1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Forum ueh edu vn HC THUYT GIA TR THN

39 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Học Thuyết Giá Trị Thặng Dư
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Nguyên Lý Cơ Bản Của CNMLN
Thể loại bài giảng
Năm xuất bản 2009
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 259 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Khái niệm sức lao động: “Sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực ở trong thân thể một con người, trong nhân cách sinh động của con người, thể lực và trí lực mà con người phải làm c

Trang 1

CHƯƠNG V HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ I- SỰ CHUYỂN HOÁ CỦA TIỀN THÀNH TƯ BẢN

1 Công thức chung của tư bản

Mọi tư bản lúc đầu đều biểu hiện dưới hình thái một số tiền nhất định, nhưng bản thântiền không phải là tư bản Tiền chỉ trở thành tư bản trong những điều kiện nhất định: đó là nókhi nó được dùng để bóc lột sức lao động của người khác

Tiền với tư cách là tiền và tiền với tư cách là tư bản khác nhau trước hết ở hình thái lưuthông của nó Để thấy được sự khác nhau đó, ta so sánh hai công thức: công thức lưu thônghàng hóa giản đơn ( H-T-H) và công thức lưu thông của tư bản (T-H-T)

* Giống nhau:

- Cả hai công thức đều do hai giai đoạn đối lập nhau là “mua” và “bán” hợp thành

- Trong mỗi giai đoạn đều có 2 nhân tố vật chất đối diện nhau là “hàng” và “tiền”,

- Trong mỗi giai đoạn đều có 2 người đối diện nhau là “người mua” và “người bán”

 Nhưng đó chỉ là sự giống nhau về hình thức

* Khác nhau:

+ Trình tự thực hiện hành vi khác nhau:

Công thức H-T-H: bắt đầu bằng hành vi bán (H-T); kết thúc bằng hành vi mua (T- H)Công thức T-H-T: bắt đầu bằng hành vi mua (T - H); kết thúc bằng hành vi bán (H - T)

+ Điểm xuất phát và điểm kết thúc:

Ở công thức H-T-H: Điểm xuất phát và điểm kết thúc đều là H, T chỉ đóng vai trò trunggian

Ở công thức T-H-T: Điểm xuất phát và điểm kết thúc đều là T, H chỉ đóng vai trò trunggian

+ Mục đích của quá trình trao đổi:

Ở công thức H-T-H, mục đích của trao đổi là H – là giá trị sử dụng  cho nên công thứcnày bây giờ phải viết là H – T – H’ mới đúng

Ở Công thức T-H-T, mục đích của trao đổi là T- là giá trị và hơn, thế phải là giá trị lớnhơn, tức là T’ (trong đó T’=T + ∆t) có như vậy sự vận động này mới có ý nghĩa Vì vậy côngthức này bây giờ phải viết là T-H-T’ mới đúng

+ Giới hạn của sự vận động:

Trang 2

Sự vận động của công thức H-T-H’ có giới hạn: vì do mục đích của sự vận động là giátrị sử dụng nên khi đã đạt được giá trị sử dụng thì sự vận động kết thúc

Sự vận động của công thức T-H-T’không có giới hạn: do mục đích của sự vận động làgiá trị lớn hơn

Từ sự phân tích trên, Mác gọi:

Công thức T-H-T’ là công thức chung của tư bản, bởi vì mọi tư bản đều vận động theo công thức này.

Số tiền trội hơn so với số tiền ứng ra (∆t) được gọi là giá trị thặng dư, ký hiệu là m.

Số tiền ứng ra ban đầu được gọi là tư bản Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư

2 Mâu thuẫn của công thức chung của tư bản

Giá trị thặng dư (m) được sinh ra từ đâu?

Thoạt nhìn công thức T-H-T’, hình như m do lưu thông (qua quá trình mua – bán) sinhra

Điều này mâu thuẫn với lý luận giá trị của Mác bởi vì theo lý luận giá trị: giá trị hàng hoá

do lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa tạo ra, như vậy là giá trị hàng hóa được tạo ratrong sản xuất

Vậy thực sự lưu thông có tạo ra giá trị, giá trị thặng dư hay không?

* Để trả lời câu hỏi này, ta xét các trường hợp trong lưu thông sau:

- Nếu mua bán ngang giá: thì không làm tăng thêm m vì giá trị chỉ thay đổi hình thái từtiền sang hàng hoá và ngược lại, còn tổng giá trị trong tay mỗi người tham gia trước và sau traođổi không thay đổi

- Nếu mua - bán không ngang giá (hàng hoá có thể bán cao hơn hoặc thấp hơn giá trị).+ Trường hợp bán với giá cả cao hơn giá trị: người bán được lợi, người mua bị thiệt.+ Trường hợp bán với giá cả thấp hơn giá trị: người bán bị thiệt, người mua được lợi.Tuy nhiên trong sản xuất hàng hoá, mỗi người sản xuất vừa là người mua, vừa là ngườibán Do đó, cái lợi mà họ có được khi bán sẽ bù lại cái thiệt khi mua hoặc ngược lại

+ Giả định có những kẻ bịp bợm, luôn mua được rẻ, bán được đắt, thực tế số tiền màhắn thu được là số tiền mà người khác đã bị mất đi Xét trên phạm vi toàn bộ xã hội tổng số giátrị không thay đổi, không thể có giá trị thặng dư

Vậy lưu thông và bản thân tiền tệ trong lưu thông không tạo ra giá trị, giá trị thặng

Trang 3

Nếu lưu thông không tạo ra giá trị, giá trị thặng dư Vậy phải chăng giá trị thặng dư đượcsinh ra ngoài lưu thông?

* Xét ngoài lưu thông:

Ở ngoài lưu thông, nếu để tiền và hàng đứng yên, không tiếp xúc với lưu thông thì giá trịcủa tiền và hàng không thể tăng lên được, tức là không thể có giá trị thặng dư (m)

Từ những phân tích trên, có thể nhận thấy: “Vậy là tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thể xuất hiện bên ngoài lưu thông Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời không phải trong lưu thông”

Đó chính là “Mâu thuẫn của công thức chung của tư bản”

3 Hàng hoá sức lao động.

Sự chuyển hóa của tiền thành tư bản không thể phát sinh từ bản thân số tiền đó, vì trongviệc mua – bán, tiền chỉ là phương tiện lưu thông để thực hiện giá trị hàng hóa nên trước saugiá trị của nó vẫn không thay đổi

Như vậy, sự chuyển hóa đó phải xảy ra ở hàng hóa trong quá trình vận động của tư bản

Do đó, hàng hóa đó phải là một thứ hàng hóa hóa đặc biệt, giá trị sử dụng của nó có đặc tính lànguồn gốc sinh ra giá trị, hơn thế nữa là sinh ra giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó Thứ hànghóa đó là sức lao động mà nhà tư bản đã tìm thấy trên thị trường

Sức lao động trở thành hàng hóa là điều kiện quyết định để tiền biến thành tư bản

a/ Sức lao động và điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa.

- Khái niệm sức lao động:

“Sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực ở trong thân thể một con người, trong nhân cách sinh động của con người, thể lực và trí lực mà con người phải làm cho hoạt động để sản xuất ra của cải vật chất”

- Điều kiện để cho sức lao động trở thành hàng hoá

Sức lao động chỉ trở thành hàng hoá khi có hai điều kiện:

Thứ nhất, người có sức lao động phải được tự do thân thể tức là họ phải làm chủ được sức

lao động của mình và có quyền đem bán sức lao động của mình như một hàng hóa trên thịtrường

Thứ hai, người lao động không có tư liệu sản xuất cần thiết để tự mình đứng ra tổ chức

sản xuất nên họ buộc phải bán sức lao động của mình cho người khác sử dụng để kiếm sống.Sức lao động trở thành hàng hoá đánh dấu bước ngoặt cách mạng trong phương thức kếthợp người lao động với tư liệu sản xuất, là một bước tiến lịch sử so với chế độ nô lệ và phong

Trang 4

kiến Sự bình đẳng về hình thức giữa người sở hữu sức lao động với người sở hữu tư bản đãche đậy bản chất của CNTB - chế độ được xây dựng dựa trên sự đối kháng về lợi ích kinh tếgiữa tư bản và lao động làm thuê.

b/ Hai thuộc tính của hàng hoá sức lao động:

Cũng như các hàng hóa khác, hàng hóa – sức lao động cũng có hai thuộc tính là Giá trị

và Giá trị sử dụng

* Giá trị của hàng hoá sức lao động : do số lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất

và tái sản xuất ra hàng hoá sức lao động quyết định Nhưng sức lao động là năng lực tồn tạitrong con người sống, trong thân thể công nhân Muốn sản xuất ra được năng lực đó, côngnhân phải tiêu dùng một số tư liệu sinh hoạt nhất định như thức ăn, quần áo, nhà ở, phương tiện

đi lại…Nói cách khác, sản xuất và tái sản xuất sức lao động được thực hiện thông qua tiêudùng cá nhân Do đó, thời gian lao động xã hội cần thiết cho việc sản xuất và tái sản xuất rahàng hoá sức lao động bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệusinh hoạt cần thiết cho công nhân và gia đình anh ta Vì vậy giá trị hàng hoá sức lao động được tính bằng giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết để duy trì đời sống của công nhân làm thuê và gia đình họ.

Lượng giá trị hàng hóa sức lao động bao gồm các yếu tố sau:

Thứ nhất, giá trị những tư liệu sinh hoạt (vật chất và tinh thần) để tái sản xuất sức lao

động, duy trì đời sống của bản thân người công nhân

Thứ hai, Những phí tổn đào tạo người công nhân.

Thứ ba, giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết cho con cái người

công nhân.

Giá trị hàng hoá sức lao động bao gồm cả yếu tố tinh thần và yếu tố lịch sử, phụ thuộcvào hoàn cảnh của từng nước, từng thời kỳ, phụ thuộc vào trình độ văn minh đã đạt được…

* Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động: được thể hiện ở quá trình tiêu dùng (sử

dụng) sức lao động, tức là quá trình lao động để sản xuất ra một hàng hoá hay một dịch vụ nào

đó Trong quá trình lao động, sức lao động tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bảnthân nó; phần giá trị dôi ra so với giá trị sức lao động chính là giá trị thặng dư

Đây chính là đặc điểm riêng có của giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động Đặcđiểm này chính là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản

II QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT RA GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TRONG XÃ HỘI TƯ BẢN

1 Sự thống nhất giữa quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá

Trang 5

Mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị, hơnnữa là giá trị thặng dư Nhưng để sản xuất ra giá trị thặng dư, trước hết, nhà tư bản phải sảnxuất ra giá trị sử dụng nào đó, vì giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi và gía trị thặng dư.

Vậy, quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất giữa quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư

Quá trình sản xuất trong xí nghiệp của nhà tư bản đồng thời là quá trình nhà tư bản tiêu

dùng sức lao động và tư liệu sản xuất mà nhà tư bản đã mua nên có hai đặc điểm:

Một là, công nhân làm việc chịu sự kiểm soát của tư bản.

Hai là, Sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản.

Ví dụ: nghiên cứu quá trình sản xuất sợi của 1 nhà tư bản

- Để sản xuất 1kg sợi nhà tư bản cần chi phí sau:

+ Chi phí nguyên vật liệu gồm 1kg bông, = 20.000$

+ Hao mòn máy móc để sản xuất 1kg sợi = 3.000$

+ Mua sức lao động của công nhân 1 ngày (10 giờ) = 5.000$

- Giá trị của 1kg bông chuyển vaò = 20.000 $

- Giá trị máy móc chuyển vào = 3.000$

- Giá trị mới do công nhân tạo ra trong 5 giờ LĐ = 5.000$

Tổng cộng = 28.000$

Nếu quá trình sản xuất dừng lại ở đây thì nhà tư bản không thu được giá trị thặng dư vàcông nhân cũng không bị bóc lột

Nhưng nhà tư bản mua SLĐ của công nhân để sử dụng trong 1 ngày là 10 giờ nên, nhà

tư bản bắt công nhân phải lao động thêm 5 giờ nữa

Trong 5 giờ tiếp theo, nhà tư bản chi thêm để

Trang 6

- Giá trị của 1kg bông chuyển vaò = 20.000 $

- Giá trị máy móc chuyển vào = 3.000$

- Giá trị mới do công nhân tạo ra trong 5 giờ LĐ = 5.000$

Tổng cộng = 28.000$

Vậy, sau 10 giờ lao động, công nhân sản xuất được 2 kg sợi

Tổng số tiền nhà tư bản chi phí để sản xuất 2kg sợi là 51.000$

Tổng giá trị 2kg sợi là 56.000$

Vậy lượng giá trị thặng dư thu được là 56.000$-51.000$ = 5.000$.

* Từ ví dụ trên rút ra kết luận:

Một là, Trong giá trị của sản phẩm sản xuất ra gồm có 2 phần: Giá trị cũ - Giá trị

những tư liệu sản xuất đã hao phí như nguyên nhiên vật liệu, hao mòn máy móc, thiết bị (trong

ví dụ là 46.000$ ) và bộ phận giá trị mới do lao động của công nhân sáng tạo ra (trong ví dụ là

10.000$) Phần giá trị mới này lớn hơn giá trị sức lao động, nó bằng giá trị sức lao động cộngvới giá trị thặng dư

Vậy, Giá trị thặng dư là bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công

nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không Quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư chỉ

là quá trình tạo ra giá trị kéo dài quá cái điểm mà ở đó giá trị sức lao động do nhà tư bản trảđược hoàn lại bằng một vật ngang giá mới

Hai là, Ngày lao động của công nhân chia thành hai phần: thời gian lao động tất yếu ( là

thời gian tạo ra giá trị ngang với giá trị sức lao động; lao động trong khoảng thời gian ấy gọi làlao động tất yếu) và thời gian lao động thặng dư (là thời gian tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tưbản; lao động trong thời gian ấy gọi là lao động thặng dư)

Ba là, việc nghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng dư giúp ta giải thích rõ hơn mâu

thuẫn của công thức chung của tư bản Sự chuyển hóa của tiền thành tư bản diễn ra trong lưuthông, đồng thời không diễn ra trong lưu thông, đó là:

- Chỉ có trong lưu thông (mua-bán) nhà tư bản mới mua được hàng hóa sức lao động.

Trang 7

- Nhà tư bản đã sử dụng hàng hóa đó trong quá trình sản xuất (ngoài lưu thông) để tạo

ra giá trị thặng dư Từ đó, tiền của nhà tư bản đã chuyển thành tư bản.

Sơ đồ biểu hiện ngày lao động của công nhân

Thời gian lao động tất yếu Thời gian lao động thặng dư

tạo ra giá trị mới ngang bằng GT SLĐ tạo ra m

2 Bản chất của tư bản Sự phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến

a) Bản chất của tư bản.

- Khái niệm tư bản:

Ở phần trên, khi nghiên cứu công thức chung của tư bản, ta đã rút ra một định nghĩa về

tư bản “Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư” Tuy nhiên sau khi nghiên cứu quá trình sảnxuất giá trị thặng dư, ta có thể đưa ra định nghĩa đầy đủ hơn về tư bản “Tư bản là giá trị manglại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động không công của công nhân làm thuê”

- Bản chất của tư bản:

Tư bản là thể hiện quan hệ sản xuất xã hội, phản ánh mối quan hệ giữa nhà tư bản vàcông nhân làm thuê Trong mối quan hệ đó, giai cấp tư sản chiếm đoạt giá trị thặng dư do giaicấp công nhân tạo ra

b) Tư bản bất biến và tư bản khả biến

Muốn tiến hành sản xuất, nhà tư bản phải ứng trước tư bản ra để mua tư liệu sản xuất vàsức lao động, tức là biến tư bản tiền tệ thành các yếu tố của quá trình sản xuất Các bộ phậnkhác nhau đó của tư bản có vai trò như thế nào trong quá trình sản xuất giá trị thặng dư ?

- Trước hết xét bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất Trong quá

trình sản xuất, giá trị của tư liệu sản xuất được lao động cụ thể của người công nhân chuyểnvào sản phẩm mới và lượng gía trị của chúng không đổi so với trước khi đưa vào sản xuất Bộphận tư bản này được gọi là tư bản bất biến (ký hiệu là c)

Vậy, Tư bản bất biến là bộ phận tư bản dùng để mua tư liệu sản xuất mà giá trị của nó

được bảo toàn và chuyển vào sản phẩm, tức là không thay đổi về lượng giá trị của nó (ký

hiệu là c)

Trang 8

- Xét bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động:

Một mặt, giá trị của nó biến thành tư liệu sinh hoạt của người công nhân và mất đi

trong tiêu dùng của công nhân

Mặt khác, trong quá trình lao động, bằng lao động trừu tượng, công nhân tạo ra giá trị

mới lớn hơn giá trị sức lao động, nó bằng giá trị sức lao động cộng với giá trị thặng dư Nhưvậy, bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động đã có sự biến đổi về lượng trong quá trình sản

xuất Bộ phận tư bản này được gọi là Tư bản khả biến (ký hiệu là v)

Vậy, Tư bản khả biến là bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động, không tái hiện ra,

nhưng thông qua lao động trừu tượng của công nhân làm thuê mà tăng lên (ký hiệu là v.)

- Căn cứ phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến.

Căn cứ vào vai trò khác nhau của các bộ phận tư bản trong quá trình sản xuất gía trị

thặng dư: Trong quá trình đó, tư bản bất biến là điều kiện cần thiết không thể thiếu để sản xuất giá trị thặng dư, còn tư bản khả biến có vai trò quyết định trong quá trình đó Sự phân chia tư

bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến vạch rõ nguồn gốc của giá trị thặng dư, vạch rõbản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản, chỉ có lao động làm thuê mới tạo ra giá trị thặng dư chonhà tư bản

Vậy: giá trị của hàng hoá = c + v + m

3 Tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư.

a Tỷ suất giá trị thặng dư (ký hiệu là m’)

- Khái niệm: Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ số tính theo phần trăm giữa số lượng giá trị

thặng dư với tư bản khả biến cần thiết để sản xuất ra giá trị thặng dư đó.

- Công thức tính:

Trong đó: m là giá trị thặng dư; v là tư bản khả biến,

Hoặc có thể tính theo công thức:

Trong đó:

t: thời gian lao động tất yếu

t’ là thời gian lao động thặng dư

- Ý nghĩa: m’ phản ánh trình độ bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân làm thuê.

b Khối lượng giá trị thặng dư (ký hiệu M)

mm’ = X 100%

v

t’

m’ = - X 100%

t

Trang 9

- Khái niệm: là tích số giữa tỷ suất giá trị thặng dư và tổng tư bản khả biến đã được sử

- Ý nghĩa: M phản ánh qui mô bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân làm thuê.

4 Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư và giá trị thặng dư siêu ngạch

a Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối

* Khái niệm: giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài thời gian

lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi

* Ví dụ: Ngày lao động là 8 giờ, trong đó 4 giờ là thời gian lao động tất yếu và 4 giờ là

thời gian lao động thặng dư, mỗi giờ người công nhân tạo ra lượng giá trị mới là 10 đơn vị, thìgiá trị thặng dư tuyệt đối là 40 và tỷ suất giá trị thặng dư là 100%

* Hạn chế của phương pháp này: Việc kéo dài ngày lao động có những giới hạn nhất

định Giới hạn đó của ngày lao động là do thể chất và tinh thần của người lao động quyết định

vì họ còn phải có thời gian để bù đắp lại SLĐ đã hao phí, ngoài ra, việc kéo dài ngày lao độngcòn gặp phải sự phản kháng gay gắt của công nhân

* Ngoài ra, nhà tư bản còn sử dụng biện pháp tăng cường độ lao động của công nhân đểthoả mãn khát vọng tăng giá trị thặng dư của nhà tư bản trong điều kiện ngày lao động khôngthể kéo dài thêm, Tăng cường độ lao động về thực chất cũng tương tự như kéo dài ngày laođộng

M = m’ x V

Trang 10

b Sản xuất giá trị thặng dư tương đối:

* Khái niệm: giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời

gian lao động tất yếu bằng cách nâng cao năng suất lao động trong các ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt để hạ thấp giá trị sức lao động, nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao động và cường độ lao động không đổi.

* Ví dụ: Ngày lao động là 8 giờ, thời gian lao động tất yếu là 4 giờ và thời gian lao động

thăng dư là 4 giờ, m’ = 100% Khi tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất tư liệusinh hoạt lên 2 lần thì giá cả của những hàng hoá này sẽ rẻ hơn trước 2 lần nên giá trị của hànghoá sức lao động giảm xuống 2 lần và thời gian lao động tất yếu chỉ còn 2 giờ Trong điều kiệnngày lao động không đổi thì thời gian lao động thặng dư là 6 giờ và m’ tăng từ 100% lên300%

Biện pháp: Muốn rút ngắn thời gian lao động tất yếu phải giảm giá trị sức lao động.

Muốn hạ thấp giá trị sức lao động phải giảm giá trị những tư liệu sinh hoạt thuộc phạm vi tiêudùng của công nhân Điều này chỉ có thể làm được bằng cách tăng năng suất lao động trongcác ngành sản xuất tư liệu sinh hoạt hay tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất tưliệu sản xuất để sản xuất tư liệu sinh hoạt đó

Nếu trong giai đoạn đầu của CNTB, sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là phương phápchủ yếu thì đến giai đoạn sau, khi kỹ thuật đã phát triển, sản xuất giá trị thặng dư tương đối lại

là phương pháp chủ yếu Lịch sử phát triển của CNTB qua ba giai đoạn cũng là quá trình nângcao trình độ bóc lột giá trị thặng dư tương đối

c Giá trị thặng dư siêu ngạch:

* Khái niệm: Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng dư thu được do áp dụng

công nghệ mới sớm hơn các xí nghiệp khác, làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội (giá trị thị trường) của nó

* Trong từng xí nghiệp, giá trị thặng dư siêu ngạch là một hiện tượng tồn tại tạm thời;nhưng trong phạm vi xã hội thì nó lại là hiện tượng tồn tại thường xuyên Giá trị thặng dư siêungạch là động lực mạnh nhất để thúc đẩy các nhà tư bản đổi mới công nghệ, tăng năng suất laođộng, làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên

Giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối vì cả

m tương đối và m siêu ngạch đều dựa trên cơ sở tăng NSLĐ Tuy nhiên, m tương đối và msiêu ngạch có sự khác nhau:

+ m tương đối dựa vào việc tăng NSLĐXH, còn m siêu ngạch dựa vào việc tăng NSLĐ

cá biệt

Trang 11

+ m tương đối do toàn bộ giai cấp tư sản thu được, nó thể hiện quan hệ bóc lột của toàn

bộ giai cấp tư sản đối với toàn bộ giai cấp công nhân

+ m siêu ngạch chỉ do một số nhà tư bản thu được Nó không chỉ biểu hiện mối quan hệgiữa tư bản và lao dộng làm thuê mà còn biểu hiện quan hệ cạnh tranh giữa các nhà tư bản vớinhau

5 Sản xuất ra giá trị thặng dư – qui luật kinh tế tuyệt đối của CNTB.

Mỗi phương thức sản xuất có một quy luật kinh tế tuyệt đối – quy luật phản ánh mối quan

hệ kinh tế bản chất nhất của phương thức sản xuất đó

Theo Mác, sản xuất ra giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của phương thức sảnxuất tư bản chủ nghĩa Bởi vì, quy luật này phản ánh mối quan hệ kinh tế bản chất nhất củaphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đó là quan hệ tư bản bóc lột công nhân làm thuê để thuđược giá trị thặng dư Không có giá trị thặng dư thì không có CNTB

Nội dung của quy luật: Quy luật này nêu rõ mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa là

sản xuất nhiều và ngày càng nhiều hơn giá trị thặng dư cho nhà tư bản Đồng thời, quy luật nàycũng chỉ rõ phương tiện để đạt được mục đích: đó là tăng cường bóc lột công nhân làm thuêbằng cách tăng cường độ lao động, kéo dài ngày lao động, tăng NSLĐ

Sản xuất nhiều và ngày càng nhiều giá trị thặng dư là mục đích, là động lực thường xuyênthúc đẩy nền sản xuất tư bản chủ nghĩa vận động, phát triển; đồng thời nó làm cho mọi mâuthuẫn của CNTB ngày càng sâu sắc, đưa đến sự thay thế tất yếu CNTB bằng 1 xã hội cao hơn.Một trong những đặc điểm nổi bật của kinh tế thế giới hiện nay là sự phát triển như vũbão của cách mạng khoa học công nghệ, điều này làm cho việc sản xuất giá trị thặng dư hiệnnay có đặc điểm mới:

Một là, kỹ thuật công nghệ hiện đại được áp dụng rộng rãi, làm cho NSLĐ tăng lên, vì

vậy, m thu được chủ yếu nhờ tăng NSLĐ, nhờ đó chi phí lao động sống trong một đơn vị sảnphẩm giảm nhanh, vì máy móc mới thay thế được nhiều lao động sống hơn

Hai là, cơ cấu lao động ở các nước tư bản có sự thay đổi: lao động phức tạp, lao động trí

tuệ tăng lên thay thế lao động giản đơn, lao động cơ bắp; lao động trí tuệ, có trình độ cao ngàycàng có vai trò quyết định trong quá trình sản xuất m

Ba là, Sự bóc lột của các nước tư bản trên phạm vi quốc tế được mở rộng dưới nhiều hình

thức: xuất khẩu hàng hóa, xuất khẩu tư bản, trao đổi không ngang gía … làm cho lợi nhuậnsiêu ngạch các nước tư bản thu được tăng nhanh Khoảng cách chênh lệch giàu – nghèo giữacác nước ngày càng tăng…

III TIỀN CÔNG TRONG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN.

Trang 12

1 Bản chất kinh tế của tiền công

Sau một thời gian lao động cho nhà tư bản, công nhân sản xuất ra một số hàng hóa, hay

làm được một số công việc nào đó thì được lĩnh một số tiền nhất định gọi là tiền công Căn cứ

vào hiện tượng bên ngoài ấy, các học giả tư sản giải thích tiền công là giá cả của lao động

Song thực chất, tiền công không phải và không thể là giá cả của lao động Lao động

không phải là hàng hóa, không phải là đối tượng mua bán vì:

Thứ nhất, nếu lao động là hàng hóa, thì lao động phải được vật hoá trong một hình thức

tồn tại cụ thể nào đó Tiền đề để lao động có thể vật hóa được là phải có tư liệu sản xuất.Nhưng nếu người lao động đã có tư liệu sản xuất thì anh ta sẽ là người sản xuất nhỏ, anh ta sẽ

tự mình sử dụng TLSX để sản xuất ra sản phẩm và bán sản phẩm do mình sản xuất ra chứkhông bán lao động

Thứ hai, Việc thừa nhận lao động là hàng hóa sẽ dẫn đến một trong hai trường hợp bế tắc

về lý luận sau:

- Nếu lao động là hàng hóa và nó được trao đổi ngang giá thì nhà tư bản sẽ không thuđược giá trị thặng dư Điều này sẽ phủ nhận quy luật giá trị thặng dư và phương thức sản xuất

tư bản chủ nghĩa cũng không có cơ sở tồn tại

- Nếu lao động là hàng hóa và nó được trao đổi không ngang gía để nhà tư bản có thể thuđược giá trị thặng dư thì sẽ phủ nhận quy luật giá trị

Thứ ba, Nếu lao động là hàng hóa thì hàng hóa lao động phải có giá trị Nhưng thước đo

giá trị lại là lao động Như vậy là giá trị của lao động sẽ được đo lường bằng lao động Điềunày là vô lý, luẩn quẩn Vì thế, lao động không thể là hàng hóa Cái mà người công nhân báncho nhà tư bản chính là sức lao động Do đó, tiền công mà nhà tư bản trả cho công nhân chính

là giá cả của sức lao động

Vậy, bản chất của tiền công trong chủ nghĩa tư bản là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá sức lao động, là giá cả của hàng hoá sức lao động, nhưng lại biểu hiện ra bên ngoài thành giá cả của lao động.

Hình thức biểu hiện đó gây ra sự nhầm lẫn cho cả người bán và người mua sức lao

Trang 13

- Đối với công nhân, toàn bộ lao động trong cả ngày là phương tiện để có tiền sinh sống, do đó bản thân công nhân cũng lầm tưởng rằng cái mà mình bán chính là lao động, còn nhà tư bản cĩng tưởng rằng mình bỏ tiền ra để mua lao động.

- Lượng của tiền công phụ thuộc vào thời gian lao động hoặc số lượng sản phẩm sản xuất ra, điều đó làm cho người ta lầm tưởng rằng tiền công là giá cả của lao động.

Hình thức bên ngoài của tiền công đã che đậy bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản.

Nó biểu hiện quan hệ bóc lột thành quan hệ “bình đẳng”, “thuận mua vừa bán” giữa công nhân

và nhà tư bản Nó xoá mờ mọi dấu vết của sự phân chia ngày lao động thành thời gian laođộng tất yếu và thời gian lao động thặng dư; thành lao động được trả công và lao động khôngđược trả công

Ý nghĩa quan trọng của lý luận tiền lương của Mác chính là ở chỗ nó phân biệt được

hiện tượng với bản chất của mối quan hệ giữa tư bản và lao động

2 Hai hình thức cơ bản của tiền công trong CNTB

Tiền công có hai hình thức cơ bản: Tiền công tính theo thời gian và Tiền công tính theo

sản phẩm

- Tiền công tính theo thời gian: là hình thức tiền công mà số lượng của nó ít hay nhiều tuỳ

theo thời gian lao động của công nhân dài hay ngắn (giờ, ngày, tuần, tháng)

- Tiền công tính theo sản phẩm: là hình thức tiền công mà số lượng của nó phụ thuộc vào

số lượng sản phẩm đã làm ra, hoặc số lượng công việc đã hoàn thành

Mỗi sản phẩm được trả công theo 1 đơn giá nhất định gọi là đơn giá tiền công

Thực chất, đơn giá tiền công là tiền công trả cho thời gian cần thiết để sản xuất ra một sảnphẩm Vì thế tiền công tính theo sản phẩm là hình thức chuyển hóa của tiền công tính theo thờigian

Thực hiện tiền công tính theo sản phẩm, một mặt giúp cho nhà tư bản trong việc quản lý,giám sát quá trình lao động của công nhân dễ dàng hơn; mặt khác, kích thích công nhân lao độngtích cực, khẩn trương tạo ra nhiều sản phẩm hơn

3 Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế

tiền công trung bình của 1 ngày của 1 công nhân

Đ.giá tiền công =

s.lượng sản phẩm trung bình mà 1 công nhân sản xuất ra trong ngày

Tiền công = Số sản phẩm X đơn giá tiền công

Trang 14

- Tiền công danh nghĩa: là số tiền mà người công nhân nhận được do bán sức lao động

của mình cho nhà tư bản Tiền công được sử dụng để tái sản xuất sức lao động, do đó nó phảichuyển hóa thành tiền công thực tế

Tiền công danh nghĩa là giá cả hàng hoá SLĐ, nó có thể tăng lên hay giảm xuống tuỳthuộc vào quan hệ cung – cầu về hàng hoá SLĐ trên thị trường

- Tiền công thực tế: là tiền công được biểu hiện bằng số lượng hàng hoá tiêu dùng và

dịch vụ mà người công nhân mua được bằng tiền công danh nghĩa của mình

Trong điều kiện tiền công danh nghĩa không đổi thì tiền công thực tế tăng hay giảm phụthuộc vào giá cả của tư liệu tiêu dùng và dịch vụ

*Xu hướng vận động của tiền lương thực tế.

Tiền công là giá cả của sức lao động nên sự vận động của nó gắn liền với sự biến đổicủa giá trị sức lao động Lượng giá trị của hàng hóa sức lao động lại chịu ảnh hưởng của nhiềunhân tố có tác động ngược chiều nhau

- Các nhân tố tác động làm tăng giá trị sức lao động:

+ sự nâng cao trình độ chuyên môn của người lao động,

+ sự tăng cường độ lao động,

+ sự tăng lên của nhu cầu cùng với sự phát triển của xã hội…

- Nhân tố tác động làm giảm giá trị sức lao động: Sự tăng năng suất lao động làm cho

giá cả tư liệu tiêu dùng rẻ đi

Sự tác động qua lại của các nhân tố này dẫn đến sự biến đổi của giá trị sức lao động vàdẫn đến sự biến đổi của tiền lương thực tế

Mác chỉ ra rằng, trong CNTB, tiền công thực tế có xu hướng giảm xuống do các

nguyên nhân: đó là, mặc dù tiền công danh nghĩa có xu hướng tăng, nhưng mức tăng của nónhiều khi không tăng kịp mức tăng của giá cả hàng hóa tư liệu tiêu dùng và dịch vụ; đồng thờithất nghiệp là hiện tượng thường xuyên khiến cho cung về lao động vượt quá cầu về lao động,điều đó cho phép nhà tư bản mua sức lao động dưới giá trị của nó

Nhưng sự giảm xuống của tiền công thực tế chỉ là xu hướng vì có những nhân tố chống lại sự

hạ thấp của tiền công: đó là cuộc đấu tranh của công nhân đòi tăng lương; trong điều kiện cáchmạng KH-KT, nhu cầu về sức lao động có chất lượng cao ngày càng tăng do đó giá trị sức laođộng cũng tăng lên

IV SỰ CHUYỂN HÓA CỦA GIÁ TRỊ THẶNG DƯ THÀNH TƯ BẢN - TÍCH LUỸ

TƯ BẢN.

Trang 15

1 Thực chất và động cơ của tích luỹ tư bản.

Tái sản xuất là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại thường xuyên và phục hồi khôngngừng Căn cứ vào quy mô sản xuất, tái sản xuất được chia thành tái sản xuất giản đơn và táisản xuất mở rộng

Tái sản xuất giản đơn là quá trình sản xuất được lặp lại với quy mô như cũ

Tái sản xuất mở rộng là quá trình sản xuất được lặp lại với quy mô lớn hơn trước.

Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, muốn tái sản xuất mở rộng, phải biến một bộ phậngiá trị thặng sư thành tư bản phụ thêm.Việc sử dụng giá trị thặng dư làm tư bản hay sự chuyển

hoá giá trị thặng dư trở lại thành tư bản gọi là tích luỹ tư bản

+ Thực chất của tích luỹ tư bản: là tư bản hoá giá trị thặng dư Như vậy tích luỹ tư bản

gắn liền với tái sản xuất mở rộng Nguồn gốc của tư bản tích luỹ là giá trị thặng dư

+ Ý nghĩa của việc nghiên cứu tích luỹ tư bản và tái sản xuất mở rộng TBCN:

Việc nghiên cứu cho phép rút ra những kết luận vạch rõ hơn bản chất bóc lột của quan

hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa:

Thứ nhất, nguồn gốc duy nhất của tư bản tích luỹ là giá trị thặng dư và tư bản tích luỹ

chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong toàn bộ tư bản

Thứ hai, quá trình tích luỹ đã làm cho quyền sở hữu trong nền kinh tế hàng hóa biến

thành quyền chiếm đoạt TBCN Động cơ thúc đẩy quá trình tích luỹ tư bản và tái sản xuất mởrộng chính là quy luật giá trị thặng dư

+ Các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích luỹ:

Một là, với khối lượng giá trị thặng dư không đổi, quy mô tích luỹ phụ thuộc vào tỷ lệ

phân chia giá trị thặng dư thành hai quỹ: quỹ tích luỹ (m1) và quỹ tiêu dùng (m2) của nhà tưbản

Hai là, nếu tỷ lệ phân chia đó đã được xác định, quy mô tích luỹ phụ thuộc vào khối

lượng giá trị thặng dư Khối lượng giá trị thặng dư phụ thuộc vào:

- Trình độ bóc lột giá trị thặng dư m’: nếu m’ càng lớn thì khối lượng giá trị thặng dưcàng nhiều

- NSLĐ Năng suất lao động càng cao thì khối lượng giá trị thặng dư càng lớn và quy

mô tích luỹ tăng

- Sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng

Tư bản sử dụng là khối lượng giá trị những tư liệu lao động mà toàn bộ qui mô hiện vật

của chúng đều hoạt động trong quá trình sản xuất sản phẩm

Trang 16

Tư bản tiêu dùng là phần giá trị những tư liệu lao động ấy được chuyển vào sản phẩm

theo từng chu kỳ sản xuất dưới dạng khấu hao

Do đó, có sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng Mặc dù đã mất dầngiá trị như vậy nhưng trong suốt quá trình hoạt động máy móc vẫn có tác dụng như khi còn đủgiá trị Sự chênh lệch này là thước đo sự tiến bộ của LLSX Kỹ thuật càng hiện đại, sự chênhlệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng càng lớn thì sự phục vụ không công càng lớn

- Qui mô đại lượng tư bản ứng trước: Trong công thức M= m’ x V, nếu m’ không đổi thì

khối lượng giá trị thặng dư chỉ có thể tăng khi tổng tư bản khả biến tăng, tất nhiên khi đó tư bảnbất biến cũng phải tăng lên theo quan hệ tỷ lệ nhất định Do đó, nếu qui mô tư bản ứng trướccàng lớn, quy mô sản xuất càng lớn thì khối lượng giá trị thặng dư thu được càng nhiều

2 Tích tụ và tập trung tư bản.

Tích tụ tư bản là việc tăng quy mô tư bản cá biệt bằng tích luỹ của từng nhà tư bản riêng

rẽ Tích tụ tư bản, một mặt, là yêu cầu của việc mở rộng sản xuất, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật;mặt khác, sự tăng lên của khối lượng giá trị thặng dư trong quá trình phát triển của sản xuất tưbản chủ nghĩa lại tạo khả năng cho tích tụ tư bản

Tập trung tư bản là sự hợp nhất một số tư bản nhỏ thành một tư bản cá biệt lớn hơn.

Đây là sự tích tụ những tư bản đã hình thành, là sự thủ tiêu tính độc lập riêng biệt của chúng.Cạnh tranh và tín dụng là hai đòn bẩy quan trong của tập trung tư bản

Sự giống nhau và khác nhau giữa tích tự tư bản và tập trung tư bản:

- Giống nhau: Tích tụ tư bản và tập trung tư bản đều làm cho qui mô tư bản cá biệt tăng

lên.

- Khác nhau:

+ Nguồn gốc của tích tụ tư bản là giá trị thặng dư, còn nguồn gốc của tập trung tư bản

là tư bản có sẵn trong xã hội.

+ Tích tụ tư bản làm quy mô tư bản xã hội tăng, còn tập trung tư bản không làm cho quy

mô tư bản xã hội tăng;

+ Tích tự tư bản phản ánh trực tiếp quan hệ giữa tư bản và lao động; còn tập trung tư bản phản ánh trực tiếp quan hệ giữa các nhà tư bản.

Mối quan hệ giữa tích tụ tư bản và tập trung tư bản: tích tụ tư bản và tập trung tư

bản có quan hệ mật thiết với nhau:

+ Tích tụ tư bản làm tăng quy mô và sức mạnh của tư bản cá biệt, do đó cạnh tranh sẽ gay gắt hơn, điều này thúc đẩy quá trình tập trung tư bản.

Trang 17

+ Ngược lại, tập trung tư bản tạo điều kiện thuận lợi để tăng cường bóc lột giá trị thặng

dư, nên đẩy nhanh tích tụ tư bản

Vai trò của tập trung tư bản: Tập trung tư bản có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của

sản xuất tư bản chủ nghĩa:

+ Nhờ tập trung tư bản mà có thể tổ chức rộng lớn lao động hợp tác, biến quá trình sản xuất rời rạc thành quá trình sản xuất phối hợp, quy mô lớn, xây dựng được những công trình công nghiệp quy mô lớn, kỹ thuật hiện đại

+ Tập trung tư bản không những dẫn đến sự thay đổi về lượng mà còn dẫn đến sự thay đổi về chất của tư bản, nó làm cho cấu tạo hữu cơ cuả tư bản tăng, năng suất lao động tăng Chính vì vậy, tập trung tư bản trở thành đòn bẩy mạnh mẽ của tích luỹ tư bản.

3 Cấu tạo hữu cơ của tư bản

Tư bản tồn tại dưới dạng vật chất và giá trị Cấu tạo của tư bản gồm có cấu tạo kỹ thuật

và cấu tạo giá trị

+ Cấu tạo kỹ thuật của tư bản: là tỷ lệ giữa khối lượng tư liệu sản xuất với số lượng

lao động cần thiết để sử dụng các tư liệu sản xuất đó Cấu tạo kỹ thuật phản ánh trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất xã hội

+ Cấu tạo giá trị của tư bản: là tỷ lệ theo đó tư bản phân thành tư bản bất biến (hay giá

trị của TLSX) và tư bản khả biến (hay giá trị của SLĐ) cần thiết để tiến hành sản xuất

Cấu tạo kỹ thuật và cấu tạo giá trị có quan hệ chặt chẽ với nhau: Cấu tạo kỹ thuật thayđổi sẽ làm cho cấu tạo giá trị thay đổi C.Mác đã dùng phạm trù cấu tạo hữu cơ của tư bản để

chỉ mối quan hệ đó Cấu tạo hữu cơ của tư bản (ký hiệu là c/v): là cấu tạo giá trị của tư bản,

do cấu tạo kỹ thuật của tư bản quyết định và phản ánh sự thay đổi của cấu tạo kỹ thuật của tư bản.

Do tiến bộ khoa học công nghệ và lực lượng sản xuất, cấu tạo hữu cơ của tư bản thườngxuyên biến động theo chiều hướng ngày càng tăng Sự tăng lên của cấu tạo hữu cơ của tư bảnbiểu hiện ở chỗ: tư bản bất biến tăng nhanh hơn tư bản khả biến, tư bản bất biến tăng cả sốtuyệt đối lẫn tương đối, còn tư bản khả biến có thể tăng tuyệt đối nhưng lại giảm xuống tươngđối

Tác động của việc cấu tạo hữu cơ của tư bản tăng: Khi cấu tạo hữu cơ của tư bản tăng,

tư bản khả biến giảm tương đối sẽ làm cho cầu về sức lao động sẽ giảm xuống một cách tươngđối, điều này sẽ dẫn đến tình trạng thất nghiệp của công nhân

V QUÁ TRÌNH LƯU THÔNG CỦA TƯ BẢN VÀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ

1 Tuần hoàn và chu chuyển của tư bản

Trang 18

Sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất biện chứng giữa quá trình sản xuất và quátrình lưu thông Lưu thông của tư bản, theo nghĩa rộng là sự vận động của tư bản, nhờ đó mà tưbản lớn lên và thu được giá trị thặng dư, cũng tức là tuần hoàn và chu chuyển của tư bản.

Tuần hoàn của tư bản là sự vận động của tư bản cá biệt - xét về mặt chất

Chu chuyển của tư bản là sự vận động của tư bản cá biệt - xét về mặt lượng

a./ Tuần hoàn của tư bản.

Tư bản vận động theo công thức T – H – T’, trong quá trình vận động đều trải qua bagiai đoạn, tồn tại dưới ba hình thái, thực hiện ba chức năng

Giai đoạn thứ nhất: T – H (giai đoạn lưu thông – giai đoạn mua)

Nhà tư bản xuất hiện trên thị trường các yếu tố sản xuất để mua các yếu tố cần thiết choquá trình sản xuất là tư liệu sản xuất và sức lao động

Chức năng của giai đoạn này là mua các yếu tố của quá trình sản xuất

Kết thúc giai đoạn này thì tư bản tiền tệ chuyển hóa thành tư bản sản xuất

Giai đoạn hai: Giai đoạn sản xuất.

Nhà tư bản đem tiêu dùng các hàng hóa đã mua ở giai đoạn một, nhưng đây là tiêu dùngcho sản xuất, tức là đưa các yếu tố sản xuất đã mua được ở giai đoạn 1 vào quá trình sản xuất

để tạo ra sản phẩm Giai đoạn này, tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản sản xuất

Chức năng của giai đoạn hai là sản xuất ra hàng hóa (H’) mà trong giá trị của nó có giátrị thặng dư

Kết thúc giai đoạn hai, tư bản sản xuất chuyển thành tư bản hàng hóa (H’)

SLĐ

T – H TLSX

`TB tiền tệ Tư bản sản xuất

Trang 19

Nhà tư bản trở lại thị trường với tư cách là người bán hàng để bán H’ và thu T’ Giaiđoạn này, tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản hàng hóa

Chức năng của giai đoạn này là thực hiện giá trị và giá trị thặng dư

Kết thúc giai đoạn ba tư bản hàng hoá chuyển hoá thành tư bản tiền tệ Mục đích củanhà tư bản đã đạt được, tư bản quay trở lại hình thức ban đầu nhưng với số lượng lớn hơn

Số tiền bán hàng hoá (T’) nhà tư bản lại đem dùng vào việc mua tư liệu sản xuất và sứclao động cần thiết để tiếp tục một quá trình sản xuất mới và toàn bộ quá trình trên lại được lặplại

Tổng hợp toàn bộ quá trình vận động của tư bản:

Vậy:

Tuần hoàn của tư bản là sự vận động của tư bản trải qua ba giai đoạn (giai đoạn mua, giai đoạn sản xuất, giai đoạn bán); lần lượt mang ba hình thái (tư bản tiền tệ - tư bản sản xuất – tư bản hàng hóa), thực hiện ba chức năng (chức năng mua các yếu tố sản xuất, chức năng sản xuất ra giá trị và giá trị thặng dư, chức năng thực hiện giá trị và gía trị thặng dư) rồi trở

về hình thái ban đầu với giá trị lớn hơn.

Lưu ý:

- Tuần hoàn của tư bản chỉ có thể tiến hành một cách bình thường khi hai điều kiện sauđây được thoả mãn: một là, các giai đoạn của chúng diễn ra liên tục; hai là, các hình thái tư bảncùng tồn tại và được chuyển hóa một cách đều đặn (tức là tư bản phải nằm lại ở mỗi giai đoạntuần hoàn trong một thời gian nhất định) Vì vậy, sự vận động tuần hoàn của tư bản là sự vậnđộng liên tục không ngừng, đồng thời là sự vận động đứt quãng không ngừng Phù hợp với bagiai đoạn tuần hoàn của tư bản là ba hình thái của tư bản công nghiệp (TB tiền tệ; tư bản sảnxuất, tư bản hàng hóa)

- Để tái sản xuất diễn ra một cách bình thường, tư bản xã hội (cũng như tư bản cá biệt)phải đều tồn tại cùng một lúc dưới cả ba hình thái của tư bản công nghiệp Song cũng trongquá trình vận động ấy đã chứa đựng khả năng tách rời của ba hình thái tư bản Từ đó làm xuất

Ngày đăng: 25/01/2022, 14:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w