Nghiên cứu này giúp cho Chuyên đềcó được các cứ liệu lịch sử về sự hình thành và phát triển của người Hoa, cũng như tôn giáo - tín ngưỡng của họ.. Tuy nhiên, tài liệu nghiên cứu về tín
Trang 1Chuyên đề: Phát triển du lịch Cù Lao Phố
Tác giả: Nguyễn Hoàn Thành
1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
- Các nghiên cứu liên quan đến lịch sử hình thành của Cù Lao Phố, Đồng Nai
Đồng Nai là vùng đất được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nghiên cứu, bởi dấu ấn
mở cõi của người Việt đậm nét xuyên suốt quá trình Nam tiến; là thương cảng đầu tiên tại Nam bộ để từ đó phát triển ra vùng Chợ Lớn sau này (Nguyễn Thị Toàn Thắng, 2015, tr.28) Đồng Nai không phải tên gọi cổ nhất, trước đó Đồng Nai đã có tên Phước Long Giang (Lương Văn Lựu, 1972a), với trung tâm cư trú tập trung được nhiều người tìm đến sinh sống chính là Châu Đại Phố (Cù Lao Phố) Đây là một điểm tụ cư đa chủng tộc, không chỉ người bản địa mà còn có người Việt, người Hoa, người Khmer, tổ chức phát triển thành trung tâm thương mại quốc tế, là một đại phố sớm nhất ở Nam bộ Quá trình thay đổi bởi các yếu tố chính trị, đến năm 1806, vua Gia Long đặt tên Biên Hoà đầy đủ các chức năng chính trị và hành chính (Lương Văn Lựu, 1973b) Người Việt có mặt trên mảnh đất này khá sớm, sau khi mảnh đất này thuộc về Việt Nam sau cuộc hôn nhân của công nữ Ngọc Vạn, trước cả người Hoa đến vùng Mỗi Xuy (Đỗ Bá Nghiệp - Huỳnh Ngọc Trảng, 1998) Người dân vùng Quảng Bình (xưa) đã tiến vào khai điền vùng Mỗi Xuy, và Đồng Nai (Biên Hoà), dân số khoảng 200.000 ngàn dân (40.000 hộ gia đình) Bên cạnh đó, Cù Lao Phố là vùng đất gắn liền với lịch sử di dân của người Hoa, một trong hai tộc người cư trú chiếm
đa số Người Hoa đã vào Nông Nại (Cù Lao Phố), thành lập xã Thanh Hà (sông nước trong), sinh sống và phát triển thịnh vượng ở đây (Lương Văn Lựu, 1971a) Tổng quan lịch
sử hình thành của Đồng Nai (Biên Hoà) được Lương Văn Lựu khảo cứu khá rõ trong cuốn
Biên Hoà sử lược toàn biên dưới cách tiếp cận sử học (1971,1972), giúp cho Chuyên đềtiếp
cận được bức tranh chung về lịch sử hình thành, đời sống của người dân tại Đồng Nai (Biên Hoà)
Trang 2Trịnh Hoài Đức đã ghi nhận đời sống của người dân tại vùng đất Biên Hoà, còn được gọi là Trấn Biên Hoà vào năm 1808, đặc biệt là sự thay đổi tên gọi chức năng, xã phường (Trịnh Hoài Đức, 1972); phong tục tập quán, sinh hoạt văn hóa của người Hoa cùng với các cơ sở tín ngưỡng của họ ở Đồng Nai - Gia Định được ghi lại khá rõ nét Nghiên cứu này giúp cho Chuyên đềcó được các cứ liệu lịch sử về sự hình thành và phát triển của người Hoa, cũng như tôn giáo - tín ngưỡng của họ
Giai đoạn đầu thế kỷ XX, việc nghiên cứu Cù Lao Phố và xứ Đồng Nai bắt đầu phát triển theo hướng học thuật của Phương Tây, Cù Lao Phố đã được Trương Vĩnh Ký đề cập
đến ở mục Cù lao của tỉnh Biên Hòa trong quyển Petit cours de géographie de la Basse Cochinchine Trong công trình Tự vị tiếng Việt miền Nam được xuất bản trước năm 1975, Vương Hồng Sển cũng đã giải thích về địa danh Cù Lao Phố Tuy nhiên, tài liệu nghiên
cứu về tín ngưỡng và tôn giáo của cư dân Cù Lao Phố mà cụ thể là người Hoa ở Cù Lao Phố nói riêng và tỉnh Đồng Nai nói chung còn hạn chế, phần nhiều là tài liệu nghiên cứu
về lịch sử di dân và đời sống kinh tế xã hội của người Hoa, chỉ có một vài tài liệu đề cập
đến tín ngưỡng, tôn giáo Trước năm 1975, Lương Văn Lựu đã biên soạn bộ Biên Hòa sử lược toàn biên gồm 5 quyển (đã xuất bản 2 quyển) nội dung giới thiệu về vùng đất và con
người Biên Hòa - Đồng Nai sau ba thế kỷ hình thành, đặc biệt tài liệu đánh máy (quyển 5)
chưa xuất bản 300 năm người Việt gốc Hoa Đây là một trong những nguồn tài liệu quý
hiếm viết về quá trình nhập cư và phát triển của cộng đồng người Hoa đến Biên Hòa- Đồng Nai trước năm 1954
Với công trình Biên Hòa - Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển (1998) nhân
Lễ kỷ niệm 300 năm vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai được xuất bản dưới dạng địa chí, khái quát lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai suốt 300 năm qua Công trình tập trung vào khảo tả văn hóa - xã hội, giới thiệu về lịch sử di dân, sinh hoạt văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai từ năm 1679 (khi Trần Thượng Xuyên cùng nhóm di thần nhà Minh từ Trung Quốc sang xin thần phục Nam triều) Cụ thể việc chúa Nguyễn cho khai khẩn vùng đất Đông Phố - Biên Hòa lúc ấy còn hoang sơ cho đến một Biên Hòa - Đồng Nai hiện đại, phát triển nhanh chóng, trù phú ở miền Nam Dữ kiện của công trình chủ yếu mang tính khảo tả lịch sử, văn hoá, thiếu đi các luận cứ khoa học cần
Trang 3thiết chứng minh lịch sử hình thành, phát triển, đặc biệt là những biến đổi bởi các tác nhân gây ra Hơn nữa, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo thay đổi rất nhanh chóng nhưng chưa được
làm rõ, đấy chính là khoảng trống mà Chuyên đềsẽ chú trọng Năm 2001, bộ Địa chí Đồng Nai ra đời với 5 tập (bao gồm các lĩnh vực từ tổng quan, địa lý, lịch sử, kinh tế đến văn
hóa, xã hội), Cù Lao Phố cũng được nhắc đến trong tập địa chí này như một phố thị đầu
tiên của vùng đất Nam Bộ Bộ địa chí tập trung khảo tả các nội dung Văn hoá - Xã hội đã
đề cập về sinh hoạt văn hóa của các tộc người đang sinh sống trên địa bàn tỉnh trong đó có cộng đồng người Việt, người Hoa và các tộc người bản địa ở Đồng Nai Bộ địa chí này cung cấp nhiều dữ liệu cần thiết cho Chuyên đềnhằm bổ sung các cứ liệu lịch sử cho việc hồi cố về đời sống văn hoá vật chất và tinh thần của cư dân Cù Lao Phố
- Các nghiên cứu liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo ở Cù Lao Phố Đồng Nai
Tín ngưỡng, tôn giáo ở Cù Lao Phố có tính đa dạng, đan xen ở trong không gian cư trú hẹp của người Việt và người Hoa, nhưng không có xung đột, có tính tương thích và tiếp biến lẫn nhau Với nguồn gốc và đặc điểm của các loại hình tín ngưỡng dân gian người Việt ở Đồng Nai vì vậy cũng có được sự đa dạng, dung hợp với các tôn giáo – tín ngưỡng bản địa của cư dân tại chỗ định cư trước đó Khảo cứu của Lương Văn Lựu (1971, 1972) trình bày khá rõ Hệ thống đền miếu, đình, chùa, cổ mộ, phong tục tập quán, đặc biệt là tôn
giáo - tín ngưỡng được miêu tả khái quát trong cuốn Biên Hoà sử lược toàn biên Năm
1998, Bảo tàng Đồng Nai cho xuất bản cuốn Cù Lao Phố: lịch sử và văn hoá đề cập đến
vấn đề tín ngưỡng (gồm cả tôn giáo) như: thờ cúng tổ tiên, tôn thờ các gia thần, thực hiện các nghi lễ vòng đời, thờ thành hoàng, tiền hiền-hậu hiền, các bậc tiền bối hữu công, thờ Bạch Mã thái giám, Thổ thần, Thần hổ; với tôn giáo tập trung vào đạo Phật Đặc biệt, người Việt trên tinh thần “nhập gia tuỳ tục” đã tiếp biến, dung hợp các tín ngưỡng bản địa vào trong đời sống tôn giáo - tín ngưỡng của mình Đây là kết quả khảo sát tư liệu thực địa, mang lại nhiều cứ liệu cho Chuyên đềxác định được đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của người dân ở đây Với việc khảo tả khá chi tiết tín ngưỡng người dân Cù Lao Phố, mang đến bức tranh khá toàn diện về đời sống tôn giáo - tín ngưỡng của người dân, nhưng khoảng trống nhằm lý giải một số vấn đề thay đổi lối sinh hoạt tôn giáo - tín ngưỡng chưa được
Trang 4giải thích rõ, chưa kể các tôn giáo khác chưa được quan tâm khảo cứu Chuyên đềcó nhiệm
vụ làm rõ hơn sự thay đổi này trong quá trình khảo sát thực địa tại Cù Lao Phố (Biên Hoà)
Không chỉ người Việt, người Hoa cũng thể hiện tính dung hợp tín ngưỡng, tôn giáo rất nhanh với người Việt và cư dân tại chỗ, chưa kể họ đã tạo được ảnh hưởng nhất định bởi sức mạnh thương mại vốn có của mình Các yếu tố trên được Huỳnh Văn Tới đề cập
đến trong luận án Những sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai (1996) Đây là nghiên cứu mang tính khoa học, dưới góc tiếp cận dân tộc học tác giả
đã làm rõ được các vấn đề liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo của Đồng Nai, trong đó nhấn mạnh đến các tín ngưỡng, tôn giáo của người Hoa dung hợp với người Việt Tuy nhiên, việc nghiên cứu riêng cho địa bàn Cù Lao Phố chưa được khảo sát toàn bộ, hơn nữa so với giai đoạn hiện nay thì việc biến đổi của đời sống tín ngưỡng, tôn giáo đã thay đổi rất nhiều, cần bổ sung nghiên cứu thêm Văn hóa tôn giáo - tín ngưỡng ở Đồng Nai, đặc biệt là Cù
Lao Phố được khảo tả trong bộ Địa chí Đồng Nai (2001), chỉ ra sự xuất hiện, vai trò của
Phật giáo Bắc tông, Nam tông Kinh cùng các nghi lễ liên quan đến văn hóa tín ngưỡng của người Hoa như lễ cầu an, cầu siêu, các nghi lễ theo phong tục tang ma của họ khá đa dạng Tuy nhiên, đây là công trình địa chí mang tính khảo tả là chủ yếu, cung cấp được tính lịch
sử, hoạt động và phát triển nhưng lại không cung cấp được các luận cứ khoa học nhằm lý giải tiến trình trên
Riêng về tín ngưỡng, tôn giáo người Hoa ở Đông Nam Bộ, trong đó phần Đồng Nai được làm rõ quá trình giao lưu văn hóa về tín ngưỡng giữa hai tộc người Hoa nhập cư và người Việt đến cư trú trước người Hoa (Huỳnh Văn Tới, 2002) Nghiên cứu này đã cung cấp nhiều luận cứ khoa học cho Chuyên đềcó thể sử dụng, bổ sung thêm nhằm chứng minh quá trình hình thành và biến đổi của tín ngưỡng, tôn giáo của Cù Lao Phố Đặc biệt, kết
quả của hai đợt khảo sát đã được tổng kết trong công trình biên khảo Khảo sát cơ sở tín ngưỡng và lễ hội của người Hoa ở Đồng Nai (2001, 2002) của Sở Văn hóa Thông tin và
Bảo tàng tỉnh Đồng Nai giúp Chuyên đềcó thêm các luận cứ mang tính khái quát toàn bộ vùng Đồng Nai, nhằm so sánh các minh chứng cho tín ngưỡng, tôn giáo ở Cù Lao Phố Phải nói đây là nguồn tư liệu khảo sát thực địa về lễ hội, nên phần tín ngưỡng, tôn giáo có
Trang 5phần hạn chế Tuy nhiên, nghiên cứu này có tính hữu ích cho chúng tôi về tín ngưỡng, tôn giáo khi cung cấp nhiều dữ liệu thực địa ở Cù Lao Phố
Bức tranh tín ngưỡng, tôn giáo người Hoa được làm rõ nét hơn qua nghiên cứu Văn hóa Đồng Nai (2005) của tác giả Huỳnh Văn Tới và Phan Đình Dũng Công trình đã cung
cấp cho Chuyên đềmột cái nhìn khái quát bức tranh tín ngưỡng, tôn giáo của cộng đồng người Hoa tại tỉnh Đồng Nai, đồng thời có những thông tin chính xác về hoạt động tín ngưỡng của người Hoa tại Cù Lao Phố xưa và nay
Tóm lại, đây là các công trình cung cấp các luận cứ khoa học quan trọng cho Chuyên đềtrong quá trình phân tích so sánh Qua đó đưa ra được những kết luận phù hợp với đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của người dân Cù Lao Phố hiện nay
- Các nghiên cứu liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo của luận văn
Chuyên đềcòn sử dụng các giáo trình văn hoá học, nhân học, dân tộc học, lịch sử để
có tiền đề cơ bản làm rõ bức tranh tín ngưỡng, tôn giáo ở Cù Lao Phố Đối với phần lý thuyết, các công trình liên quan, cung cấp lý thuyết cơ bản cũng như lý giải sự đa dạng văn
hoá và biến đổi tôn giáo- tín ngưỡng như: Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam của Đặng Nghiêm Vạn (2001); Các hình thức tôn giáo sơ khai và sự phát triển của chúng của X.A Tokarev (1994); The Anthropology of religion của Fiona Bowie (2001)
cung cấp dữ liệu một cách đầy đủ và hệ thống hóa hình thái tôn giáo sơ khai là Shaman
giáo Các tác phẩm như: The tapestry of culture của A Rosman (1939) và P.G Rabel; Cultural Anthropology của Marvin Harris (1997), thể hiện các lý thuyết về sự giao lưu văn
hóa trong tín ngưỡng, tôn giáo.v.v
Đặc biệt để áp dụng nghiên cứu đến biến đổi tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay tại Cù Lao Phố và củng cố thêm các luận cứ khoa học đặt ra, Chuyên đềchủ yếu sử dụng các luận
cứ từ cuốn sách Nền đạo đức Tin Lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản của Max Weber
(2008) Kiến giải của Max Weber giúp Chuyên đềcó cái nhìn thiết thực về sức mạnh phát triển kinh tế từ cộng đồng tôn giáo Với sự xuất hiện của tôn giáo mới, Chuyên đềdựa vào
sự kiến giải của Tôn giáo mới: nhận thức và thực tế do Trương Văn Chung (2018) chủ biên
giúp Chuyên đềgiải đáp được các tôn giáo mới xuất hiện trong bức tranh tổng thể về biến đổi tôn giáo tại Cù Lao Phố Trên phương diện lý thuyết nghiên cứu và nghiên cứu so sánh,
Trang 6các công trình nghiên cứu trên đã giúp chúng tôi có một nguồn dữ liệu quan trọng để hoàn thành Chuyên đềthạc sĩ chuyên ngành Việt Nam học
6 Câu hỏi nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu
6.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của cư dân Cù Lao Phố như thế nào?
- Tín ngưỡng, tôn giáo có vai trò và giá trị như thế nào trong đời sống tinh thần tâm linh của cư dân Cù Lao Phố?
6.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Sự hiện diện của các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo ở Cù Lao Phố xuất phát từ nhu cầu tâm linh của các nhóm cộng đồng người Việt, người Hoa di cư đến đây Họ có nhu cầu tìm kiếm một chỗ dựa tinh thần trên bước đường lập nghiệp trên vùng đất mới đã khiến cho họ đặt niềm tin sâu sắc vào các thần linh trong tín ngưỡng dân gian và Phật giáo Bắc tông
- Quá trình đô thị hóa với tốc độ nhanh chóng, và diễn trình lịch sử hiện tại của Cù Lao Phố tác động trực tiếp đến cộng đồng cư dân đang sinh sống tại đây Sự tác động này
đã làm biến đổi ít nhiều đến hệ thống tín ngưỡng và tôn giáo của cư dân Cù Lao Phố, qua đó đã làm thay đổi nhận thức và đời sống văn hóa tinh thần của họ Thời đại bối cảnh lịch sử xã hội thay đổi sẽ dẫn đến thay đổi văn hoá, vì vậy giả thuyết nghiên cứu của chúng tôi sẽ đặt xu hướng biến đổi văn hóa như một kết quả tất yếu của quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế và đô thị hóa
7 Phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề sử dụng chủ yếu phương pháp nghiên cứu định tính trong khoa học xã hội với các công cụ như thực địa (Field Work), quan sát tham dự (Participant Observation), phỏng vấn sâu (In-depth Interview), chụp ảnh, ghi âm… nhằm mô tả, diễn giải, giải thích đối tượng nghiên cứu
* Quan sát tham dự (Participant Observation): chúng tôi sử dụng công cụ này trong các chuyến đi thực địa tại 7 địa điểm đền, đình, chùa, miếu, nhà thờ và thánh thất tại phường Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Chúng tôi cùng tham dự vào sinh hoạt tôn
Trang 7giáo, tín ngưỡng, sự kiện văn hóa của cộng đồng, đặc biệt là giai đoạn tổ chức các lễ hội lớn như Kỳ yên, Phật đản, lễ Xá tội vong nhân, và lễ cúng Ông tại Thất phủ cổ miếu của người Hoa
* Phỏng vấn sâu (In-depth Interview): là công cụ dùng để tìm hiểu nguồn gốc, ý nghĩa và diễn biến của các hoạt động tín ngưỡng tôn giáo, những biến đổi văn hóa trong đời sống tinh thần của người dân Cù Lao Phố hiện nay Chúng tôi lựa chọn phỏng vấn khoảng 10 thông tín viên dựa trên ba nhóm đối tượng như: nhóm một là những thông tin tín viên là những người lãnh đạo cộng đồng, trưởng ban quản lý đền, miếu, đình và trụ trì các ngôi tự viện cổ tại phường Hiệp Hòa; nhóm thứ hai là người dân tham dự các lễ nghi và thực hành tín ngưỡng tôn giáo tại địa phương; nhóm thứ ba là các nhà quản lý văn hóa, quản lý các
cơ quan hành chính tại phường Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa Nhưng thực tế trong quá trình thực hiện, do tình hình của dịch bệnh Covid 19 trong suốt hai năm nay, đã làm cho chúng tôi gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận trực tiếp với các thông tín viên và những người dân sinh sống tại Cù Lao Phố
* Phân tích, tổng hợp tư liệu điền dã (data analyzed method): Từ nguồn tư liệu sơ cấp mà chúng tôi thu thập được qua các cuộc phỏng vấn trực tiếp, kết hợp với nguồn tài liệu thứ cấp như sách, báo, tạp chí khoa học, báo cáo… chúng tôi sẽ tổng hợp và phân tích, đánh giá theo những mục tiêu đã đề ra trong phần nội dung luận văn Chúng tôi đảm bảo tính khách quan của kết quả nghiên cứu, đảm bảo tính khoa học và thực tiễn cho nội dung luận văn
8 Bố cục của luận văn
Luận văn, ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về địa bàn nghiên cứu
Xây dựng cơ sở lý luận cho luận văn Trình bày tổng quan địa bàn nghiên cứu và thành phần cư dân tại Cù Lao Phố
Chương 2: Đặc điểm tín ngưỡng và tôn giáo của cư dân Cù Lao Phố
Nhằm nêu ra những đặc điểm nổi bật của tín ngưỡng và tôn giáo ở Cù Lao Phố như một nét đặc sắc của vùng đất, một thành tố bản sắc vùng tạo nên sự đa dạng của Việt Nam trong đời sống tín ngưỡng và tôn giáo
Trang 8Chương 3: Vai trò và giá trị của tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống cư dân Cù Lao Phố
Nghiên cứu vai trò, giá trị tín ngưỡng và tôn giáo trong đời sống cư dân Cù Lao Phố; so sánh rút ra những giá trị văn hoá qua các loại hình tín ngưỡng tôn giáo bằng các hoạt động thực hành của cộng đồng; từ đó đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo ở Cù Lao Phố
Trang 9CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN
NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Các khái niệm hữu quan
1.1.1.1 Tín ngưỡng
Ở Việt Nam có rất nhiều quan niệm khác nhau về tín ngưỡng và tôn giáo nhưng có thể tạm xếp thành ba nhóm quan điểm như sau:
Nhóm thứ nhất, tuân theo quan điểm truyền thống có ý thức phân biệt rõ rệt về tôn giáo và tín ngưỡng Họ cho rằng tín ngưỡng và tôn giáo là hai khái niệm, hai phạm trù khác nhau, do đó không thể gộp chung lại thành một khái niệm tôn giáo và tín ngưỡng được (Lại Thị Thu Trang, 2017,tr.11)
Nhóm thứ hai, có quan điểm đồng nhất tôn giáo với tín ngưỡng, họ gộp chung hai khái niệm này làm một gọi là tôn giáo tín ngưỡng hoặc tín ngưỡng tôn giáo, tuy có phân biệt tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo dân tộc, tôn giáo địa phương, tôn giáo thế giới…(Đặng Nghiêm Vạn, 1998,tr.11-36)
Nhóm thứ ba, xem tín ngưỡng ở trình độ phát triển thấp hơn tôn giáo, tín ngưỡng là niềm tin, đức tin, là một nhân tố góp vào tạo thành tôn giáo (Nguyễn Đăng Duy, 2001,tr.20)
Theo Đặng Nghiêm Vạn, thuật ngữ tín ngưỡng có hai nghĩa, một là tự do tín ngưỡng
và hai là niềm tin tôn giáo Theo nghĩa một thì tín ngưỡng có một phần nằm ngoài tôn giáo, còn theo nghĩa hai thì tín ngưỡng chỉ là một bộ phận chủ yếu nhất cấu thành của tôn giáo (Đặng Nghiêm Vạn, 2003, tr.76) Thực tế, hiện nay vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm tôn giáo và tín ngưỡng, có người cho rằng tôn giáo và tín ngưỡng là hai khái niệm khác nhau, lại có người bảo chúng giống nhau như tôn giáo dân tộc, tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo địa phương, tôn giáo thế giới; có người nói tín ngưỡng bao gồm tôn giáo, rồi cũng có ý kiến ngược lại rằng tôn giáo bao gồm cả tín ngưỡng như thờ cây đa, thờ tổ tiên Thậm chí cũng có người có quan điểm phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng cho rằng tín ngưỡng
là sản phẩm của xã hội ở trình độ phát triển thấp hơn so với tôn giáo (Ngô Đức Thịnh, 2012,tr.11) Trước vấn đề tồn tại nhiều cách hiểu và quan niệm khác nhau, để có định
Trang 10hướng thống nhất trong luận văn, chúng tôi dựa vào quan điểm của tác giả Trần Ngọc Thêm
để làm cơ sở cho nghiên cứu của luận văn, cho rằng: “tín ngưỡng là sự sùng bái các hiện tượng tự nhiên, nhưng chưa có giáo lý thành văn, không có giáo đường quy mô, nghi lễ đơn giản, nhân sự bán chuyên nghiệp hoặc không có, tổ chức lỏng lẻo Còn tôn giáo là sự sùng bái những đối tượng được thần thánh hóa cao độ, với một hệ thống giáo lý rõ ràng, nghi thức hoàn chỉnh và một tổ chức chặt chẽ” (Trần Ngọc Thêm, 2013, tr.566-567)
1.1.1.2 Tôn giáo
Tôn giáo theo thuật ngữ tiếng Anh gọi là religion xuất phát từ tiếng Latinh là legere, relegere có nghĩa là thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên Khái niệm tôn giáo được nhắc đến trong giới khoa học Phương Tây, sớm nhất khoảng từ thế kỷ XVIII - XIX Một số quan điểm tôn giáo của các nhà nghiên cứu từ khi tôn giáo trở thành một đối tượng của khoa
học Tiêu biểu như Edward Burnett Taylor trong tác phẩm nổi tiếng Văn hóa Nguyên thuỷ, ông cho rằng (theo nghĩa hẹp) tôn giáo là niềm tin đối với một đấng tối cao, thờ cúng các
thần tượng, có tập tục hiến tế, hay có các giáo thuyết hoặc nghi thức nào đó tương đối phổ
biến Còn với L Feuerbach thì cho rằng tôn giáo là sự khám phá những gì cất giấu trong
con người, là sự thừa nhận những tư tưởng thân thiết nhất của con người, công khai nhất
những tình cảm bí mật của con người Đối với C Mác thì nhấn mạnh tôn giáo là sự quy
định cuộc sống con người bởi ý thức về một mối liên hệ, gắn tinh thần con người với năng lực huyền bí mà con người thừa nhận (Đặng Nghiêm Vạn, 2003, tr.50-54)
Mỗi nhà nghiên cứu, tùy vào góc độ khoa học mà có một quan điểm riêng của mình
về khái niệm tôn giáo Theo nghĩa rộng hay hẹp thì khái niệm tôn giáo phải hàm chứa hai phạm trù: thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu, thế giới của người sống và thế giới sau khi chết, thế giới của các vật thể vô hình Tôn giáo là sản phẩm sáng tạo của con người nhằm đáp ứng nhu cầu về tinh thần của con người trong xã hội tạo nên những chuẩn mực
để xây dựng niềm tin của con người trong mối quan hệ giữa cái thiêng và cái tục, giữa vật
chất với tinh thần
1.1.1.3 Văn hóa tộc người