1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hc thuyt hu hin di

77 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Học Thuyết Hậu Hiện Đại
Tác giả Abdulazim Ali N.Elaati
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 855,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù một số nhà nghiên cứu HHĐ không xem thuật ngữ "phong trào" là chính xác, nhưng tình trạng đồng loạt hoài nghi thực tại, chất vấn giá trị quá khứ, mô phỏng thực tế, tự vấn bản sắc,

Trang 1

Học Thuyết

Hậu Hiện Đại

Ngu Yên

Trang 2

Học Thuyết Hậu Hiện Đại

Học thuyết HHĐ không mang tính thống nhất do đó không có chủ nghĩa một cách rõ rệt Đúng hơn, HHĐ là một phong trào tư tưởng xuất hiện trong một thời kỳ xáo trộn khi văn hóa, khoa học và nhiều diện xã hội Tây Phương thay đổi Thành hình một trật tự mới trên toàn cầu

Mặc dù một số nhà nghiên cứu HHĐ không xem thuật ngữ "phong trào" là chính xác, nhưng tình trạng đồng loạt hoài nghi thực tại, chất vấn giá trị quá khứ, mô phỏng thực tế, tự vấn bản sắc, thể hiện qua nhiều lãnh vực đời sống, không có lãnh

tụ, không có tuyên ngôn, không có đại diện, không

có liên lạc chặt chẽ giữa các nhà hoạt động, các nhà văn, nếu không gọi là phong trào, một trào lưu hỗn hợp, thì gọi là gì? Rốt ráo, "phong trào" chỉ là việc định danh cho phê bình văn học

Tổng quát về học thuyết và học thuật

HHĐ làm suy yếu thành trì tư duy từ trung tâm thống trị tư tưởng tây phương từ thời cổ đại cho đến thời hiện đại, bằng cách bác bỏ những lập luận

và những quy luật đã thành hình, được xem là cơ

sở cho hành động Chẳng hạn như ngôn ngữ, nguồn gốc, bản tính, và quan niệm, trước đây, đã xây dựng một cơ chế, một hệ thống HHĐ có bản chất phân tán, bất đồng và không chắc chắn

(Abdulazim Ali N.Elaati, Postmodernism Theory, Presentation DOI: 10.13140/RG.2.1.4515.0327 2016)

HHĐ kết hợp triết lý vô chính phủ, chủ nghĩa hư vô, chủ thuyết nghi hoặc, tạo ra đặc tính phi lý, phức tạp và khó phân định

Trang 3

HHĐ xuất hiện trước tiên trong các lãnh vực hội họa, kiến trúc, nghệ thuật tạo hình, về sau mới thể hiện trong triết học và văn chương Từ đó, lan

ra hầu hết các lãnh vực khác Vì vậy HHĐ mang tính toàn cầu, bao trùm nhiều học thuyết, nhiều phong trào khác

Dù muốn hay không, dù biết hay không biết, ý tưởng và tác dụng của HHĐ phản ảnh trong đời sống hàng ngày và thể hiện trong cách sống của mỗi người

Ba nhà tư tưởng thuộc thời Hiện Đại nhưng có ảnh hưởng đến động lực phát sinh HHĐ, đó là Nietzsche, Marx và Freud Những nhà tư tưởng và triết gia trong vòng gần gũi ảnh hưởng đến sự thành hình và đóng góp cho học thuyết Hậu Hiện Đại, phải kể đến Michel Foucault (1926-1984), Jacques Derrida (1930-2004), Gilles Deleuze (1925-1995), Félix Guattari (1930-1992), Edward Said (1935-2003), Fredric Jameson (1934-) và Jean Baudrillard (1929-2007) Nguồn gốc trực tiếp của học thuyết đến từ triết gia Jean-Francois Lyotard (1924-1998) Ngoài ra, còn khá nhiều nhà

tư tưởng khác đã đóng góp cho học thuyết HHĐ, tuy nhiên, có nhiều tác giả không tự nhận tác phẩm hoặc tư tưởng của họ thuộc về trào lưu này, ví dụ như C.Wright Mills

Học thuyết HHĐ trên mặt thái độ là một phản ứng

đả phá sự quá độ của chủ nghĩa Hiện Đại, để xây dựng một sự quá độ khác Nói xác đáng hơn là một chu kỳ tư tưởng nhân sinh sớm hay muộn gì cũng phải xảy ra Thường gọi là "phản ứng sửa sai." Phản ứng này có mặt trong bất kỳ một quá trình hoặc diễn tiến nào

Trang 4

Nền tảng ý nghĩa HHĐ cho rằng, con người không

có khả năng tìm hiểu và khám phá thực tế cho đúng sự thật Vì vậy, những nhận thức thực tế, những kinh nghiệm sống chỉ tiếp cận sự thật theo phương pháp mô phỏng, bắt chước và giả mạo Những kiến thức có được giá trị là do sự giải thích bởi xã hội và lịch sử Kiến thức là kết quả của quyền lực Cá nhân là phương tiện trong phạm vi tác dụng của quyền lực Sự tỉnh thức không phải

để giải phóng cá nhân hoặc tập thể, vì không ai có thể thoát ra Quyền lực và xã hội tạo ra luận lý, luận điệu về chân lý Độc giả tạo ra ý nghĩa của văn bản Xã hội và cá nhân tạo ra ý nghĩa và giá trị thực tế Con người cùng quyền lực của một tập thể

mà họ sinh hoạt, tạo ra ý nghĩa cuộc đời

Trong lãnh vực văn học, lý thuyết sinh ra học thuật Học thuật bao gồm nghệ thuật và kỹ thuật Nhưng khi áp dụng học thuật để phân loại truyện HHĐ, việc này trở thành phức tạp Vì có nhiều học thuyết thành hình và sinh hoạt song song, do đó một sáng tác có thể hỗn hợp hoặc đan dệt một số học thuật của những thuyết khác nhau, hoặc của những thuyết tương tựa Dẫn đến việc dẫm chân, một truyện HHĐ có thể vừa là Metafiction (truyện tự thức), vừa là Paranoia Fiction (truyện hoang tưởng), hoặc có thể vừa là Introverted Narrative (truyện hướng nội), vừa là Experimental Fiction (truyện thử nghiệm)

Không chỉ có sự hỗn hợp trong nghệ thuật và nội dung, còn có sự hỗn hợp trên hình thức và thủ pháp Có truyện mang tinh thần và kỹ thuật Cấu Trúc Luận, có truyện theo phương pháp Giải cấu Trúc, có truyện theo kỹ thuật phối hợp phương pháp sáng tác Các nhà phê bình thường gọi chung là truyện HHĐ Vì vậy, việc tìm hiểu học

Trang 5

thuyết, một học thuyết rộng rãi và khó xác định, để

tự truy tầm học thuật HHĐ, cần thiết nhưng không

dễ dàng

Sự rộng lớn và thiếu rõ ràng của thuyết HHĐ, gây

ra chia rẽ trong học thuật HHĐ phổ biến trong các diện nhân văn và xã hội, cùng một lúc lại phổ biến trong khoa học, toán học và kỹ thuật Tập trung và phân loại kỹ thuật sáng tác HHĐ là việc chưa có kết quả đồng thuận giữa các nhà nghiên cứu phê bình Tuy nhiên, qua từng tác phẩm, tác giả, có thể nhận ra học thuật một cách cụ thể Nhất là những tác giả và tác phẩm sử dụng nghệ thuật truyền đạt của HHĐ

Cấu trúc của Hậu Hiện Đại

HHĐ được thành lập trên những hoài nghi giá trị: 1-trí tuệ, 2- tri thức, 3- nghệ thuật, 4- thẩm mỹ, 5- luân lý

Từ nền tảng này, có thể giả định một số nguyên tắc

2- Phê bình "đôi" về phân tích nhân văn

Trong hệ thống chủ nghĩa Hiện Đại, có hai thành phần hỗ tương là " bản thân và đối tượng." HHĐ đòi hỏi loại bỏ bản thân

Trang 6

3- Một nhãn quan mới về lịch sử, thời gian và địa

HHĐ xây dựng những ý tưởng mới và đặc biệt về lịch sử, thời gian và không gian Xem lịch sử như một bộ môn độc lập hoặc là cánh cửa mở vào xã hội, nhân văn, và khoa học HHĐ nhắm vào việc giảm thiểu tầm quan trọng của lịch sử Vai trò nhân chứng ghi lại sự kiện, biến cố trong quá khứ, vai trò

sử gia nghiên cứu và suy diễn, bị đặt câu hỏi về khả năng trung thực của sự kiện, mức giới hạn của trí lực suy tưởng, phẩm chất đúng đắn khi ghi nhận

và hiệu lực khi sử dụng ngôn ngữ

4- Sự thật chỉ tương đối

HHĐ cho rằng việc theo đuổi sự thật cuối cùng bằng nỗ lực khoa học thực dụng, thực tiễn, như chủ nghĩa Hiện Đại đã đánh giá là việc sai lầm lớn nhất của con người HHĐ cho rằng có chân lý hay không, không quan trọng, vì con người sẽ không bao giờ đạt được chân lý [Con người có thể sống

mà không cần chân lý siêu hình hoặc chân lý tuyệt đối Con người cũng có thể sống với chân lý hoài nghi, hoặc với chân lý am tường tương đối Lịch sử

sự sống cho thấy, hành động đi tìm chân lý là việc cần thiết để mở mang và phát triển trí tuệ, không nhất thiết phải đi đến kết quả Vì vậy, kết quả không quan trọng bằng diễn trình.]

5- Từ bỏ ý tưởng về đại biểu

HHĐ không chấp nhận sự đại biểu, đại diện thay thế, dưới bất kỳ hình thức nào Ví dụ một nhóm người đại diện cho các cá nhân và hành xử trên quyền lợi của đa số Bởi vì, những đại diện, đại biểu không chắc đã có khả năng đại diện, kể cả sự

Trang 7

hiểu biết và tham vọng Họ trở thành đại diện vì quyền lực nhiều hơn vì chức năng và hiệu quả Khi Baudrillard tuyên bố khái niệm "sự vắng mặt của sự thật" trong đời sống, trong thực tế, trên đối tượng, đã dẫn đến việc từ chối ý nghĩa được biểu hiện sau lưng thực tế đại diện, hoặc ẩn dụ biểu hiện Cả hai ý nghĩa đại diện và được đại diện, theo ông, không quan trọng vì cả hai đều là giả mạo thực tế Khái niệm này vẫn còn là một tranh cãi, nhưng đã thấy ảnh hưởng mạnh mẽ trong lãnh vực thần học

Hậu Hiện Đại trong lãnh vực thần học

Thần học HHĐ không đặt niềm tin vào Thượng Đế Gần gũi với chủ thuyết Nhân Bản Thế Tục (Secular Humanism) và chủ nghĩa Mác (Marxism) Hầu hết các nhà văn HHĐ đều ngã về hướng vô thần, nhưng phong cách thần học của HHĐ rất mơ hồ khi khẳng định lòng tin

Năm 2002 khi Derrida thuyết trình trước hội nghị Học Viện Tôn Giáo Hoa Kỳ, ông đã tuyên bố "Tôi

đúng là người vô thần." Nhưng khi bị đặt câu hỏi để

minh bạch câu nói này, ông lại trả lời, "có lẽ tôi

không phải là người vô thần." Nói một cách khác,

câu chuyện sự hiện hữu của Thượng Đế không phải là mối quan tâm của ông Và dường như không phải là quan điểm chủ yếu của thuyết HHĐ Theo Richard Rorty, sự giáo sĩ hóa đã làm trở ngại cho niềm tin Tôn giáo trở thành sở hữu tư nhân thay vì là cộng đoàn tín đồ Thể chế giáo hội trở thành nguy hiểm cho xã hội

Đưa đến việc niềm tin tôn giáo là sở thích cá nhân như một nhân quyền phải được tôn trọng Đa

Trang 8

nguyên tôn giáo mang ý nghĩa mọi tôn giáo dù lớn hay nhỏ, dù truyền thống hay cách tân đều bình đẳng

Tâm trạng HHĐ thể hiện qua thái độ hoài nghi hơn

là khẳng định chân lý tuyệt đối Và hoài nghi luôn

cả nền tảng xây dựng kiến thức, do đó hoài nghi luôn những suy lý tột đỉnh của siêu hình học Tuy vậy, sự hoài nghi không mang tính vô thức và bừa bãi, đây là sự hoài nghi của ý thức Bởi vì tôn trọng quyền tự do tôn giáo cá nhân, HHĐ đi ngược với một số tôn giáo một chiều như Kitô giáo, Do Thái giáo, Phật giáo và Hồi giáo

Một người bình thường khó tin vũ trụ và con người

là kết quả từ ngẫu nhiên và tự nhiên Do đó, việc không đặt niềm tin vào Thượng Đế không được các nhà tư tưởng HHĐ đưa ra những lý do mạnh

mẽ và trung thực để chứng minh Suốt cả trào lưu, bản chất vô thần chỉ thể hiện qua tính hoài nghi HHĐ đặt trọng tâm vào các lãnh vực văn hóa, xã hội, chính trị hơn là thần học Mary Midgley xác nhận về chân lý siêu nhiên, "Đơn giản là nó không

nằm trong khả năng của chúng ta, tất nhiên trừ khi không nghĩ đến, [ngược lại nếu] nghĩ đến, thì (vũ trụ) như không có mục đích hoặc phương hướng gì cả."

Đối với Lyotard, kiến thức, hiểu biết, không thể nào minh chứng sự thật, chân lý trong bất Kỳ một ý nghĩa nào Vì nó phải tùy thuộc vào ngôn ngữ Bản chất ngôn ngữ truyền đạt liên quan đến thủ thuật

và bị thúc đẩy bởi nhiều động cơ ngấm ngầm khác Văn bản và khẩu thoại đều không có khả năng diễn

tả đúng mức Trên quan điểm này, mọi sách vở truyền giáo, thánh thư lưu truyền đều không thể hoàn toàn tin cậy

Trang 9

Còn Foucault xác định rằng chính quyền lực tạo ra chân lý và từ đó niềm tin được xây dựng Vì vậy, niềm tin là do quyền lực tạo ra để thuyết phục con người

Lãnh vực thực tế trong văn chương

Richard Rorty nhận xét, "Chúng ta nên từ bỏ lý

thuyết tương ứng của sự thật, để bắt đầu điều chỉnh niềm tin về đạo đức và khoa học, như phương tiện để đạt đến hạnh phúc lớn hơn cho nhân loại, thay vì biểu hiện bản chất nội tại của thực tế."

Một trong quan điểm chính của HHĐ là phủ nhận

sự thật khách quan Điều này đã được Lyotard

tuyên bố: "Sự hoài nghi hướng về siêu văn bản." Một siêu bản đề cập đến một câu chuyện đồng nhất tìm cách giải thích thế giới như thế nào Nói một cách khác, một siêu bản là một thế giới quan Những văn bản, lời nói giải thích mang tính bao trùm, rộng rãi, chung chung, cần phải nghi ngờ Ví

dụ, câu nói "Thiên Chúa yêu thương thế gian" cần phải xét lại, theo các nhà HHĐ vì hai lý do: 1- Sự hiện hữu của Thượng Đế bị nghi ngờ, chưa giải quyết 2- Lời nói phản ảnh cả thế giới (siêu văn bản) không thể nào thực hiện Phải giải thích bằng quyền phép và bí tích

Theo HHĐ, không có sự thật khách quan và phổ thông Sự thật mà chúng ta hiểu biết và chấp nhận

là tri thức do xã hội tạo ra Mỗi thời đại, mỗi xã hội,

sự thật thể hiện khác nhau, có khi hoàn toàn nghịch nhau Chỉ có những mảnh sự thật hoặc sự thật nhỏ của một nhóm người hoặc của một xã hội

Sự thật tương đối này bị giới hạn bởi nhận thức

Trang 10

của các nhóm cá nhân hoặc nhận thức của các xã hội

Sáng tác hoặc lời nói chỉ có thể phản ảnh một phần nào văn hóa địa phương và quan điểm của tác giả hoặc của chủ nhân lời nói Câu nói thường được nhắc đến trong tinh thần HHĐ: "Điều đó có thể

đúng với anh, nhưng không đúng với tôi" Nghĩa là,

có thể chấp nhận đúng hoặc sai, và thỏa thuận cùng ngộ nhận Vì vậy, chỉ còn kết quả hoặc hiệu quả là có thể giải thích tương đối giá trị của thành công hoặc thất bại Ví dụ, một nhà văn có thể sáng tác theo bất kỳ kiểu nào và không thể bị phê phán đúng hoặc sai Chỉ có kết quả và hiệu quả của tác phẩm mới cân đo giá trị tương đối của kiểu cách hoặc văn phong sáng tác Dĩ nhiên là giá trị văn chương, không phải thương mại

HHĐ chống lại thế giới quan Một câu truyện giải thích về ý nghĩa thế giới, không phải cho thế giới,

mà chỉ là câu truyện địa phương đề cập đến một nền văn hóa khác

Về diện thuần văn chương, HHĐ vô cùng quan tâm đến ngôn ngữ và văn bản, bao gồm bút pháp và

văn phong Thuật ngữ đại biểu cho phương pháp học của HHĐ là giải cấu trúc

Liên hệ và ảnh hưởng bởi triết gia Jacques Derrida, giải cấu trúc liên quan đến đọc văn bản và khám phá ẩn nghĩa hoặc đa nghĩa Độc giả cảm nhận ý nghĩa văn bản quan trọng hơn chính văn bản đại diện Điều này dẫn đến ý định và những cá tính thường không biểu lộ của tác giả Ví dụ, đọc câu truyện có thể hiểu được tác giả là người kỳ thị, mặc dù ông không hề nhắc đến

Trang 11

Về diện cơ sở và cấu trúc của văn chương HHĐ, Roland Barthes đã từng mô tả về văn bản văn

chương HHĐ là "lớp mô của các trích dẫn." Văn

bản HHĐ, xây dựng, trình bày .thông thường là một hỗn hợp của các phong cách, rút ra từ các phong trào trong quá khứ, để tạo nên một hình thức lai giống Hình thái HHĐ là hình thức mở rộng không giới hạn, tự phản ảnh và cổ võ ý thức kết hợp các đặc điểm, đặc tính của các thể loại văn bản khác

1986, Roland Barthes viết một luận văn ngắn "The

Death of the Author" (cái chết của tác giả.) Ông lập

luận, văn bản chính không quan trọng bằng cái đích nơi độc giả đạt đến Khi cho phép người đọc tạo ra ý nghĩa mới, văn bản được giải phóng ra khỏi ý nghĩ, sự chuyên chế của tác giả

Văn học HHĐ cho rằng chữ nghĩa không bao giờ

mô tả thế giới thực tế một cách khách quan, mà chỉ

đề cập đến ý nghĩa do sự liên quan đến những từ ngữ khác Vì vậy, nhà văn xây dựng bất kỳ một câu nào, sẽ không bao giờ cho chúng ta biết về thế giới thật (thực tế, thực tại), mà chỉ nói về thế giới mà tác giả cảm nhận, rồi truyền sang độc giả, mỗi độc giả cò thể cảm nhận khác nhau Khái niệm này đưa

đến câu nói: "Đó chỉ là cách giải thích của bạn"

Quan niệm giải cấu trúc trong thuyết HHĐ còn vượt qua phạm vi văn chương Khái niệm rằng, trong khi người đọc đang tạo ra ý nghĩa của văn bản, cùng một lúc họ xây dựng một thế giới theo kinh nghiệm riêng và văn hóa giới hạn của mỗi người Từ một văn bản, thế giới quan của tác giả, sẽ phát sinh ra

vô hạn những thế giới quan của độc giả

Trang 12

Thuyết sự thật tương đối có nghĩa là sự thật được hiểu như liên hệ giữa thế giới thật, khách quan và các luận lý tương ứng với thế giới thật Nhưng HHĐ cho rằng những loại sự thật này không thể đạt đến Không có ý nghĩa về sự thật phổ thông, chỉ có ý nghĩa về sự thật của mỗi cá nhân Những mảnh sự thật chủ quan chỉ tồn tại trong một hoàn cảnh cụ thể được bao quanh bởi một nền văn hóa nhất định Trên văn bản, chỉ có chữ tương ứng với chữ rồi sau cùng tạo nên ý nghĩa và sự hiểu biết về thực tế Nếu chữ chỉ biểu hiện cho chữ khác, chẳng bao giờ chữ có khả năng theo đuổi, khám phá sự thật

Đàng sau văn bản là điều mà HHĐ chắc chắn cho rằng, tất cả mọi người đều tùy thuộc vào văn hóa

và ngôn ngữ, đó là tình trạng trong đời sống của

họ Không ai có thể vượt thoát được tình trạng riêng để tham dự và vũ trụ, để tuyên bố một sự thật khách quan về thực tế

Thực tế không phải là những gì tồn tại khách quan,

mà là do chúng ta đồng ý với nhau, nó là gì

Trang 13

Những Khái Niệm

Bên Trong Hậu Hiện Đại

Thuật ngữ "Postmodernism" tự bản thân đã là một phức tạp Quá trình thành hình, định nghĩa, xác định bản sắc đều không được rõ rệt như chủ nghĩa Hiện Đại Lấn cấn thêm, khi phải phân biệt giữa các thuật ngữ liên hệ: postmodernism, postmodernity, và postmodern Khó khăn hơn, khi dịch sang tiếng Việt

Khái niệm về thuật ngữ

Postmodern là tính từ dùng trong hai trường hợp: 1- chỉ giai đoạn văn chương trong khoảng 1950-

1990, 2- chỉ lịch sử văn hóa trong cùng một giai đoạn (Chưa có sự đồng thuận về năm tháng của thời kỳ HHĐ Có những học giả cho rằng, HHĐ vẫn còn hiện hành cho đến ngày hôm nay.)

Postmodernity bao gồm những cách thế của thế giới thay đổi trong thời kỳ HHĐ Có nhóm gọi là Điều Kiện HHĐ, nhóm khác gọi là Tính HHĐ Postmodernity có thể mô tả thực tế hơn trong những biến cố chính trị, những thay đổi kinh tế, những cải cách tôn giáo, những biến động lớn của thế giới Quan trọng và ảnh hưởng nhiều nhất là sự phát triển nhanh chóng, vượt bậc của khoa học và khoa điện tử

Trang 14

Posmodernism và tính từ postmodernist chỉ định một tập hợp khái niệm, tứ tưởng phát sinh từ triết học, học thuyết liên quan đến kết quả mang tính thẩm mỹ

Khái niệm đa dạng và phức tạp

Điều kiện Hậu Hiện Đại (postmodernity) bao gồm nhiều lãnh vực như kinh tế, chính trị, tôn giáo, xã hội Vì sự đa dạng, HHĐ tạo ra nhiều khái niệm khác biệt, nhưng nhờ nhiều luận lý, nhiều nhãn quan, khiến sự đa dạng trở thành hữu dụng, cho người tìm hiểu một kiến thức đa nghĩa

Bản sắc của HHĐ vừa phức tạp (complicated) vừa phức hệ (complex) Sự phức tạp còn có thể giải thích Sự phức hệ, gần như, phải chấp nhận để thực hành Bản chất của HHĐ đã có sự phi lý hoặc bất khả tư nghị cấu tạo bên trong Nói một cách thực tiễn, dù biết hoặc không biết Hậu Hiện Đại là

gì, chúng ta cũng phải sống trong chức năng và hiệu quả của nó Chúng ta là nhân chứng Những thế hệ sau chỉ thừa hưởng tác dụng của khuynh hướng

Tình trạng đa dạng

Trong khi một số nhà phê bình nhấn mạnh "chủ nghĩa HHĐ" (postmodernism) thay vì phong trào, với mục đích đề cập đến nền văn hóa HHĐ mà họ đang sống, trong một mẫu hình (module) để có thể phân tích và phê bình một cách cụ thể Chủ nghĩa HHĐ mang tính kỹ thuật, trong khi phong trào mang tính nghệ thuật Có thể nói rằng, trong tinh thần này, chủ nghĩa là một phần của phong trào văn học rộng lớn

Trang 15

Một số học giả khác như Eva T.H Brawn cho rằng Hậu Hiện Đại không hẳn là học thuyết Chỉ là một công trình kiến trúc của trí tuệ, tự do, được xây dựng vững vàng Không nhất thiết phải sử dụng

"ism" ở cuối từ Ví dụ như hai tên gọi: Theory of Relativity và Relativism thể hiện khác nhau Một bên là Lý Thuyết Tương Đối, một bên là triết học Tương Đối

"ism" phát xuất từ ngôn ngữ Hy lạp và Latin, nằm ở cuối từ để chỉ thói quen, cá tính chung của một nhóm, một thể loại Ví dụ như Barbarism, đề cập tính tình và thói quen dã man, thô lỗ, ngu dốt, thiếu văn hóa của những nhóm mọi rợ Từ "post" thật sự không mang nghĩa đơn giản là "hậu" Theo triết gia Lyotard, post trong Hy lạp nên hiểu là "ana", có nghĩa "trở lại", trong ý nghĩa tái sử dụng trí nhớ Lyotard còn đi xa hơn, khi ông nhận định từ Hậu Hiện Đại nên hiểu một cách nghịch lý, từ "post" nên hiểu là "ngay bây giờ" (now) [Có lẽ nên hiểu là

'vừa ngay sau khi chấm dứt'] Ông lập luận, các

tác phẩm HHĐ không sáng tác theo bất kỳ quy tắc phổ quát nào, [câu nói này cũng nên hiểu là có thể

sáng tác theo bất kỳ quy tắc nào, kể cả phổ quát.]

hoặc bất kỳ một siêu văn bản nào Tác phẩm HHĐ không có điều kiện đòi hỏi ngay lúc đầu Mỗi tác phẩm là tác phẩm "bây giờ" Và hiện trạng bây giờ: hình ảnh thực tế bị cắt đứt hoàn toàn với nguồn gốc, với sự thật của thực tại Thế giới chỉ là hình ảnh, hình ảnh, hình ảnh Giống như hàng ngàn tấm gương phản ảnh, chúng ta chỉ thấy được phản chiếu, không thấy thực tại, và phản chiếu trở thành

sự thật Do đó, từ postmodernism không cần phải viết hoa "P" Cũng giống như "Romanticism" Chủ nghĩa Lãng Mạn là một phong trào văn học nghệ thuật cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 Trong khi

Trang 16

"romanticism" là một khuynh hướng lãng mạn có thể xuất hiện trong bất kỳ thời đại nào, bất kỳ tác phẩm nào "postmodernism" trong tinh thần này là khuynh hướng Hậu Hiện Đại Một khuynh hướng

sẽ luôn luôn tồn tại trong văn học thế giới

Lý thuyết HHĐ dẫn về kết luận một cách phức tạp,

dễ lầm lẫn Mặc dù như vậy, nó vẫn đưa ra mục đích và ý nghĩa Chris Snip-Walmsley viết, Hậu Hiện Đại cung ứng một giá trị xứng đáng, một nền tảng mang tính bấp bênh mà chúng ta sở hữu để nhìn thấy mọi thứ một cách khác biệt

Từ căn bản này, sáng tác HHĐ tạo ra những nét đặc thù mà trước đây chưa từng sử dụng Ví dụ, Toni Morrison đã dùng cấu trúc của nhạc Jazz để sáng tác tiểu thuyết Dẫn đến quan điểm: cấu trúc

là ý nghĩa Câu truyện "trôi nổi" theo hơi nhạc ngẫu hứng hơn là đi theo cốt truyện Snip-Walmsey tóm lược, chức năng hay nhất của HHĐ không nằm ở triết học hoặc thẩm mỹ, mà nằm ở sự cảnh giác về phương cách mở rộng các mâu thuẫn và các hoài nghi bao hàm từ triết học đến ngôn ngữ trong văn bản

Hai khái niệm đi ngược với nhận xét chung, nhưng được ghi nhận như một tranh cãi có cơ sở, trước tiên là khái niệm của Amy Hungerford, trong On the

Period Formerly Known as Contemporary, lập luận rằng, phê bình văn học trong thập niên 1950 trên những tác phẩm hậu chiến, không phải là sự thay thế chủ nghĩa Hiện Đại, nhưng là một thắng lợi của

Mỹ Học Hiện Đại (mordernism's aesthetics.)

Trong tác phẩm, The Shape of the Signifier của

Walter Benn Michael và The Program Era của Mark

Trang 17

McGurl, đều cho rằng, giai đoạn sau 1945 chỉ là sự

mở rộng, nối dài của chủ nghĩa Hiện Đại

Mặc dù gặp trở ngại không được công nhận, văn chương HHĐ vẫn thành hình Theo Wendy Steiner, thời vàng son của văn chương HHĐ kéo dài 20 năm bắt đầu từ thập niên 70 (Tác phẩm

Postmodern Fictions 1970-1990.)

Fredric Jamerson trong tác phẩm A Singular

Modernity: Essay On the Ontology of the Present,

2013, nhận định, thập niên 1990 là cao trào của văn chương HHĐ cho đến khi đụng độ với sự trở lại của chủ nghĩa Hiện Đại vào đều thế kỷ 21

Tình trạng phức tạp

Tính phức tạp, complexity, không dễ hiểu một cách đơn giản, vì nó bao hàm khái niệm phức tạp (complicate) và khái niệm phức hệ (complex) Tính phức tạp mô tả thái độ của một hệ thống hoặc một mẫu hình được cấu tạo bởi những thành phần sinh hoạt theo quy luật và phụ thuộc vào nhau Trong nghĩa này, tính phức tạp dùng để chỉ một điều gì

mà các thành phần bên trong sinh hoạt hỗ tương

để đưa ra kết quả cao hơn Tính phức tạp chưa có một định nghĩa chính xác

Hậu Hiện Đại là một "mô tạp hình" (multi-module) bao gồm phức tạp (complicate) lẫn phức hệ (complex), khiến cho việc tiếp cận tính phức tạp (complexity) là việc nan giải

Phức tạp (complicvate) xảy ra khi một mẫu hình có nhiều thành phần bên trong Mẫu hình này trở nên phức tạp khi phải liệt kê hoặc giải thích về sinh hoạt của các thành phần Tuy vậy, là việc có thể thực hiện, dù hao tốn công phu Ví dụ như máy bay

Trang 18

phản lực là mẫu hình phức tạp Thuế là hệ thống phức tạp

Phức hệ (complex) xảy ra khi các thành phần bên trong tương tác với nhau và tương tác với bên ngoài, chỉ có thể hiểu toàn thể một cách tổng quát, không thể phân tích các thành phần cấu tạo để hiểu Ví dụ như computer Chúng ta có thể biết về

bộ máy nhưng không thể phân tích từng sợi dây, từng con chip để hiểu toàn bộ, vì máy computer còn liên kết và phản ứng với các thành phần bên ngoài bộ máy Sự phức tạp trong não bộ con người

là sự phức hệ

Hậu Hiện Đại bao gồm cả hai: phức tạp và phức

hệ Có nghĩa, chúng ta có thể tìm hiểu một số điều qua việc phân tích một số thành phần bên trong Nhưng có một số điều chúng ta phải chấp nhận để

sử dụng chức năng và tìm đến hiệu quả Cũng như chúng ta dùng computer, dù không hiểu rõ hệ thống chi li, cấu kết, tương tác ra sao, nhưng vẫn

có thể đưa ra kết quả

Vì có cả hai nội dung phức tạp và phức hệ, HHĐ có lúc như một lý thuyết nghiêm ngặt, có lúc như một thuật ngữ mơ hồ trong văn hóa văn chương Nói một cách khác, tùy lãnh vực mà HHĐ thể hiện rõ ràng hay không

Ngoài ra, không thể không đồng ý, ngôn ngữ là một

hệ thống phức tạp và phức hệ Không thể biết HHĐ

là gì nếu không thông qua hệ thống truyền đạt HHĐ cũng như mọi lý thuyết, hoặc mọi ý nghĩa, đều phải được mã hóa qua ngôn ngữ, một hệ thống có những điều không thể giải thích, đương nhiên, mọi nghĩa lý sẽ không tường tận Tất cả chỉ tương đối

Trang 19

Khái niệm tách rời thực tế

Kinh nghiệm bị tách rời ra khỏi thực tế thật và sống với thế giới mô phỏng hoặc giả mạo, ngấm ngầm

và tự động tạo ra những hậu quả trong cách sống

Sự thất lạc thực tế, mất sự thật, gây ra hội chứng hỗn loạn tâm lý: nhẹ thì bất an, nhàm chán, nặng thì trầm cảm hoặc trở nên bệnh tâm thần Đây cũng là một ám ảnh lớn của thời đại, nhiều nhân vật trong truyện HHĐ mang tâm bệnh hoặc có bệnh tâm thần Những loại truyện hoang tưởng, hóa ảo, siêu hư cấu, ngay cả truyện khoa học viễn tưởng, đều cưu mang sự hỗn loạn tâm lý Ngay cả những luận văn cũng đề cập nhiều lần về hậu quả của tính HHĐ Như "schizophrenic" của Jameson 1991,

"multiphrenic" của Gergen 1992, "telephrenic" của Gottschalk 2000, "depressivew and nihilistic" của Levin 1987, "paranoid" của Burgin 1990, "panic" của Kroker và Cook 1988

J.G Ballard viết, "Cuộc hôn nhân giữa lý trí và ác

mộng đã thống trị thể kỷ 20, tạo ra một thế giới càng ngày càng mơ hồ Hai chủ đề lớn nhất trong đời sống của thế kỷ này là tình dục và hoang tưởng Thói quen xem phim khiêu dâm, tự chán ghét bản thân, những bẩm tánh trẻ con ước mơ và khát vọng, những tổn thương tâm lý giờ đây đã lên tột đỉnh là vấn nạn khủng khiếp nhất của thế kỷ: Nhiễm chết (Atrocity Exhibition.)

Con người HHĐ ngờ vực và mất lòng tin vào những nguyên lý phổ quát, những nền tảng do siêu bản dựng lên Tái lập niềm tin trên những mô vi bản, trên những sự kiện bình thường, bằng một cách nào đó, hoài nghi Hoài nghi luôn luôn là trạng thái bất ổn và âu lo Con người HHĐ như Baudrillard cho biết, không thể sống hồn nhiên, và

Trang 20

thay thế hồn nhiên bằng mỉa mai Thể hiện trong chương trình truyền hình The Simpson, được yêu chuộng và rất phổ thông Hành động, lời nói, nụ cười của cả gia đình và bằng hữu của Simpson toàn lực mỉa mai, châm biếm xã hội, chính quyền,

và đời sống

Bước vào thế kỷ 21, với ảnh hưởng của các triết gia Âu Châu như Alain Badiou, Jacques Rancière, các nhà tư tưởng như Giorgio Agamben, Zygmunt Bauman, Antonio Negri, Paolo Virno, thuyết Hậu Hiện Đại vẫn được tiếp tục nghiên cứu trong văn học đương đại Jonathan Culler trong Literary Criticism for the Twenty First Century, giả định văn chương tương lai sẽ thuộc vào "cuộc cách mạng lý thuyết," (the theory revolution.) Những tác phẩm thành hình cho tinh thần văn học trong giai đoạn

đầu thế kỷ như Looking Away, 2009, của Rei Terada, Open Secrets, 2008, của Anne Lise Francois, The Corrections, 2001, của Jonathan Franzen, The Guardian, 2005, của Nicholas Sparks, Freedom, 2011, của Jonathan Frazen

Trang 21

Hậu Hiện Đại Đạo Đức, Khoa Học

Và Tâm Lý

Lãnh vực đạo đức

Đạo đức trong tầm nhìn HHĐ không đặt trên những qui tắc phổ thông và cố định Tuy không đặt niềm tin vào Thượng Đế, HHĐ không giống như Đạo Đức Thế Tục (Secular Humanist) và đạo đức Mác HHĐ bác bỏ những giá trị tuyệt đối của thời Hiện Đại và chỉ nhắm vào thẩm quyền cho bản thân Nói một cách bình dân hơn là mỗi người chỉ có quyền đạo đức với chính mình Nhà thơ Walt Whitman đã từng viết: Và tôi kêu gọi nhân loại, đừng tìm hiểu về

Thượng Đế Còn tôi tìm hiểu mỗi con người "(And I call to mankind, Be not curious about God For I who am curious about each ) Richard Rorty dùng

thơ của whitman để kết luận rằng, sự hy vọng qua

xã hội để tìm hiểu ước muốn của con người là phương pháp tìm thấy ước muốn của Thượng Đế

Từ cơ sở này, HHĐ bác bỏ những luân lý, đạo đức phổ quát Họ lập luận, nếu sự thật về triết học, tức

là những gì chúng ta tìm thấy về thực tế, nằm trong một cộng đồng địa phương, thì sự thật về đạo đức, nghĩa là cách chúng ta đối xử, cũng nằm trong địa phương đó Nếu không chấp nhận siêu văn bản, siêu qui tắc để hướng dẫn chúng ta, đâu là sự thật

và thái độ sống, mỗi cộng đồng phải tự phát triển những vi mô bản (tiểu văn bản), vi quy tắc (tiểu qui

Trang 22

tắc) cho nhu cầu riêng Điều này thể hiện trong thuyết tương đối về văn hóa

HHĐ giải thích sự tương đối như mọi quan điểm đạo đức đều tốt đẹp Tuy nhiên, không có cơ sở khách quan để xác địch tiêu chuẩn đúng/sai, thiện/ác, những quan điểm này không có phương cách để đánh giá Họ dùng nền tảng đạo đức luân

lý của mỗi cộng đồng để áp đặt trên hành động của những ai thuộc về cộng đồng này Xã hội nào có tiêu chuẩn đạo đức và luân lý của nơi đó, người sống trong xã hội sẽ sử dụng những tiêu chuẩn do

xã hội chấp thuận

Những tiêu chuẩn cộng đồng, xã hội mang đặc tính

ép buộc và đồng thuận Văn hóa thông thường là nền tảng và động lực xây dựng những tiêu chuẩn

Nó liên tục thay đổi để thích ứng với con người trong cộng đồng cập nhật Như vậy, đạo đức không thể nào trì trệ Ví dụ chứng minh là việc phá thai, từ cộng đồng cổ điển nghiêm cấm và trừng phạt qua đến cộng đồng hôm nay đã được ủng hộ

và cho phép phá thai với giới hạn luật định

Tuy các nhà HHĐ không hoàn toàn đồng ý với nhau về quan điểm "tiểu đạo đức" hoặc "tiểu luân lý", nhưng về mặt tổng thể, nhà tâm lý học Adam Phillips đưa ra nhận xét, có thể sử dụng chung cho

quan điểm của HHĐ, "Không có người trưởng

thành nào có thể biết được điều gì tốt nhất cho người trưởng thành khác Cũng giống như vậy, không có nhóm nào, xã hội nào có thể biết được điều gì tốt nhất cho nhóm khác hoặc xã hội khác."

Điều này không cho phép bất kỳ ai đúng, kể cả đạo đức

Trang 23

Quan niệm đạo đức của HHĐ dẫn đến việc phân chia giá trị và nghĩa vụ làm người, thể hiện trong

câu nói, "theo tôi điều này đúng."

về sự hiểu biết thật sự, mà chỉ là lý thuyết hỗn độn,

vì kết quả của khoa học không thể đoán trước, không thể xác định, thay đổi theo thời gian, không chắc chắn trong tiến hóa của khoa học thực dụng Trong luận bản "Anything Goes" Feyerabend trình bày, theo lịch sử, nhiều lý thuyết nẩy sinh, được chấp nhận, được quảng bá như chân lý, rồi sau đó

bị loại bỏ

Khi nhà khoa học minh xác những dữ liệu khoa học, không có nghĩa các dữ liệu này quan trọng vì nhà khoa học còn có một chương trình thử nghiệm lâu dài tiếp theo Trong mọi môi trường khoa học, điều chắc chắn là khoa học đó sẽ được điều chỉnh

vì khoa học gia làm việc với giả định chưa cố định Cuộc nghiên cứu của Thomas Kuhn chỉ ra, khoa học không chỉ đơn thuần là kỷ luật về tiến bộ để phát triển hiểu biết, ghi chép sự kiện Thật ra, mỗi đối tượng "thực tế" đều có thể tìm hiểu và giải thích bằng nhiều cách khác nhau, tùy vào các giả định của mỗi khoa học gia

Ông khẳng định, những lý thuyết khoa học thông thường có khuynh hướng chấm dứt theo những người đề xướng Trong khi các lý thuyết mới thu hút các thế hệ khoa học gia trẻ hơn Chu kỳ sẽ tiếp diễn như vậy Nói cách khác, một lý thuyết khoa

Trang 24

học hiện nay là một lý thuyết hiện tại, sẽ được thay thế trong tương lai Khoa học không thể cho chúng

ta biết thật một điều gì lâu dài, mà chỉ phù hợp trong một thời điểm Do đó, niềm tin không thể đặt trên lý thuyết và kết quả của khoa học

Câu hỏi: Liệu một hình vuông có tính thực tế bên

ngoài hoặc chỉ là cái gì đó trong tâm trí của chúng ta? Những hoài nghi về tính khách quan của toán học đã được đưa ra trong tác phẩm đoạt giải Pulitzer của Douglas R Hofstadter, Gudel, Escher,

Bach: An Eternal Golden Braid,xuất bản 1979 Một quan điểm đa văn hóa về tư tưởng toán học được xác nhận vì phần lớn giáo dục toán học đến từ văn hóa Tây Phương

Toán học là một loại luận lý Trước đây, luận lý Tây Phương được xem là tiêu chuẩn duy nhất, nhưng khi sự kiện đa văn hóa phát triển, những phương cách luận lý khác từ các vùng Đông Phương, Trung Đông, Châu Phi đóng góp cho nền luận lý thế giới những phương cách khác biệt, làm phong phú giá trị Ví dụ, luận lý của Thiền là phi luận lý, vừa đối nghịch vừa dung hòa với luận lý Tây Phương

Sự thiếu nhất quán và khó tin mà HHĐ dùng để tấn công "siêu lý thuyết khoa học" là nhận xét chính xác nhưng không thực dụng vì lịch sử đã chứng minh hiệu quả và giá trị của khoa học Sự tiến bộ của nhân loại là do kết quả của khoa học Hơn nữa những gì mà các nhà HHĐ đang sử dụng hàng ngày là sản phẩm của khoa học được đánh giá

"thay đổi và không đáng tin cậy."

Sự không thể tin vào kết quả của khoa học chỉ mang tính siêu hình, khi tiếp cận sự thật, hoặc chỉ

Trang 25

mang tính vi mô bản trong từng trường hợp Vì có những khám phá khoa học như quả đất tròn, định luật Newton, H2O, v v không thay đổi

Lãnh vực tâm lý

Walter Truett Anderson tổng hợp tâm lý HHĐ một cách chính xác, khi nhận định: "Mọi ý tưởng về

thực tế của con người là các công trình xã hội."

Đối với HHĐ, khái niệm linh hồn đã lỗi thời Thay vì phải đối phó với một linh hồn, con người phải đối diện với vô số bản thân Tâm lý học bao gồm tìm hiểu tâm linh, tâm trí, tình cảm, vô thức đã có nhiều lý thuyết và kết quả trong thời Hiện Đại, nếu

là siêu văn bản, siêu lý thuyết, tức là mục tiêu bài bác của HHĐ

Giáo sư tâm lý ở đại học Michigan, bà Hazel Rose Markus cho rằng, có một sự kiện thích thú và phấn khởi trong tâm lý học đang xảy ra vì người ta biết rằng không chỉ có một câu trả lời duy nhất về "Tôi

là ai?" Mitchell Stephens, giáo sư đại học New York, giải thích, sự thay đổi cách sinh hoạt trong đời sống, sự mở rộng đào sâu của dòng trí tuệ, đã đưa ra một nhóm tâm lý gia HHĐ, càng ngày càng

có ảnh hưởng, chủ trương, "Một cái Tôi chứa đựng

nhiều cái tôi khác." Phản ứng thích hợp là "hãy liên

hệ với mình, hãy là chính mình, nhưng là cái tôi nào?" Ví dụ một nhà văn nổi tiếng, cùng một lúc là người cha thiếu trách nhiệm, là người con bất hiếu,

là người chồng yêu vợ Cái tôi nào thật sự là tôi Như vậy, từ quan điểm tốt vì chung thủy với vợ, có thể nào phê phán người cha này xấu vì không yêu con cái? Có thể nào đánh giá người con này tồi tệ

vì không tôn trọng cha mẹ? Thậm chí, có thể nào

tự hào về sự nghiệp văn chương? Vì tôi là tất cả

Trang 26

cái tôi, và mỗi cái tôi có giá trị riêng Nên kết luận trên cái tôi riêng hoặc cái tôi chung?

Bản ngã là mô hình thay thế cho linh hồn Và bản ngã do xã hội xây dựng Quan điểm này được Allan Bloom mở rộng, đề nghị, những xã hội truyền thống bận tâm với linh hồn, đưa đến thái độ sống

bỏ bê cuộc đời này, để ủng hộ trông mong cuộc đời khác Thậm chí xây dựng quyền lực cho giới tăng lữ, đã có một thời cai quản thế giới thế tục Sự chăm sóc linh hồn quá độ làm con người hàng ngày bị tê liệt

Động cơ thay đổi quan niệm này đến từ Machiavelli (1460) Thomas Hobbes (1651) đề nghị, thay thế linh hồn bằng cảm nhận tự giác, cảm nhận bản thân

Đến nhà văn Jean-Jacques Rousseau vào khoảng đầu 1700, bản ngã biến thành sự quan tâm cá nhân Ông cho rằng, lợi ích của cá nhân không phải là cơ sở đầy đủ để thiết lập "sản phẩm chung"

Vào cuối thế kỷ 20, tâm lý HHĐ đã tiến đến đỉnh cực đoan, khi cho rằng xã hội tạo ra bản ngã Những thay đổi, những bất thường, những va chạm, những tranh đấu trong xã hội, sẽ cho một người thấy được mình là ai

Tâm lý HHĐ phủ nhận sự tự nhiên Để giải thích về tình trạng tâm lý HHĐ, Bloom nói rằng, "Con người

là một văn hóa sống, không phải là sinh vật tự nhiên Những gì con người có được từ thiên nhiên, không đáng gì so với những thứ họ nhận lãnh từ văn hóa Một nền văn hóa như ngôn ngữ, đính kèm

và truyền đạt, là một dãy thuần túy [xảy ra] tình cờ

Trang 27

làm gia tăng việc tạo thành ý nghĩa mạch lạc cho nhân loại."

Theo Foucault, tâm lý bản thân bị ràng buộc và không thể tách rời những hoạt động trong cấu trúc

xã hội và thể chế mà cá nhân đang sống Không có khác biệt lớn giữa bản chất công chúng và tư nhân Mỗi bản thân là một luồng ham muốn và cố ý đuổi bắt những ham muốn trên một diễn trình thay đổi liên tục

Có thể nói tâm lý phát sinh nhiều hậu quả vì vô số cái tôi có trong một người Và chính xã hội cùng thể chế đã tạo ra cái tôi HHĐ tập trung vào cái tôi, nhưng không phải cái tôi như cái rún của vũ trụ, mà

là cái tôi biết giới hạn bởi xã hội bên ngoài và vô tận bên trong nội tâm

Trang 28

Hậu Hiện Đại

Xã Hội, Luật Pháp,

Và Chính Trị

Lãnh vực xã hội

Về điều kiện và trật tự xã hội, bao gồm kinh tế, luật

lệ, chính phủ Foucault cho rằng, sống theo trật

tự là bản chất của cuộc đời vì nền văn hóa quyết định cho chúng ta là ai Cuộc sống đơn thuần là một bản tóm tắt các khía cạnh văn hóa của cộng đồng, xã hội Không có cái tôi hoàn toàn nguyên bản

HHĐ công nhận và ủng hộ sự bình đẳng tình dục Một số người theo phong trào này, xem hôn nhân

là việc nguy hiểm Một số khác xem thường khái niệm tính yêu, tình dục theo tinh thần tôn giáo và đạo đức truyền thống Họ thích tự do luyến ái mà không bị ràng buộc Nhà tâm lý HHĐ Adams Phillips cho rằng, bất kỳ một liên hệ tình cảm nào cũng là thử nghiệm Đã là thử nghiệm, không thể nào minh bạch và chắc chắn cho người tham gia Những liên hệ này lành mạnh và không cần hợp đồng (Nghĩa là chống đối lại pháp lý của hôn thú.) HHĐ khuyến khích sự cởi mở và kinh qua những mối quan hệ tình dục Những uẩn ức sinh lý, những tác động sinh bệnh lý được xem là bình thường, cần phải giải tỏa Những nguyên nhân giáo dục xã hội, học đường và luân lý gia đình tạo

ra sự rối loạn sinh lý, cần được xét lại và thay đổi

Trang 29

Tình dục là một thế giới đầy bí ẩn về sở thích, sự hài lòng, phương thức thực hành, những ước muốn kỳ lạ, tạo ra một cõi ám ảnh cần được khám phá, luận giải và bình thường hóa HHĐ cho rằng những lầm lẫn khiến cho bản thân tự trừng phạt mình vì có tội, cần được sửa chữa

Tiến xa hơn nữa, một nhóm người theo HHĐ cho rằng những hành vi tình dục bị gọi là lệch lạc, chỉ là

sở thích cá nhân của thiểu số, không liên quan đạo đức Ranh giới giữa tình dục khác phái và tình dục đồng tính hầu như mờ nhạt Ranh giới giữa bình thường và khác thường dường như bị xóa bỏ Những ranh giới này bị hoài nghi giống như mọi định nghĩa khác trong xã hội

Cụm từ "Chủ nghĩa bình đẳng tình dục" dùng mô tả quan điểm xã hội HHĐ, cho phép mỗi người xác định giới tính của mình và đề nghị tất cả sở thích tình dục đều có giá trị như nhau

Anderson giải thích các mục tiêu và phương pháp

mà các nhà HHĐ áp dụng trong lãnh vực giáo dục:

"[HHĐ ] bác bỏ khái niệm về mục đích giáo dục chủ yếu là huấn luyện khả năng lý trí nhận thức của đứa trẻ để đào tạo một người lớn có khả năng sinh hoạt độc lập trong thế giới Quan điểm này được thay thế bằng giáo dục là lấy đi những bản chất mập mờ của con người và cho nó một bản sắc xã hội Phương pháp đúc khuôn giáo dục là ngôn ngữ,

do đó ngôn ngữ dùng đào tạo con người nhạy cảm với sắc giống chủng tộc, tình dục và bản sắc."

Giáo dục theo HHĐ nên quan tâm đến những công trình không phải trong giáo án Nên tập trung vào những tành tựu không phân biệt màu da, không phân biệt giới tính, không phân biệt giai cấp Trẻ

Trang 30

em phải nhận thức rằng những phương pháp khoa học không mang lại sự thật nhiều hơn những phương pháp khác Mọi học sinh đều được tiếp nhận như nhau trên con đường đi đến hiểu biết Giáo dục HHĐ nhấn mạnh tất cả sự thật chỉ mang tính tương đối Mọi văn hóa được tôn trọng như nhau Mọi giá trị đều chủ quan Đưa đến việc giảng dạy trong trường cao đẳng, trong đại học, không theo truyền thống, mà nhắm đến các chủ đề như chủng tộc, giới tính, nữ quyền

Lãnh vực luật pháp

Luật pháp Tây Phương dựa trên niềm tin về tính chính trực trong nền tảng cơ sở xây dựng luật, nguồn gốc từ Thiên Chúa giáo và lịch sử của pháp

lý Gần đây, Harold J Berman, cựu giáo sư luật khoa ở đại học Harvard, nhận định, những niềm tin nền tảng đã nhanh chóng biến mất, không chỉ trong trí tưởng của triết gia, mà còn trong tư duy của luật

sư, thẩm phán, giáo sư luật, những nhà lập pháp

và sự hiểu biết của số đông quần chúng Luật pháp trở thành những mảnh nhỏ, mang tính chủ quan, hướng về tiện lợi thay vì đạo đức Quan tâm đến hậu quả trực tiếp và bớt tính nhất quán, liên tục Truyền thống của luật đang bị đe dọa bởi sự sụp

đổ trong thế kỷ 20 Sự nhận định có phần nào cực đoan, tuy vậy, khá đúng đắn khi đối diện với luật pháp địa phương trong liên hệ toàn cầu trong đầu thế kỷ 21

Sau hai trận thế chiến, các thế lực Tây Phương mất đi niềm tin vào những đường lối khả thi Sự nổi dậy của các thuộc địa là những chứng minh hùng hồn cho sự thất bại trong cấu trúc của luật pháp cai trị Những khủng hoảng hiện nay trong nền văn

Trang 31

minh Tây Phương mở đường cho những lý thuyết pháp lý mới Và HHĐ đã tìm ra chỗ chen chân vào cuộc tranh luận về bản chất và thực hành của luật Khái niệm khách quan về công lý là cứ điểm phản đối của HHĐ Họ lập luận, nguồn tri thức và công lý

lệ

Một phong trào nghiên cứu tầm quan trọng của pháp lý xuất hiện, tấn công tinh thần luật truyền thống Những phê bình tập trung vào sự tiến bộ và kết quả phát triển của con người trong xã hội hôm nay Sư quy định khách quan của luật đối đầu với phê bình chủ quan của HHĐ, theo khẩu hiệu "phê phán là tất cả" của Derrida Phê phán là khám phá

ý nghĩa chủ quan Theo Farber và Sherry, HHĐ nghiêng về cánh tả, đặt trọng tâm vào chủng tộc và giới tính trên lề lối tạo dựng luật pháp, tuy nhiên họ

đã đóng góp lớn về sự bất bình đẳng trong hệ thống pháp lý Tây Phương

Luận văn HHĐ chỉ trích, xã hội được xây dựng bởi những người có quyền lực để duy trì tính bá chủ trong môi trường cai trị Ví dụ như nữ quyền trong quân đội Họ cho rằng luật pháp phải thỏa mãn cho cộng đồng và xã hội Những tuyên bố mang tính luật phổ quát đều có khả năng áp đảo kẻ yếu Marx, Nietzsche, Foucault, nhìn luật như những bước chân quyền lực chính trị Sử dụng quyền lực

để đạt được điều họ muốn Luật truyền thống là

Trang 32

phương tiện để quyền lực đánh bại đối thủ Những luật lệ khách quan là mấu chốt duy trì trật tự chung cho bất kỳ xã hội nào HHĐ xác định, luật pháp không thuộc về Thương Đế, mà thuộc về xã hội và người trong xã hội đó

Sự nghi ngờ chân lý phổ quát là căn bản đưa đến nghi ngờ giá trị chung của pháp lý Tức là "siêu luật pháp" Pháp lý HHĐ có thể tiến về quá độ nhưng chính xác vì luật phổ quát, khách quan không thể giải quyết vấn đề công lý cho từng xã hội và sắc tộc khác nhau từ văn hóa và lịch sử riêng của họ

Lãnh vực chính trị

Phải nói, đây là lãnh vực HHĐ quan tâm hàng đầu

và hậu quả chính trị ảnh hưởng trực tiếp đến sáng tác văn chương trong thế kỷ 20

Những nhà HHĐ không sử dụng cụm từ "chính trị HHĐ", họ cho rằng đây là tiến trình tự nhiên của quyền lực, phải thay đổi để cập nhật sự tiến hoá nhân sinh và văn minh xã hội HHĐ có nhiều khuynh hướng khác nhau, ví như tư tưởng của Baudrillard thuộc về "phản chính trị" Một sự tuyệt vọng về niềm tin chính trị có thể thay đổi được tệ đoan xã hội Trong khi Foucault, Lyotard, Rorty cho rằng, cần tăng cường sự tự do cá nhân và mang tiến bộ tập trung vào cấp bậc địa phương, sẽ giải tỏa được khó khăn của mỗi xã hội

Mặc dù không thống nhất về chính trị, chủ trương của HHĐ thiên về chính trị cánh tả Những chủ trương có tính cực tả là hậu quả thất bại của chủ nghĩa Phát Xít và chủ nghĩa Mác Sự tìm đến tư tưởng của Nietzsche và Heidegger như một thẩm

mỹ hóa và tâm lý bênh vực cho chủ nghĩa chống lại quyền lực tư bản

Trang 33

Đối với HHĐ, chính trị không phải là trung tâm bao bọc bởi đảng phái, đưa ra những hứa hẹn không tưởng, thuyết phục những giải quyết cuối cùng Thay vào đó, bộ máy chính trị là công cụ thử nghiệm bao gồm sự phê bình cấp tiến và các hệ thống quyền lực trong một xã hội Sự áp bức của đoàn nhóm, sắc tộc, phái yếu, phải được xác định trên ý thức công bằng Theo Foucault, chính trị tiến

bộ sẽ vạch ra khả năng chuyển đổi thực tế thay vì chính trị bảo thủ dựa trên những suy diễn trừu tượng và sự xuất hiện của thiên tài Nghĩa là, thay

vì phải trông cậy vào khả năng lãnh đạo siêu việt của chính trị gia, HHĐ quan tâm đến mô hình chính trị có khả năng thích ứng, thay đổi theo sự biến chuyển trong xã hội và thời thế

HHĐ nhấn mạnh đến mỗi cá nhân có quyền tự đại diện cho mình trong quyền lực cai trị vì mỗi cá nhân có nghĩa vụ, có nhân quyền trong xã hội đó Cùng một lúc, cá nhân có quyền bác bỏ người đại diện cho mình Quan điểm này hỗ trợ khái niệm dân chủ HHĐ hướng về tính dân chủ thuở xưa, không phải dân chủ kiểu tập đoàn dân biểu, hoặc dân chủ theo đa số

Đời sống là diễn tiến, không có mục đích cuối cùng Chính trị không có mục đích cuối cùng HHĐ cho rằng không có từ ngữ, cách nói nào có khả năng tiếp cận chính trị vì không có chuyện gì đúng với cuộc sống và chính trị Luotard giải thích, "Với

sự hủy diệt của các siêu bản, sẽ không còn sự đồng nhất về chủ đề và xã hội Thay vào đó, cá nhân là phạm vi chứa đựng mâu thuẫn đạo đức, luật lệ chính trị tròng tréo, và sự liên kết xã hội phân tán."

Trang 34

Những cuộc cách mạng về tính dục, giới tính và nữ quyền bắt đầu từ thập niên 1960 với mục tiêu cải thiện những sai lầm cố định đã tồn tại trong nền văn hóa Tây Phương Theo nhận định của Barbara Epstein, về những diện kể trên, HHĐ được phổ biến rộng rãi, không phải vì tư tưởng tích cực mà

do tính rộng rãi dễ chấp nhận

Định danh chính trị HHĐ dựa trên những quyền lợi của các nhóm cụ thể trong xã hội, được xem là nạn nhân bị áp bức bởi quyền lực chính trị truyền thống Như phụ nữ là nạn nhân bị đàn áp bởi nam giới Phá thai được tuyên bố là quyền của phái nữ

để bình đẳng với phái nam, vì nam giới giao hợp

mà không có hậu quả mang thai Nữ quyền chủ yếu đòi hỏi quyền tự do và quyền chính trị cho phụ

nữ

Sự đòi hỏi bình đẳng được nêu ra trong giáo dục, khi học sinh, sinh viên da đen và người sắc tộc thiểu số không được đối xử như người da trắng trong các trường và các đạị học Sự đòi hỏi bình đẳng cho những người đồng tính cũng được cổ võ HHĐ cho rằng họ phải được nhìn nhận về thái độ, phong cách sống và nhu cầu sinh lý như mọi người khác

Nói chung, những nỗ lực chính trị về sự bất bình đẳng của HHĐ được xem là thành công Từ cuối thế kỷ 20, những phong trào này lớn mạnh và được các thế hệ trẻ đương thời hoặc chấp nhận, hoặc ủng hộ, hoặc trở thành quen thuộc Những phong trào này sẽ còn tiếp tục phát triển trong thế

kỷ 21?

Trang 35

Hậu Hiện Đại Kinh Tế Và Lịch Sử

Lãnh vực kinh tế

Không chỉ về diện chính trị, các nhà HHĐ cũng không thống nhất trong vấn đề kinh tế, giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, vẫn còn nhiều lựa chọn Bên cạnh, là trở ngại về ngôn ngữ chuyên môn, họ không sử dụng ngôn ngữ truyền thống trong chủ đề kinh tế, như: lương bổng, trợ cấp, lãi suất, lạm phát, an ninh xã hội, hưu trí .v v Thay vào đó, họ dùng những cụm từ khác, không quen thuộc, như: phân tán, phân biệt, niên đại, chủ nghĩa chống chủ nghĩa, đa nguyên v v Một số thuật ngữ khác không dễ hiểu như: Ý nghĩa không xác định, tính văn bản không mạch lạc của tri thức, tính không thể hiểu của sự hiện diện thuần túy, Sự không thích hợp của mục đích, sự không thể trình bày, v v

Kinh tế gia HHĐ Ruccio và Amariglo, tác giả của

Postmodern Moments in Modern Economics, viết:

"Điều kiện HHĐ đã mở ra một chương trình nghiên cứu khác cho các nhà khoa học về kinh tế, nếu họ chọn loại bỏ cái tôi hợp nhất và chuyển động, thay vào đó là một hư cấu được cho là phù hợp hơn với thực tế đương đại, một bản thân giải thể." Họ giải

thích sự tự tách mình và ý nghĩa tại sao được xem

là hư cấu

Kinh tế xuất hiện theo tri thức trong đời sống của con người HHĐ xem con người là một sinh vật hư

Trang 36

cấu, nghĩa là không đồng nhất, không hợp lý, không có hiểu biết vĩnh viễn, và sinh vật này là công trình tạo nên bởi xã hội

Ruccio và Amarglio xác nhận, không có cái tôi duy

nhất, nghĩa là không có sự tự nhận diện, không có

linh hồn và không có tri thức vĩnh cửu Đối với HHĐ, con người là chủ thể, là thân xác, là một đơn

vị Đây là sinh vật luôn luôn phát triển, có dục tính,

xã hội tính và nhiều sở thích Luôn luôn kêu gào để được chú ý và được công nhận

Sinh ra phái nữ hoặc phái nam, không phải lập tức chúng ta đã là nam hoặc nữ, mà do xã hội định như thế này là nam, như thế kia là nữ Lập luận này, giải thích rõ về đồng tính nam hoặc đồng tính

nữ hoặc đa dạng giới tính Và mọi giới tính đều được hưởng dụng công bằng về xã hội và kinh tế Một trong những mục tiêu chính trong nền kinh tế HHĐ là loại bỏ sự phân biệt tình trạng kinh tế và tài chánh giữa nam nữ Tạo ra môi trường làm việc công bằng và thích hợp với khả năng, là điều căn bản để phát triển kinh tế

Kinh tế HHĐ xây dựng trên ba khái niệm liên kết: 1- Nhận thức của mỗi chủ thể về bản thân xác định bởi văn hóa chung quanh 2- Nhận thức này thuộc

về hư cấu trong ý nghĩa là những câu truyện do xã hội kể lại 3- Những truyện này không tương ứng với bất kỳ thứ gì khách quan hoặc vĩnh cửu Những truyện này luôn luôn khác nhau từ nền văn hóa này sang nền văn hóa kia và qua những thời đại Kinh tế truyền thống nằm trong quyền lực nam giới

và tư bản HHĐ đương đầu với hai chủ quyền lớn mạnh và vững vàng qua nhiều thế kỷ Cho đến nay, HHĐ chỉ thực hiện được một số quan điểm

Trang 37

công bình cho giới tính Tình trạng tài chánh khả quan hơn cho phái nữ và sắc dân thiểu số Những môi trường quyền lực kinh tế, kinh doanh, tài chánh khác, phải chờ xem trong thế kỷ 21 và thời đại tiếp theo

Lãnh vực lịch sử

Michel Foucault nhận định về lịch sử HHĐ, ông cho biết, ông chưa bao giờ viết điều gì ngoài hư cấu Tuy nhiên, không phải vì vậy mà sự thật vắng mặt Đối với ông, đó là khả năng tồn tại để hư cấu hoạt động trong sự thật Một lịch sử 'hư cấu' trên căn bản của thực tế chính trị sẽ trở thành sự thật hoặc một chính trị 'hư cấu' sẽ không tồn tại trên nền tảng

sự thật trong lịch sử

Đối với các nhà HHĐ, lịch sử đơn thuần là những

gì do con người tạo ra Không có mục đích chứng minh quan điểm như bên Thiên Chúa giáo Vì con người sẽ không bao giờ có thể tiếp cận sự kiện lịch

sử, nên chỉ có thể nhìn thấy qua khả năng tưởng tượng của các nhà sử học, uốn cong ý nghĩ, hình ảnh, những gì đã xảy ra trong quá khứ

Các nhà sử HHĐ dùng thuật ngữ "lịch sử" với ý nghĩa lả mô tả những quan điểm, những câu hỏi, phải được giải quyết trong bối cảnh văn hóa xã hội, nơi vấn đề được đặt ra Cả Lacan và Foucault đều lập luận rằng, mỗi giai đoạn lịch sử tự có hệ thống kiến thức riêng mà cá nhân không thể vướng vào trong hệ thống Trả lời những câu hỏi về lịch sử không thể sử dụng những kiến thức, bằng chứng bên ngoài, mà phải sử dụng những định mức, dữ liệu trong hệ thống đặt ra câu hỏi

Khác với lịch sử HHĐ, lịch sử truyền thống tiếp giáp quá khứ bằng cách truy tầm những bằng

Trang 38

chứng qua các khoa khảo cổ, khoa quan tuyến niên đại, qua các sách vở tồn lưu và qua những phương pháp giải mã văn bản Và kết quả dù cao

kỳ cách mấy cũng có thể hiểu sẽ có thiếu sót hoặc sai lầm Những mô tả và giải thích những sự kiện,

sự việc, không phải lúc nào cũng mang giá trị ngang nhau Khi có những thông tin hoặc bằng chứng mới, thuyết phục hơn, lịch sử sẽ được viết lại

Nhà sử học HHĐ nghi ngờ tất cả sự giải thích và cách sắp xếp quá khứ vì bản chất thực tế được hư cấu một cách tự nhiên khi sắp đặt dữ kiện trong tưởng tượng Và lịch sử mang nhiều tưởng tượng hơn thực tế Trong tinh thần này, những sử gia theo Foucault là những người "phản lịch sử" Họ cho rằng những sử ký là kết quả của quyền lực Như sử nhà Nguyễn kết tội Tây Sơn, sử Tây Sơn phê phán nhà Lê

Đối với Foucault, sự thật và hiểu biết không nhất thiết phải tương ứng với thực tế vì chính thực tế đó

đã được xây dựng theo một quyền lực nào trước đây

Có thể lịch sử nhân loại diễn ra không có mục đích, nhưng sử gia khi viết sử, tất có mục đích Đối nghịch với chủ trương của Foucault, viết lịch sử là

nỗ lực đề xướng một hệ thống tư tưởng

Theo những điều kiện của HHĐ, bộ môn lịch sử không còn khuyến khích những nghiên cứu về cá nhân quan trọng hoặc những tranh đấu giữa các quốc gia, mà tập trung vào các nhóm xã hội và thể chế Tom Dixson đưa ra nhận xét, Các sử gia xã hội thường bị thúc đẩy bởi các mục tiêu của các nhà hoạt động Nghiên cứu lịch sử không chỉ là nỗ

Ngày đăng: 09/02/2022, 14:49

w