướ
là 0,5 ppm (với Cl2 1ppm = 2,90 mg/m3)
b/ Các biện pháp dự phòng:
Các thiết bị sản xuất, máy móc , đường ống… phải thường xuyên được kiểm tra, bảo dưỡng, thay thế vì Clo ăn mòn rất nhanh Bảo đảm thông gió có hiệu quả ở các vị trí lao động
Tiếp xúc với Clo phải đeo mặt nạ chống Clo Mặt nạ phải luôn luon ở trạng thái tốt, có hiệu quả khi sử dụng
Các phương tiện bảo vệ c
n kiểm tra nồng độ trong không khí nơi làm việc và kiểm tra sự rò hở của hệ
xuất…
g thái lỏng, màu nâu đỏ, có mùi hắc
2 , nhiễm độc có triệu chứng biểu hiện giống như khi bị độc khí Clo Vơi biểu hiện cao nhất là gây phù phổi cấp tính biểu hiện nhẹ:gây
Trang 34- Liều gây chết : khoảng 2 gam tinh thể iot cho người lớn
- Khi bị nhiễm độc bằng đường miệng, niêm mạc miệng, thực quản, dạ dày bị bỏng nặng
tim mạch, giãy dụa, và tử vong
đặc biệt
các thảm hoạ ô nhiễm không khí ở thung lũng Meuse, Donora, cũng thường gặp trong không khí môi trường sản xuất công nghiệp, đặc chất
, không chay, mùi hăng cay và gây phản xạ ngạt thở,hầu hết
t số người nhạy cảm bị kích
an
bốc hơi thu nhiều nhiệt nên được dùng trong các máy lạnh
hả năng làm tắt iên trong một số điều kiện như có chất xúc tác, độ, hạt rắn… SO2 bị hành H SO ở trạng thái khí dung trong không khí
II.1
p hoá chất và các ngành khác có liên quan :
Các ngành công nghiệp sử dụng các nhiên liệu chứa S như nhiệt điện, các lò hơi đốt
S có thể từ 1-5% tuỳ loại than Dầu đốt F.O có tới 3%
- Nạn nhân nôn, ảnh hưởng đến
- Niêm mạc miệng có màu nâu
Các hợp ch
II.1 – SO 2 :
Sunfua dioxit (SO2) còn được gọi là khí sunfuarơ, dioxit lưu huỳnh, anhidrit sunfuarơ… Trong lĩnh vực ô nhiễm không khí, SO2 là chất ô nhiễm hàng đầu, thường được quy kết là một trong các nguyên nhân quan trọng gây tác hại sức khoẻ cho dân sống ở đô thị và các khu công nghiệp (ví dụ
- Có vị chua của của axit Nặng hơn không khí, d = 2,279
- Trong dung dịch nước có phản ứng tạo thành axit SO2 tan trong nước thành H2SO3 (axit sunfuarơ), H2SO3 bị oxi hoá từ từ thành H2SO4 dưới tác dụng của O2 hoà t
- SO2 dễ hoá lỏng dưới áp suất cao hoặc làm lạnh ở 15oC 1 lít SO2 cho 500 lít SO2 khí Khi SO2 lỏng
- SO2 có tính khử, ứng dụng trong công nghiệp để tẩy màu và trong các phản ứng phân tích hoá học
Trong những điều kiện thường, SO2 khíkhông kết hợp với O2 nên có k
các đám cháy… Tuy nh
oxi hoá thành SO , rồi t3 2 4
.2 – Nguồn tiếp xúc :
1) Trong công nghiệ
quá trình sản xuất H2SO4 (ở Việt Nam), SOquặng pyrit giàu S :
4 FeS2 + 11 O2 2 Fe2O3 + 8 SO2 Chế tạo và sử dụng các hoá chất có chứa S như Na2SO3, bisunfit, hidrosunfit v.v… Trong các điều kiện nhất định, có thể phát sinh SO2 trong không khí
2 )
than hoặc dầu… Trong than, tỷ lệ
S…
3 ) Trong công nghiệp dầ
4 ) SO2 làm chất tẩy trắng trong công nghiệp giây, đường, s
5) Làm chất bảo quản
6 ) Làm chất xông hơi trong xá trùng, tẩ
7 ) Dùng trong luyện kim, sơn, thuỷ tinh…
8 ) SO2 được d
Trang 35SO2 thườngđược thoát ra từ ống khói hoặc các hệ thống thông gió gây ô nhiễm không khí
II.1.3 – Độc tính :
- SO2 khíkích ứng các niêm mạc mắt và các đường hô hấp trên ở nồng đô cao SO2 gây viêm
ng quá trình oxy hoá Fe (II) thành Fe (III)
nhân bị viêm phế quản, viêm phế quản – phổi, hoặc viêm tiểu phế quản xơ
dạng hoá chất khác nhau (H2SO3, SO3 ) rồi vào hệ
và sunfat thấy trong nước tiểu
ếu do tiếp xúc va chạm Ví dụ va chạm với da làm phù da,
- SO2 trong không khí hít vào nhanh chóng bị hấp thụ khi tiếp xúc với bề mặt ẩm ướt của
2-tuần hoàn, nhưng tác dụng chính gây ra là ở đường hô hấp Người ta cho rằng SO2 hít vào phần lớn được giải độc trong các cơ quan bởi các men thành thiosunfonat thấy trong huyết tương
Đối với SO2 lỏng, tác hại chủ y
i lẫn SO2 đóng vai trò quan trọng trong độc tính của SO2 (kích thước hạt, nồng độ,
ụi) Một chất khí trong điều kiện thường chỉ kích ứng đường hô hấp của khí dung bụi lại gây ra viêm các tiểu phế quản và các phế nang
nh quản…
năng tuyến giáp bị ức chế và bị rối loạn kinh nguyệt
ới SO2 ở nồng độ cao có thể bị xơ cứng phổi, khí thũng, ảnh
II.1
- Triệu chứng khách quan là xung huyết, phù nề niêm mạc mũi, thành họng, tha
Niêm mạc có hiện tượng teo, giãn mạch, loét vách ngăn mũi… Viêm kết mạc mãn tính, tổn thương răng và da
- Đặc biệt ở phụ nữ, chức
- Nếu tiếp xúc lâu dài v
hưởng chức năng hô hấp…
.5 – Cấp cứu và điều trị :
Trang 36n thiết và tăng cường vitamin C
ững người thường xuyên tiếp xúc với SO2 nên ăn chế độ nhiều đường để làm tăng khả năng chống độc của cơ thể với SO2
- Liên Xô (cũ) quy đị
- Theo Mỹ: TLV (ACGIH 1969) của SO2 là 5 ppm (= 13mg/m3)
c miệng bằng dung dịch Na2CO3 10% trong khi làm
m, đánh răng sau lao động
4
- Bảo vệ da bằng quần áo không hấp
ên sú
- Bảo vệ răng miệng, thường xuy
việc có tiếp xúc với SO2
- Vệ sinh cơ thể, tắ
- Duy trì luyện tập cơ quan hô hấp
- An nhiều chất đạm và vitamin
/ Biện phap y học:
Trang 37Không tuyển dụng hoặc bố trí công việc có tiếp xúc với SO2 những đối tượng sau đây:nữ dưới 18 tuổi , những người bị viêm màng kết hợp mãn tính, viêm thanh quản mãn
hũng, hen phế quản, xơ cứng phổi, tổn thương hô hấp qua mũi, bệnh về tim
II
gây cơn ho sặc sụa, khó
ất nguy hiểm và có thể chết ngay trong độc cấp tính rất nguy hiểm và có thể chết ngay trong trường hợp trúng
h Ngoài ra còn gây tác hại đối với mắt, khi bị ngộ độc mãn tính có triệu chứng
II
i
ợc xem là một bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm ở một số nước như Italia,Bồ Đào Nha,Thụy Sĩ, Đức, Tây Ban Nha, Nhật, Mêhicô…Ở Pháp, nhiễm độc H2S được xem là một bệnh có tính chất nghề nghiệp
ất ô nhiễm môi trường vầ trong sản xuất công nghiệp nó là một thứ phẩm
g muốn gây nhiễm độc trong môi trường lao động
Tác hại đối với cơ thểnhư khí SO2 , kích thích đường hô hấp
thở, gây tổn thương phổi như phù phổi cấp tính r
trường hợp trúng
độc cấp tín
như nhức đầu, choáng váng, mất ăn mất ngủ, người rất mau gầy
Biện pháp đề phòng giống như đối với khí SO2
ong nước ở10oC , 1g H S tan trong 187 ml H O; ở 20oC : 242 ml H O ; ở 30oC
g cồn, ete, glyxerol, các dung dịch amin, cacbonic, kiềm và axit
H2S cháy được với ngọn lửa màu xanh nhạt, tạo ra SO2;tự bốc cháy ở 260oC
Trang 38H2S bị phân hủy nhiệt thành H2 và S,khi cho H2S tiếp xúc với chất mồi lửa như axit nitric
1 Trong môi trường tự nhiên:
Có nhiều điều kiện tạo ra H2S trong thiên nhiên như trong khí núi lửa phun ra hoặc trong các vùng ẩm thấp vi khuẩn phân hủy các chất hữu cơ chứa S tạo thành H2S (cống rãnh,
t…)
ôi trường tự nhiên như việc nạo vét kênh rạch bẩn,
kênh rạch có người ở hoặc nuôi súc vậ
Trong sản xuất có liên quan đến m
cống rãnh,hầm hố…,đổ thùng, dọn phân súc vật trong trại chăn nuôi… cũng có thể tiếp xúc với H2S Khi đào giếng cũng có thể gặp H2S trong đất
2 Trong các quá trình công nghiệp:
H2S được tạo thành khi nguyên tố S hoặc hợp chất chứa S tiếp xúc với các vật liệu hữu
cơ ở nhiệt độ cao H2S là thứ phẩm của nhiều quá trình khác nhau như công nghiệp loc dầu
nhuộm và sắc tố; trong kỹ nghệ cao su,
ẽm; trong xử lý nước thải; trong
học trung gian trong tổng hợp các sunfua vô cơ và các hợp
ồng độ thấp thì có mùi trứng thối, còn ở nồng độ cao thì không
có tạp chất S trong dầu thô nguyên liệu;trong các lò cốc, khí đốt; trong công nghệ chế tạo tơ nhân tạo viscô (viscose); chế tạo muối bari; thuốc
thuộc da; sản xuất đường (từ cu cải); kỹ nghệ in, khắc bản k
các hàm mỏ nhất là mỏ than…
3 H2S được dùng làm chất hóa
chất sunfua hữu cơ như thiophen và m
4 H2S được dùng làm thuốc thử trong phân tích hóa học
Như trên đã nêu, H S ở n2
còn nhận thấy mùi gì và đó chính là nguy cơ cơ gây nhiễm độc bất ngờ H2S có thể gây ra mọi thể nhiễm độc như sau:
h
1/ N iễm độc siêu cấp tính:
Đặc điểm của thể nhiễm độc này là xảy ra rất nhanh, trong giây phút, chỉ một lần tiếp xúc duy nhất với nồng độ rất cao của H2S , gây thiếu oxi, dẫn đến tử vong do ngạt Một số tác giả mô tả triệu chứng nhiễm độc siêu cấp tính như sau:
kinh, nạn nhân đổ gục, mất tri giác và chết ngay, không
ễm độc này thường gặp ở công nhân nạo vét cống, đặc biệt cống
- Nạn nhân mất tri giác bất ngờ, co giật và giãn đồng tử
- Có thể gặp co giật, thể động
động đậy Thể nhi
ngầm, đổ thùng…
Trang 39Trong không khí môi trường cống ngầm hoặc đổ thùng, ngòai H2S còn có nhiều khí khác đã được xác định như CO2, NH3…
c/ Rối loạn tiê
- Buồn nôn, nôn; Đi tiêu chảy
d/ Rối loạn thần kinh- tâm lý:
Trang 40Trường hợp nhiễm độc siêu cấp tính cần tức khắc đưa nhanh nạn nhân ra khỏi nơi ô nhiễm, làm hô hấp nhân tạo , cho thở oxi
Kích thích trung tâm hô hấp bằng cách tiêm lobelin 1ml hay niketamit ( 5 ml) Sắt dạng
ỏ ngay một giọt dầu ôliu
ợp nghiêm trọng hơn , rỏ nhiều giọt dung dịch adrenalin 1% và đắp gạt
iện trước Nếu có H2S phải
khi làm việc trong môi trường có H2S
ha thêm canxi clorua trong hỗn hợp Fe(II)sunfat và vôi để có tác dụng
nguyên tắc bao gồm các nội dung sau đây:
- Bảo đảm quy trình không tỏa ra H2S ở nơi làm việc
- Thường xuyên giám sát môi trường lao động
- Trước khi vào làm việc tại nơi nghi có H2S phải phát h
dùng trang bị bảo vệ cơ thể (mặt nạ , kính…).Nếu cần thì phải có nhóm cứu nạn…
ới kiềm trong khi NO tạo với kiềm 2 muối là nitrit và nitrat
thấy với liều rất cao NO gây ra các tổn thương chết ở hệ ương
ở 0,1 ppm Tuy nhiên người ta dễ quen với mùi đó
i Theo tổ chức y tế thế giới
Khám tuyển (tiền sử bệnh tật, khám thể lực, đặc biệt chú ý đến mắt, th
và hô hấp
Có thể đo chức năng hô hấp (
Khám định kỳ Nội dung như
Về cảm quan có thể nhận biết mùi NO2
Vì vậy phải tăng NO2 đến 25 ppm người ta mới thấy lại mù
(WHO), ngưỡng khứu giác là 0,4 mg/m3