QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA Y PHƯƠNG 1.1 Cuộc đời và văn nghiệp nhà thơ Nhà thơ Y Phương 1.2 Quan niệm nghệ thuật của Y Phương 1.2.1 Sống và viết như tờ giấy không thể để mất lề 1.2.2 Viết
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
6 Đóng góp của đề tài
7. Cấu trúc của đề tài
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA Y PHƯƠNG
1.1 Cuộc đời và văn nghiệp nhà thơ Nhà thơ Y Phương
1.2 Quan niệm nghệ thuật của Y Phương
1.2.1 Sống và viết như tờ giấy không thể để mất lề
1.2.2 Viết văn như một cuộc chơi đầy hứng khởi
1.2.3 Viết văn như là một cách tri ân cuộc đời
1.3 Từ quan niệm nghệ thuật đến “cái tôi” sáng tạo trong thơ Y Phương
Chương 2 NGUỒN CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG THƠ Y PHƯƠNG
2.1 Cảm hứng chung về quê hương đấ nước
2.2 Quê hương trong truyền thống văn hóa
2.3 Cảm hứng về tình yêu
2.3.1 Tình yêu đôi lứa
2.3.2 Tình cảm đối với người thân
Chương 3 NÉT ĐẶC SẮC TRONG NGHỆ THUẬT THƠ Y PHƯƠNG
3.1 Ngôn từ nghệ thuật
3.1.1 So sánh nghệ thuật
3.1.2 Cái mới trong ngôn từ
3.2 Thời gian nghệ thuật
3.3 Không gian nghệ thuật
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
TƯ LIỆU KHẢO SÁT VÀ TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2PHỤ LỤC: Chân dung nhà thơ Y Phương
MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong hơn 30 năm cầm bút, nhà thơ Y Phương đã để lại dấu ấn riêng, với những đóng góp riêng cho thơ ca Việt Nam hiện đại Phong cách thơ ông vừa hiện đại vừa dân tộc, bởi ông đã kết hợp truyền thống của quê hương Cao Bằng, của dân tộc Tày với truyền thống của đất nước Đọc thơ Y Phương có cảm giác thoải mái mà lắng đọng
do cách viết hồn nhiên và thật nhiều suy ngẫm
Y Phương đã đoạt được nhiều giải thưởng văn học lớn như: Giải A cuộc thi thơ tạp chí Văn nghệ Quân đội, Giải thưởng loại A của Hội Nhà văn Việt Nam, Giải A của Hội đồng Văn học Dân tộc - Hội nhà văn Việt Nam, và vinh dự được nhận Giải thưởng Nhà nước đợt 2 về Văn học Nghệ thuật năm 2007
Thế giới nghệ thuật của Y Phương có không gian riêng, thời gian riêng và qui luật tâm lí riêng Thế giới nghệ thuật ấy ứng với một quan niệm về thế giới, một cách cắt nghĩa về thế giới Qua thế giới nghệ thuật, người đọc có thể hình dung tính độc đáo
về tư duy nghệ thuật của nhà thơ Để tạo được dấu ấn trong lòng độc giả, có vị trí xứng đáng trong thơ Việt Nam hiện đại, bản thân Y Phương phải trải qua quá trình lao động nghệ thuật miệt mài, nghiêm túc, trăn trở với từng con chữ Mong muốn của nhà thơ là tạo ra những công trình nghệ thuật đặc sắc góp phần làm đẹp cuộc sống và phần nào
có thể bảo tồn được vốn văn hóa của dân tộc mình Những thành công mà ông đạt được thật đáng khâm phục Dù cho cuộc sống đôi lúc khó khăn, nhưng ông vẫn sống hết mình cho thơ, ông tự khẳng định mình bằng chính những vần thơ giản dị, thiết thực, gần gũi mà nhiều suy ngẫm
Nghiên cứu “Thế giới nghệ thuật thơ Y Phương” sẽ góp phần khẳng định tài
năng và đóng góp của nhà thơ cho nền văn học Việt Nam mà nói riêng là thơ ca Việt Nam hiện đại
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Quá trình lao động nghệ thuật miệt mài của Y Phương đã đóng góp một số lượng tác phẩm không nhỏ cho nền Văn học Việt Nam hiện đại Y Phương từng viết
kịch nói, vở kịch “Người núi hoa” được sáng tác năm 1982 Tuy nhiên, lĩnh vực Y
Phương để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả chính là thơ, bao gồm 1 trường ca, 1
Trang 3tập thơ in chung “Lửa hồng một góc” và 5 tập thơ in riêng Bên cạnh đó, ông còn thử
sức ở lĩnh vực tản văn - văn xuôi
Con đường đến với văn chương của Y Phương thật ngẫu nhiên Khi còn ở quân đội, đơn vị có mở cuộc thi viết báo tường vào năm 1972, Y Phương tham gia cùng đồng đội với tinh thần góp vui Điều bất ngờ với ông là nhóm cán bộ Phòng Văn nghệ quân đội trong chuyến công tác đã chọn bài khá nhất đăng báo Những tác phẩm đầu
tiên của Y Phương được đăng trên tạp chí Văn nghệ quân đội là “Bếp nhà trời”, “Dáng
một con sông”(Số 6 năm 1973) Kể từ đó “Y Phương nhẩn nha sống, nhẩn nha thơ” như nhà thơ Trần Mạnh Hảo từng nhận xét Cho dù đôi lúc con đường thơ của
ông cũng gặp nhiều trắc trở “rượu nấu xong hết vèo, còn thơ thì cứ xếp từng xấp để
đấy, có bạn tâm giao đến thì đọc, nhâm nhi với nỗi buồn cho qua ngày” [3,290] Văn
chương như cái nghiệp đeo đuổi nhà thơ Sự nhẫn nại của ông với nghề nghiệp đã
được đền bù xứng đáng Tập thơ “Tiếng hát tháng giêng” được sở Văn hóa thông tin Cao Bằng ra mắt bạn đọc năm 1986 khiến nhiều người bất ngờ bởi “những phát hiện
và lối diễn đạt rất mới, một tư duy thơ của một người dân tộc, mở mắt ra đã thấy núi
án ngữ trước nhà, con đường cũng chảy dọc núi mà đi … và hình như, tất cả những mảnh miền văn hóa, những gì cội rễ… cũng từ núi mà thành” [18] Tập thơ “Tiếng hát tháng giêng” được trao giải A – Hội Nhà văn (1987).
Thơ Y Phương thu hút sự quan tâm của nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình văn học như: Tế Hanh, Phạm Hổ, Chu Văn Sơn, Nguyễn Hữu Tiến, Trúc Thông, Hồng Diệu, Thái Vĩnh Linh, Tạ Duy Anh, Đỗ Trung Lai, Trần Mạnh Hảo, Phạm Quang Trung… Tất cả các bài viết hầu như đều đánh giá cao tài năng của Y Phương, thể hiện sự đồng cảm với những vần thơ đầy tình cảm với quê hương, đất nước và dân tộc Tày…, bài nào cũng ẩn chứa những ý thơ hoặc câu thơ hay Hiện nay, những bài
viết về thơ Y Phương được tập hợp trong tập “Thơ Y Phương”, hoặc được đăng rải rác
trên các báo trong toàn quốc Các bài viết tập trung phân tích nội dung xã hội của các tác phẩm, đồng thời khẳng định nét riêng độc đáo trong phong cách thơ Y Phương Thơ của Y Phương thường là thơ tự do, sáng tác theo cảm hứng ngẫu nhiên
Hầu hết các bài viết đều nhằm khám phá những nét đẹp riêng của thơ Y Phương như: quan niệm nghệ thuật, cảm hứng sáng tạo, và nét đặc sắc trong nghệ thuật …
2.1 Quan niệm nghệ thuật là yếu tố quan trọng làm nên nét đặc sắc của thơ Y Phương
Trang 4Nguyễn Sĩ Đại đưa ra nhận xét: “Y Phương là người có quan niệm sống, quan
niệm nghệ thuật một cách rõ ràng, một nhà thơ có tư tưởng, có quan niệm nghệ thuật
là biểu hiện của một nhà thơ lớn” [6].
Phạm Quang Trung thì thừa nhận:“Y Phương trước sau nhất quán một xác tín
nghề nghiệp” [44] Như nhiều người cầm bút khác, Y Phương đã trăn trở trên từng
trang viết, “luôn đòi hỏi cao với bản thân” [87,170] trau chuốt lại những vần thơ đã ra
đời, đó cũng là điều hay gặp ở nhiều người sáng tác có ý thức
Nhận xét chung khi đọc ba tập thơ Tiếng hát tháng giêng, Lời chúc, Đàn
then của Y Phương, Trần Mạnh Hảo khẳng định: “Thơ Y Phương bình dị, chân chất, hồn nhiên, giấu cất mà không he hé lộ thiên, lặng lẽ mà bùng nổ, nhẩn nha như chính cuộc đời ông, con người ông” [3, 301].
Tạ Duy Anh cảm nhận về thơ Y Phương “cũng như rượu ngon, thơ ông càng để
lâu càng ngấm thời gian, có điều kiện để ông thanh lọc những tạp chất, trở nên tinh khiết – cái tĩnh lặng luôn luôn là môi trường của ý tưởng sâu sắc” [3, 290].
Khi giao tiếp với Y Phương, mọi người sẽ có cảm nhận giống như nhà văn
Nguyễn Hữu Tiến: “Y Phương của đời thường và Y Phương trong thơ là một Bạn đọc
tìm thấy ở thơ anh một tiếng nói chung, ấy là sự đồng lòng, đồng cảm” [3, 271].
Chu Văn Sơn lại chỉ ra sự nghiêm túc trong lao động nghệ thuật của Y Phương
- một người vùng cao nhưng đã khắc phục được cái “thô ráp, ngây ngô vốn là nhược
tật của lối cảm đó” [3, 267].
2.2 Cảm hứng sáng tạo của Y Phương cũng là vấn đề được nhiều bài viết đề cập khi tìm hiểu thơ Y Phương
Tế Hanh cho rằng: “Y Phương bắt đầu tuổi trẻ mình bằng cuộc đời người lính
và bắt đầu đời thơ mình là những bài thơ đánh giặc” [3, 244] Theo ông, mảng thơ của
Y Phương viết về non nước Cao Bằng rất thiết tha và linh hoạt, còn những bài thơ nói
về mẹ, về con, về người yêu thì mang đậm bản sắc dân tộc
Nhà thơ Phạm Hổ khi tìm hiểu tập “Tiếng hát tháng giêng” lại khai thác ở đề
tài và chỉ ra ba đề tài chính của tập thơ là:
“- Lòng yêu và niềm tự hào quê hương đất nước, về con người nói chung và về con người quê hương nói riêng.
- Tâm trạng và ý chí người cầm súng đi chiến đấu và ở xa quê hương.
- Tình yêu” [3, 249].
Trang 5Chu Văn Sơn cũng đồng tình “sự tha thiết với xứ sở dân tộc mình chính là nhịp
tim thầm kín bền vững nhất trong từng bài thơ Y Phương, là cốt lõi của giọng hát Y Phương” [3, 260] Ngoài ra, “Trong Tiếng hát tháng giêng, Y Phương còn chứng tỏ sự độc đáo của mình ở một mảng thơ khác – thơ tình” [3, 264].
Đề cập đến nội dung thơ Y Phương, Di Linh khẳng định: “những hình bóng
thiếu nữ Tày, là một hình tượng văn học khỏe khoắn, chủ đạo nhất của thơ Y Phương”[17].
Theo Nguyễn Hữu Tiến thì “những làn điệu dân ca đa dạng và phong phú ở
Trùng Khánh là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn Y Phương để rồi sau này thơ anh có sức ngân vang và bay xa” [3, 270] Có thể nói Y Phương là “một nhà thơ chung thủy với quê hương” [3, 271].
“Y Phương không yêu dân tộc mình ở đầu lưỡi, lạm dụng chất dân tộc” [3, 273] – đó là nhận xét của Trúc Thông về tập thơ “Lời chúc” của Y Phương.
Nhận xét về thơ tình Y Phương – Hồng Diệu cho rằng: “Nói chuyện tình yêu
của con người với con người mà kết hợp với thiên nhiên, với tự nhiên như vậy vừa cổ xưa, vừa hiện đại” [3, 278].
Thái Vĩnh Linh lại tìm thấy “không khí sinh động của cuộc sống miền núi” [3, 284] trong tập “Đàn then”.
Kết luận về thơ tình Y Phương, nhà nghiên cứu Phạm Quang Trung cho
rằng:“Tình yêu đích thực bao giờ cũng vậy, nâng đỡ con người ta, hướng con người ta
tới cõi thiêng liêng” [87, 176] và khẳng định nếu không là Y Phương “thì chúng ta đã không thể có những bài thơ thắt lòng vì tha thiết yêu mà không thể sống cùng nhau, song vết thương lòng thì chừng như không lành theo năm tháng” [87, 170].
Nguyễn Sĩ Đại cũng phát hiện thấy thơ Y Phương “có hai mảng đề tài rõ rệt
tình yêu quê hương và chiến tranh” [6].
2.3 Ngoài ra, những nét đặc sắc trong nghệ thuật cũng là vấn đề dễ tìm thấy trong nhiều bài viết về thơ Y Phương
Đỗ Trung Lai trong bài viết “Chín tháng – Khúc ca tôn vinh người mẹ chiến sĩ”, phát hiện trường ca “lời không dài mà gói buộc được nhiều Thế tức là ý tại ngôn
ngoại, là thơ hay” [3, 295] Và “Y Phương là một giọng điệu riêng, trộn lẫn một cách hài hòa lối nghĩ, lối nói của dân tộc anh” [3, 301].
Trang 6“Bằng bút pháp điêu luyện, ngôn ngữ chọn lọc, giữ được sự tinh tế của tình cảm pha lẫn cái dung dị, mộc mạc đầy chất núi rừng” [3, 287] là nhận xét của tác giả
Trúc Thông lại nhận thấy Y Phương “không ngừng xoay ngang, xoay dọc, tìm
cách bộc lộ thơ ca ở những nhịp điệu, những hình ảnh, những từ ngữ bản chất nhất, khêu gợi nhất, cô đọng nhất” [3, 275].
Nguyễn Hữu Tiến đưa ra một nhận định có tính khái quát về phong cách thơ Y
Phương “vừa hiện đại vừa dân tộc là bởi vì anh đã biết kết hợp truyền thống văn hóa
của quê hương với mọi miền quê của đất nước” [3,272].
Với Di Linh thì thơ Y Phương “là một sự lạ lùng quyến rũ đến kì lạ, là một
hương vị mới trong bữa tiệc đã quá nghèo nàn và nhàm chán !” [18].
Không chỉ vậy, Chu Văn Sơn còn phát hiện ra nét bản chất trong tập “Tiếng hát
tháng giêng” chính là “yếu tố hiện đại đã tìm thấy một cơ chế kết hợp hợp lí nào đó với yếu tố truyền thống” [3,269].
Hiện thực cuộc sống được Y Phương đưa vào thơ, khiến những vần thơ ông
“vừa dân tộc, vừa hiện đại, vừa cô đúc, vừa khoáng đạt”[ 3, 255], đó là nhận xét của
nhà thơ Phạm Hổ
Ngoài ra cũng có nhiều nhận xét về những điểm hạn chế của thơ Y Phương
Tế Hanh chỉ ra sự non nớt trong sáng tác nghệ thuật của Y Phương là “nhiều
chỗ vụng về đôi khi ngô nghê” [3, 247].
Chu Văn Sơn chỉ ra nhược điểm của tập thơ “Tiếng hát tháng giêng” ở chỗ
“vẫn còn một số bài loãng, lép như Một ngày bình yên, Kỉ niệm đội chiếu bóng,
Hương thơm trái thị” [3, 269].
Theo Trúc Thông, thơ Y Phương “không phải bài nào cũng hay, câu nào cũng
quý, chữ nào cũng đẹp” [3, 275].
Trang 7Thái Vĩnh Linh chỉ rõ hạn chế của tập “Đàn then” là “một số bài còn lộ nhiều
thô vụng hay giản lược, một số bài có vẻ lời đi qua tứ” [3, 287].
Trần Mạnh Hảo cũng cho rằng, thơ Y Phương “có nhiều bài hay và cả nhiều
bài thơ chưa hay” [3, 309].
Có thể thấy, điểm gặp nhau của các nhà nghiên cứu về thơ Y Phương là bên cạnh việc chỉ ra những thiếu sót cần khắc phục của cây bút Y Phương thì họ đều có chung nhận xét là thơ Y Phương có chất giọng điềm tĩnh, suy tư, trong đó những bài viết về quê hương Cao Bằng là những sáng tác thành công nhất Và điều đặc biệt là thơ Y Phương vừa có tính hiện đại, vừa có tính dân tộc Tác giả Trần Đăng Suyền
trong sách giáo khoa Ngữ văn 12, Tập I khẳng định: “Những cây bút làm thơ sau 1975
xuất hiện ngày càng nhiều, đã và đang từng bước khẳng định vị trí của mình, tiêu biểu
là Y Phương với tập Tiếng hát tháng giêng” [63, 15].
Năm 2005, Bộ giáo dục và Đào tạo tuyển chọn bài thơ “Nói với con” của Y
Phương đưa vào giảng dạy chính thức trong chương trình Ngữ văn lớp 9 - THCS Đó
là điều kiện để tác phẩm của ông đến được với đông đảo bạn đọc
Qua các bài nghiên cứu, phê bình về thơ Y Phương, chúng tôi nhận thấy các tác giả đã có đóng góp trong việc chỉ ra những đổi mới trong cách viết của Y Phương so với các nhà thơ dân tộc đàn anh khác, và phát hiện ra nhiều đặc điểm thơ Y Phương Tuy nhiên chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu, khảo sát một cách toàn diện
và có hệ thống về thơ Y Phương để từ đó rút ra những đặc điểm trong phong cách, nội dung tư tưởng và nghệ thuật thơ Y Phương Vì lí do trên, nghiên cứu về thế giới nghệ thuật thơ Y Phương là một việc làm cần thiết, có ý nghĩa, nhằm đánh giá những thành tựu của một nhà thơ quân đội tiêu biểu, qua đó có thể thấy được những đóng góp của nhà thơ cho thơ ca Việt Nam
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu về thế giới nghệ thuật thơ Y Phương là một việc làm cần thiết, nhằm đánh giá những thành tựu của Y Phương, qua đó có thể thấy được những đóng góp của nhà thơ đối với thơ Việt Nam hiện đại
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Mỗi tác phẩm của Y Phương là một công trình nghệ thuật bằng ngôn từ, một chỉnh thể nghệ thuật đặc sắc, được chi phối bởi quan niệm thẩm mĩ nhất quán Đối tượng nghiên cứu của luận văn là toàn bộ các sáng tác thơ của Y Phương
Trang 8Để thực hiện việc nghiên cứu đề tài “Thế giới nghệ thuật thơ Y Phương” phạm
vi khảo sát và trích dẫn của luận văn trong các tập thơ sau:
- Đàn then – Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 1996.
- Chín tháng (Trường ca) – Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999.
- Thơ Y Phương – Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 2002.
- Thất tàng lồm (Thơ song ngữ) – Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2006.
Ngoài ra, để có thể làm rõ phong cách thơ Y Phương, chúng tôi khảo sát thêm một số bài viết của chính tác giả đăng rải rác trên các báo Trong điều kiện và chừng mực nhất định, chúng tôi so sánh tác phẩm của ông với tác giả người dân tộc ít người khác như Inrasara để từ đó rút ra những nét riêng biệt ở thơ Y Phương
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thực hiện đề tài “Thế giới nghệ thuật thơ Y Phương”, tác giả luận văn vận dụng
các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử - xã hội: Bất cứ một tác phẩm văn học nào cũng đều xuất hiện trong điều kiện lịch sử xã hội nhất định, và tác phẩm chịu sự chi phối ở mức độ này hay mức độ khác bởi hoàn cảnh lịch sử xã hội đó Người viết vận dụng phương pháp này để tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử xã hội có những biến cố gì ảnh hưởng đến quá trình sống và sáng tạo nghệ thuật của Y Phương Từ đó, hiểu thêm vì sao nhà thơ Y Phương lại có những tác phẩm mang nét độc đáo, riêng biệt để lại ấn tượng trong lòng độc giả
- Phương pháp so sánh: Để làm rõ phong cách thơ Y Phương với quan niệm độc đáo về văn chương cùng những nguồn cảm hứng lớn trong thơ ông, người viết có so sánh đối chiếu với một số tác giả, tác phẩm dân tộc ít người khác
- Phương pháp hệ thống: Sử dụng phương pháp này người viết coi thế giới nghệ thuật thơ Y Phương là một chỉnh thể toàn vẹn, một hệ thống chặt chẽ, gồm hai bộ phận liên kết với nhau là nội dung nghệ thuật và hình thức nghệ thuật.Từ việc vận dụng phương pháp hệ thống nhằm toát lên sự thống nhất giữa quan niệm nghệ thuật và con người đời thường của tác giả
- Phương pháp loại hình: Vận dụng phương pháp loại hình để tìm hiểu lịch sử vấn đề, làm rõ những ý kiến khác nhau khi nhận xét, đánh giá về thơ Y Phương Từ đó giúp người viết có cái nhìn khái quát, toàn diện hơn khi nghiên cứu thế giới nghệ thuật thơ Y Phương
Trang 9- Phương pháp liên ngành: Nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn cần sử dụng nhiều loại hình tri thức thì tác phẩm được nghiên cứu mới có chiều sâu Áp dụng phương pháp liên ngành để hiểu thêm về phong tục, văn hóa dân tộc Tày tồn tại trong tác phẩm của Y Phương.
Ngoài ra người viết còn sử dụng các phương pháp khác như thống kê, phân tích tác phẩm văn học dựa trên những đặc trưng thể loại và những phạm trù của lí luận thi pháp làm phương tiện khảo sát
Để hoàn thành tốt được luận văn, người viết còn gặp gỡ và trao đổi trực tiếp với nhà thơ Y Phương tại trại sáng tác Lâm Đồng vào tháng 12 năm 2008
6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Việc nghiên cứu “Thế giới nghệ thuật thơ Y Phương” góp phần khẳng định
những đóng góp của Y Phương trong nền thơ Việt Nam hiện đại
Luận văn tìm hiểu thơ Y Phương trên bình diện thế giới nghệ thuật, đây là một cách tiếp cận mới Thế giới nghệ thuật thơ Y Phương được hình thành từ quan niệm nghệ thuật nhất quán, từ cách nhìn về con người và cuộc đời Quá trình tìm hiểu thơ Y Phương người viết nhận thấy những nhận thức về quê hương Cao Bằng, con người và tình yêu chính là nguồn cảm hứng dạt dào của nhà thơ Người viết cũng cố gắng chỉ ra giọng điệu riêng trong sáng tạo nghệ thuật của Y Phương
Luận văn có thể là một tài liệu tham khảo cần thiết cho việc tìm hiểu thơ Việt Nam hiện đại
7 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Nghiên cứu “Thế giới nghệ thuật thơ Y Phương”, trước tiên người viết trình bày
các quan niệm nghệ thuật của Y Phương Đây là tiền đề để đi vào tìm hiểu những nguồn cảm hứng lớn của nhà thơ Từ đó tác giả luận văn tìm ra những nét đặc sắc về nội dung cũng như nghệ thuật của thơ Y Phương Để thực hiện những yêu cầu trên, ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được tổ chức thành 3 chương như sau:
- Chương 1: Quan niệm nghệ thuật của Y Phương
- Chương 2: Nguồn cảm hứng chủ đạo trong thơ Y Phương
- Chương 3: Nét đặc sắc trong nghệ thuật thơ Y Phương
Trang 10PHẦN NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA Y PHƯƠNG 1.1 Cuộc đời và văn nghiệp
Tên khai sinh của Y Phương là Hứa Vĩnh Sước, các bút danh: Y Phương, Chu Văn Păn, Hứa Hiếu Lễ Ông sinh ngày 24 tháng 12 năm 1948 Quê ở xã Lăng Hiếu,
huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng Cuộc đời nhà thơ Y Phương “dù không cay đắng
nhưng cũng nhiều nỗi muộn phiền” [17], và chính những nỗi phiền muộn đã là nỗi ám
ảnh trong cuộc đời và thơ ông Sinh trưởng trong một gia đình dân tộc Tày, ông cụ thân sinh là Hứa Văn Cường - một thầy tào chữa bệnh cho nhiều người Mẹ ông là Nông Thọ Lộc - một phụ nữ đảm đang Thuở nhỏ, Y Phương có mơ ước học được những phép thuật của cha, những bài thuốc cứu người… để sau này nối nghiệp cha làm thầy mo, chữa bệnh Thế nhưng ông cụ thân sinh biết Sước không hợp với nghề này nên không mặn mà truyền nghề Y Phương biết những bài cúng, bài than, học chữ
từ cha 9 tuổi, Y Phương mới bắt đầu học trường cấp một thị trấn Trùng Khánh và tập nói tiếng Kinh Niềm đam mê văn chương đã có trong ông từ rất sớm Bạn bè thời ấu thơ của ông là sách Mỗi sáng được mẹ cho 5 xu để ăn quà, ông đã dành dụm số tiền ít
ỏi này mua sách đọc Cải cách ruộng đất diễn ra, mặc dù sau đó đã được sửa sai nhưng
để lại không ít chuyện đau buồn cho người dân Y Phương cũng là một nạn nhân của cuộc cách mạng ấy, gia đình bị quy kết thành phần, tất cả những người có chữ, nhất là chữ Pháp, đều bị gọi đi làm cỏ vê (làm khổ sai, cải tạo) Dù học chưa hết cấp III, Y
Phương đã ý thức “lí lịch” không đẹp đẽ của gia đình, ông quyết tâm làm lại cuộc đời
bằng việc xung phong đi bộ đội Là con một, Hứa Vĩnh Sước đã trải qua cuộc đời người lính đặc công, và đến với thơ ca thật tình cờ
Những bài thơ đầu tiên được in báo năm 1973 là “Bếp nhà trời”, “Dáng một
con sông” khiến Y Phương có cảm giác hạnh phúc và sung sướng Y Phương nhập ngũ
năm 1968, phục vụ quân đội đến năm 1981 thì chuyển về công tác tại Cao Bằng Ông bắt đầu thực hiện giấc mơ hồi trẻ là được đi học, trước hết học Trường Điện ảnh Việt Nam từ 1976 đến 1979, rồi học khóa II (1982-1986) Trường Viết văn Nguyễn Du Năm 1986 về công tác tại Sở Văn hóa Thông tin Cao Bằng và từ 1991 là Phó giám đốc
Sở Văn hóa Thông tin Từ 1993, ông là Chủ tịch Hội văn học Nghệ thuật Cao Bằng,
Trang 11Uỷ viên BCH, Trưởng ban kiểm tra Hội Nhà văn Việt Nam khóa VI Hiện nay ông công tác tại Hội Nhà văn Việt Nam.
Y Phương từng được Giải A cuộc thi thơ tạp chí Văn nghệ Quân đội, Giải
thưởng loại A của Hội Nhà văn Việt Nam (1987) với tập thơ Tiếng hát tháng giêng, Giải A của Hội đồng Văn học dân tộc – Hội Nhà văn Việt Nam với tập thơ Lời chúc,
Giải B của UBTQ liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam với tập trường
ca Chín tháng (2001), Giải B của Bộ Quốc phòng với trường ca Chín
tháng (2001) Ông được vinh dự nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật
năm 2007
1.2 Quan niệm nghệ thuật của Y Phương
Cao Bằng - quê hương Y Phương - xưa kia vào thế kỉ XV là kinh thành của
nhà Mạc Đây là vùng đất kì lạ, các ngọn núi từ thấp đến cao đều lao vút lên, nhọn
hoắt Theo Tạ Duy Anh nơi đó “giữa bình minh và hoàng hôn là cuộc sống sôi sục Nó
vừa bí ẩn, buồn chết đi được, vừa đầy cám dỗ Có một chất thơ dịu ngọt cứ thấm dần vào tâm hồn bạn - bất cứ ai sinh ra ở đấy đều ít nhiều là một nhà thơ” [3, 290] Có thể
khẳng định núi non Cao Bằng góp phần tạo nên chất nghệ sĩ dồi dào trong con người
Y Phương Nhập ngũ từ năm 1968, Y Phương là một chiến sĩ đặc công Con đường đến với thơ ca của ông thật ngẫu nhiên Từng thể nghiệm qua nhiều nghề, nhưng cuối
cùng: “Tất cả sự thể nghiệm ấy chỉ cho ông câu trả lời diễu cợt: nếu không trở thành
nhà thơ thì ông sẽ chẳng thành gì hết!” [3, 291] Và từ đó, Y Phương ở hẳn lại với
thơ Y Phương là một nhà thơ có phong cách riêng bởi khi sáng tác ông luôn đi tìm cái mới, cái độc đáo Thực tế, trong văn chương nghệ thuật không mới, không độc đáo thì khó lòng tạo được ấn tượng, thu hút được độc giả và không có chỗ đứng trong thế giới nghệ thuật
Thế giới nghệ thuật là một “khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ
thuật Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được sáng tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lí của con người mặc dù nó phản ánh các thế giới ấy Thế giới nghệ thuật
có không gian riêng, thời gian riêng, có qui luật tâm lí riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng… chỉ xuất hiện một cách có ước lệ trong sáng tác nghệ thuật” [56, 302-303]. Với Y Phương điều quan trọng nhất là phải biết sống và giữ gìn khuôn phép, kể cả trong thơ và đời sống thực Ông từng tâm niệm:
Trang 12“Cuộc đời tôi sống và viết như tờ giấy này, có thể nhàu nát và rách nhưng không mất
lề” [55, 543] Y Phương trong cuộc sống đời thường và Y Phương trong thơ là một,
người đọc dễ tìm thấy ở ông một tiếng nói chung, đồng cảm Với một cách nói thật
khiêm tốn, nhà thơ thổ lộ: “Những gì mình làm được đấy là của ông bà cả thôi” [3,
270] Văn chương với Y Phương là một trò chơi ngôn ngữ phục vụ cho chính bản thân
nhà thơ và cho người đọc Ông cho rằng: “Cho đến bây giờ tôi vẫn cho văn chương là
một thứ chơi Chơi cho mình thích và cho người ta thích” [51, 252] Tác phẩm của Y
Phương gắn với chiều sâu thế giới nội tâm của ông Những vần thơ của Y Phương được khơi nguồn từ sự sống, từ cuộc đời cụ thể, những trải nghiệm của ông Khi cuộc sống đã trải qua biết bao thăng trầm thì tác phẩm của Y Phương thể hiện triết lí với
nhiều trăn trở và suy ngẫm Quan niệm văn chương của ông hiện rõ điều này: “Văn
chương là một việc làm trả ơn những người sinh thành và nuôi dưỡng mình” [55, 776].
Trong suốt quá trình sáng tạo nghệ thuật, Y Phương luôn quan sát, chiêm nghiệm cuộc sống từ nhiều phương diện khác nhau Cuộc sống đa dạng, phong phú nhiều chiều ấy đã tác động đến tâm trạng Y Phương vì thế quan niệm về văn chương,
về thơ của ông cũng phong phú, sống động và nhiều ý nghĩa Và kết tụ trong quan
niệm về ngôn từ của nhà thơ “theo dòng chữ được hình thành trên cơ sở tự ý thức rất
cao, có hạt nhân khoa học chứ không phải chỉ là những ý nghĩ cảm tính” [65, 373].
1.2.1 Sống và viết như tờ giấy không thể để mất lề.
Từ ngàn xưa ông, bà đã răn dạy “Giấy rách phải giữ lấy lề”, nguyên tắc sống
và nguyên tắc cầm bút của Y Phương cũng thế Con người nhà thơ mộc mạc, giản dị trong cả đời thường Tuổi thơ của Y Phương được bao bọc bởi những câu chuyện tưởng như huyền thoại, về một người cha đầy bí ẩn của chính mình - chính cái lí lịch
ấy trở thành một tì vết tạo trắc trở cho nhà thơ khi muốn hòa nhập cùng cộng đồng Nguyên tắc sống ấy đã theo suốt người lính đặc công từ các chiến trường ở mặt trận phía nam và biên giới phía bắc cho đến khi rời quân ngũ trở thành nhà thơ thực sự Sống giữa thủ đô Hà Nội là một dịp để nhà thơ tự nhận thức về mình và dân tộc mình Ông vẫn giao tiếp với vợ con bằng tiếng Tày để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Nhà thơ cảm thấy buồn khi con em dân tộc ít người quên đi nguồn cội, quên đi bản sắc văn
hóa Y Phương tâm sự: “Cứ phải sống thẳng băng như đường mực Người làng dạy tôi
như vậy - Nhất định không bao giờ quỳ gối và nói lời cong để lấy lòng mọi người”
[29] Nhiều người từng quan niệm đời chỉ sống một lần vì thế phải sống sao cho đáng
Trang 13sống, Y Phương cũng vậy: “Ai cũng chỉ sống một lần Nên ta tranh thủ sống Tích cực
sống Nhiệt tình sống Hăm hở sống Sống như cháy đến giọt cuối cùng Sống phải đáng sống Sống không làm con bù nhìn” [29] Ông phần nào bộc bạch quan niệm
thuật một cách rõ ràng và có thể khẳng định “một nhà thơ có tư tưởng, có quan niệm
nghệ thuật là biểu hiện của một nhà thơ lớn” [6] Y Phương viết đều đặn kể từ khi bài
thơ đầu tiên được đăng báo năm 1973, tuy có những lúc “thơ xếp từng xấp, có bạn tâm
giao đến thì đọc, nhâm nhi với nỗi buồn cho qua ngày” [3, 290] Y Phương viết thật
lòng với những gì ông trông thấy và cảm nhận được, ông viết như đang tâm sự với bạn đọc Đôi khi đọc thơ Y Phương người đọc bắt gặp những suy nghĩ của chính mình mà nhà thơ đã nói hộ Những vần thơ Y Phương là lời nhắn nhủ, khuyên răn hãy giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Tày:
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đói
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc
Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục
( Nói với con)
Với Y Phương không có văn học thiểu số hay văn học đa số mà: “chỉ có tác phẩm văn
học hay hoặc dở mà thôi Chỉ có nhà văn thực sự tài năng và… Tác phẩm văn học có giá trị cao tự nó đã nói lên điều đó” [19] Lời nói khắc cốt ghi tâm mà nhà thơ Y
Phương học được ở nhà văn bậc đàn anh Vi Hồng: “Mình là người Tày, phải hiểu biết
cặn kẽ, thấu đáo và chỉ viết những gì gắn bó máu thịt với người vùng mình Tuyệt đối
Trang 14không vay mượn Ở đời có vay có trả, chẳng ai cho không ai cái gì bao giờ Tự làm lấy
- Phận sự của nhà văn miền núi là làm sao giúp cho dân tộc mình canh chừng với kẻ
ác, cái ác…Người miền núi thật thà ngây thơ nên rất dễ mắc lừa” [30] Đọc thơ Y
Phương, đặc biệt những bài tản văn giới thiệu phong tục tập quán của người Tày càng thấm thía hơn quan niệm sống và viết của nhà thơ Đúng như Y Phương bộc bạch: “Cuộc đời tôi sống và viết như tờ giấy này, có thể nhàu nát và rách nhưng
không mất lề” [55, 543].
1.2.2 Viết văn như một cuộc chơi đầy hứng khởi
Văn chương là “thuật ngữ có nhiều nghĩa và sắc thái Nghĩa rộng là tác phẩm
văn học nói chung, không phân biệt triết học, chính trị, lịch sử, văn hóa, quân sự Nghĩa hẹp hơn là tác phẩm văn học, nghệ thuật ngôn từ, thường chỉ tác phẩm thơ.”
[56, 401] Thơ là một hoạt động tinh thần rất phong phú và tinh tế trong đời sống con người Dù thơ là thể loại văn học được sản sinh ra từ sớm thế nhưng tìm một định
nghĩa đúng đắn và hoàn chỉnh cho thơ là điều không đơn giản “Thơ trong quá khứ là
sản phẩm sáng tạo phức hợp nhất, tinh tế nhất của những thành tựu văn hóa cổ xưa
Đó còn là vì thơ được các văn nhân, học giả xưa luôn xem là thể tài văn chương quan trọng bậc nhất, đồng thời bộc lộ rõ nhất đặc thù của văn theo nghĩa hẹp nhất của từ này” [86, 8-9] Trong quá trình sáng tác “khi mà vai trò của ngôn ngữ trong nghệ thuật thơ ca được chú ý nhiều hơn thì tất yếu sẽ xuất hiện các quan niệm khác nhau Có người cho rằng văn chương là một trò chơi, có người khẳng định thơ là một vũ khí, lại
có người cho rằng thơ là sự biểu đạt tâm trạng cá nhân hay cộng đồng” [65, 387]
Văn chương theo Y Phương là tác phẩm nghệ thuật ngôn từ bằng thơ Ông tìm đến thơ
để thể hiện những tâm tư, nỗi lòng, những điều mắt thấy, tai nghe Với Y Phương, văn chương – thơ là một thứ chơi Sáng tác văn chương là một trò chơi ngôn ngữ, bởi mỗi tác phẩm nghệ thuật là một công trình bằng ngôn từ, công trình ấy được xây dựng bằng các con chữ theo dụng ý nghệ thuật của nhà thơ Để có được những công trình nghệ thuật đặc sắc thì người nghệ sĩ phải thức cùng trang viết, trăn trở, suy ngẫm trên từng con chữ Trò chơi ngôn ngữ ấy Y Phương đưa ra yêu cầu bản thân ông phải thích
và người khác cũng phải thích “Người khác thích” chính là việc Y Phương quan tâm
đến độc giả, bởi lẽ trong quá trình sáng tác văn chương mối quan hệ giữa nhà văn và công chúng rất mật thiết Khi đề cập đến mối quan hệ giữa nhà văn với độc giả nhà thơ
Y Phương cho rằng: “giữa nhà văn, nhà thơ với độc giả chỉ là những người bạn -
Trang 15thông tin với nhau về tâm hồn, thông qua hình tượng nghệ thuật - nhà văn và bạn đọc không hề có khoảng cách - Và coi họ như những người bạn thì mới có thể bộc bạch hết lòng mình” [13] Theo lí luận văn chương thì bốn thành tố tạo nên chu kì một quá trình
sáng tác và thưởng thức văn học bao gồm: thời đại, nhà văn, tác phẩm, bạn đọc, trong
đó nhà văn - chủ thể sáng tạo đóng vai trò quan trọng nhất Khi ví văn chương với trò
chơi “là phải thấy hết sự tự nguyện, đam mê, không vụ lợi; chơi được cho mình thích
và người khác thích thì đã hàm chứa những điều cao cả và tốt đẹp trong đó rồi” [6].
Y Phương đến với cuộc sống, với công việc sáng tạo bằng tâm hồn giàu cảm xúc và khả năng quan sát tinh tế Từ đó, nhà thơ phát hiện ý nghĩa sâu xa trong từng sự vật hiện tượng rồi truyền những cảm xúc của mình vào thế giới nội tâm của người đọc
Để trở thành một nhà thơ có phong cách riêng, tạo dấu ấn trong lòng độc giả thì bản thân Y Phương đã không ngừng trau dồi tư tưởng, tình cảm, vốn sống, nhân cách sống, vốn văn hóa, nghệ thuật viết… Đối tượng mà ông thực sự quan tâm chính là độc giả -
mà độc giả đầu tiên lại chính là bản thân tác giả Chỉ khi tác giả cảm thấy yêu thích đứa con tinh thần của mình thì ông mới để đứa con ra tiếp xúc với bạn đọc Theo Y Phương, độc giả trình độ ngày càng cao vì thế bản thân nhà thơ phải thường xuyên trau
dồi kiến thức để theo kịp độc giả, và “nhà văn nào có ý định răn dạy người đời là một
sai lầm lớn” [13] Hơn nữa, sáng tác cũng như thưởng thức nghệ thuật đều nhằm thỏa
mãn nhu cầu được giao tiếp Vì thế “trong sáng tác, dù ít dù nhiều, tác giả cũng phải
đứng về phía người đọc mà viết, cho nên trong ngôn ngữ của tác giả đã có ngôn ngữ của người đọc” [52, 62].
Quá trình sáng tác của các nhà văn nhà thơ không ai giống ai Để một tác phẩm nghệ thuật ra đời có thể cần một thời gian dài suy ngẫm, cũng có thể chỉ một thời gian
ngắn do cảm hứng sáng tác bất ngờ Lao động nghệ thuật “trên địa hạt chữ đâu chỉ
thuần túy là trò chơi, đó thực chất là cuộc đấu tranh để khẳng định sự hiện diện của cái tôi nghệ sĩ trước áp lực của văn học, của thiết chế xã hội, chính trị kết đọng trong ngôn từ” [65, 373] Tác phẩm nghệ thuật sống với bạn đọc là do tìm được sự đồng
điệu với thị hiếu thẩm mĩ của độc giả Bài “Mùa hoa” là một minh chứng Bài thơ ra
đời khi tác giả đang học ở Trường viết văn Nguyễn Du, tình cờ nghe được một câu
chuyện đùa liên quan đến sự phồn thực của người Tày và “câu chuyện ấy trở thành nỗi
bức xúc nội tại thôi thúc mình sáng tác… Mình đã viết những câu thơ theo cách tư duy
và xây dựng hình tượng của người Tày… có lẽ vì thế mà bài thơ đã tìm được lối riêng
Trang 16đến với bạn đọc” [8] Bài thơ đã đi vào lòng độc giả Tạ Duy Anh trong “Người gảy khúc đàn trời” khi nói về sự tiếp nhận bài “Mùa hoa” của Y Phương đã khẳng
định: “Chính mắt tôi đã thấy nhiều thiếu nữ nắn nót chép vào sổ tay những câu thơ dễ
nhớ kia Còn ở Thái Nguyên, một lần vào một đêm trăng suông, mắt tôi nhìn và tai tôi nghe thấy gã con trai vừa đi dặt dẹo vừa hát những lời trên Gã có vẻ như bước ra từ bài thơ, giọng ngọt lịm” [3, 292] Có thể thấy “câu, chữ của tác phẩm văn học là kí hiệu thể hiện cho thế giới nghệ thuật được sáng tạo bằng tinh thần ấy, và thế giới ấy cũng chỉ được bộc lộ trọn vẹn hình thức nghệ thuật của nó trong thưởng thức, cảm thụ của người đọc, tức là trong tồn tại tinh thần đích thực của nó” [82, 26].
Văn chương có nhiều chức năng, nhưng khi nhắc đến văn chương thì ai cũng
biết khía cạnh giải trí là vô cùng quan trọng Bởi lẽ, “trong những khoái cảm mà nghệ
thuật đem lại còn có loại khoái cảm thưởng thức, tiếp nhận một cách vô tư Vì vậy có thể khẳng định tác dụng giải trí như một chức năng độc lập của văn học và nghệ thuật nói chung” [52, 59] Văn chương là một trò chơi Theo Phạm Quang Trung, “văn chương đem lại cho ta nỗi mênh mông, dâng hiến cho ta niềm hân hoan - Ý nghĩa đích thực của văn chương có lẽ là vậy, biến tài sản tinh thần của người viết gửi gắm qua tác phẩm thành nỗi riêng tây có sức lay động tâm trí mỗi người” [44] Mặc dù văn
chương là thứ chơi, nhưng lẽ tồn tại đích thực của văn chương là vì con người,và qua chất nghệ thuật để phục vụ cho con người Cũng giống như những người nghệ sĩ tài ba khác, trước sau ông vẫn nhất quán một xác tín nghề nghiệp:
Cao hơn cơm là nước
Cao hơn nước là khí trời
Cao hơn khí trời là em bồ-câu-lơ-mơ-thơ của ta.
(Bồ câu)
Y Phương hiểu rõ “không quan tâm tới khía cạnh giải trí là bỏ sót một khả năng tác
động và tự giới hạn tầm ảnh hưởng của văn học trong đời sống thực tiễn" [52, 59]
Thơ Y Phương thường ngắn gọn mà xúc tích, thông qua con chữ, nhà thơ muốn nói
với bạn đọc thật nhiều điều Bài thơ “Chơi râu” là một minh chứng - “Buộc nhiều
người phải giật mình”:
Trời bảo:
Ứ thèm chơi với ta đâu.
Tùy thôi.
Trang 17Nói tóm lại, Y Phương cũng như bao nghệ sĩ khác “là người cho đứa con tinh
thần của mình một cuộc đời Nhưng cuộc đời ấy ngắn ngủi hay dài lâu, anh ta không định đoạt được Quyền năng ấy thuộc về công chúng” [65, 430].
1.2.3 Viết văn như là một cách tri ân cuộc đời
Trả ơn là trách nhiệm của tất cả mọi người có ý thức đối với những người có
công sinh thành và nuôi dưỡng Từ xa xưa, tục ngữ đã có câu “Uống nước nhớ
nguồn” Y Phương trả ơn bằng cách góp phần bảo tồn văn hóa và chữ viết Có thể xem
tập thơ “Thất tàng lồm” là việc làm trả ơn đó Y Phương tâm sự: “Riêng tôi, tôi tự
phải có trách nhiệm với việc bảo tồn văn hóa và chữ viết của dân tộc mình nên dẫu nhuận bút có thấp, thậm chí không có thù lao, tôi vẫn tiếp tục sáng tác bằng cả hai thứ tiếng Trong dòng thơ song ngữ ấy, Ngược gió - Thất tàng lồm là tập đầu tiên…” [8].
Trả ơn nơi đã sinh ra ông – Trùng Khánh, Y Phương viết về quê hương bằng tất
cả tấm lòng mình Trùng Khánh là vùng đất đầy tinh thần thượng võ và giàu truyền thống văn hóa Những làn điệu dân ca ở Trùng Khánh đã nuôi dưỡng tâm hồn nhà thơ
Y Phương, nên nhà thơ thường nói: “Những gì mình làm được, đấy là của ông bà cả
thôi” Với Nguyễn Hữu Tiến câu nói của Y Phương “thể hiện đức khiêm tốn, lòng tôn kính của anh đối với di sản văn hóa dân tộc” [3, 271] Y Phương viết rất nhiều về
Trùng Khánh Những bài thơ viết về quê hương là những sáng tác thành công nhất của
Y Phương, như Lên Cao Bằng, Phòng tuyến Khau Liêu, Tên làng, Nói với con… Có thể khẳng định “anh là một nhà thơ chung thủy với quê hương” [3, 271] Sự tha thiết
với xứ sở dân tộc mình là nhịp tim thầm kín bền vững nhất trong từng bài thơ của Y
Phương và là cốt lõi trong giọng hát Y Phương Vì tâm nguyện “Văn chương là một
việc làm trả ơn những người sinh thành và nuôi dưỡng mình” nên ý muốn bảo tồn và
phát huy văn hóa dân tộc của nhà thơ rất lớn Y Phương có thể vẽ chân dung những người con của dân tộc mình, quê mình bằng những đường nét chắc chắn của nhận thức
Trang 18và tin yêu Y Phương khái quát hình ảnh họ, bên trong cái vẻ thô sơ là vẻ đẹp kì vĩ của
sử thi:
Da thịt người da thịt đất đai
Cùng một màu đồng hun lặng lẽ
Nặng nhọc cười
Nặng nhọc người đàn bà đeo gùi
Nặng nhọc hai bầu vú mọng căng như nước
Nặng nhọc hai bầu vú phì nhiêu như đất
Đất nước
Sinh ra từ ngực người đàn bà
Theo Trúc Thông, “Y Phương không yêu dân tộc mình ở đầu lưỡi, lạm dụng
chất dân tộc Qua tất cả những cảnh huống sinh hoạt vật chất và tinh thần hiện thực, những đam mê và đau khổ trần trụi, những chìm lặng không sao nói hết và những sự thật cuộc đời… Y Phương tiếp tục phát hiện về dân tộc mình” [3, 273] Vì mong muốn
trả ơn nên ý thức về quê hương, về cội nguồn trong thơ ông không phải là những cảm xúc mơ hồ bất chợt đến mà có chỗ vịn chắc chắn, có nguồn cơn sâu xa Khi sáng tác
thơ song ngữ “Ngược gió - Thất tàng lồm”, ông ý thức rõ: “Sáng tác thơ bằng tiếng
dân tộc là rất cần thiết Đó cũng là một cách tốt nhất để góp phần bảo tồn văn hóa và chữ viết” [8].
Khi Y Phương rời xa quê hương cũng là một dịp để nhà thơ tự kiểm nghiệm tình cảm của mình với dân làng Sống giữa thủ đô Hà Nội nhà thơ cảm thấy cô
đơn: “Người thì ở Hà Nội, nhưng hồn lại trở về làng - Người làng tôi là thảo
dân Thảo dân nên được bền như đất, giàu có như đất, ngọt ngào như đất, nhân ái khoan dung như đất Ôi người làng tôi Họ đẹp biết chừng nào” [29] Nhớ về họ, Y
Phương viết những bài tản văn như: Còn có một cái tết vía trâu, Về Trùng Khánh đắm
trong mưa hạt dẻ, Hội tung còn làng tôi, Tết anh cả, Cầu và cây số mệnh, Bận rộn như lửa, Chuyện ma gà và những giấc mơ đầy trứng, Hỏi người lòng cũng nông như vậy, Làm sao biết yêu sâu?
1.3 Từ quan niệm nghệ thuật đến “cái tôi” sáng tạo trong thơ Y Phương
Trong bất cứ thể loại văn học nào, con người bao giờ cũng là đối tượng miêu tả
và khám phá Tìm hiểu con người là khát vọng chân chính của các nhà thơ, nhà văn
“Văn học là nhân học, đối tượng thể hiện chủ yếu của nó là con người Không thể lí
Trang 19giải một hệ thống văn thơ mà bỏ qua con người được Không thể lí giải một hệ thống văn thơ mà bỏ qua con người được thể hiện ở trong đó” [82, 116] Con người là một
hình tượng nghệ thuật, mà hình tượng nghệ thuật có thể hiểu “là các khách thể đời
sống được nghệ sĩ tái hiện bằng tưởng tượng sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật Nói tới hình tượng nghệ thuật người ta thường nghĩ tới hình tượng con người, bao gồm cả hình tượng một tập thể người với những chi tiết biểu hiện cảm tính phong phú” [56, 147] Hình tượng con người trung tâm xuyên suốt các tác phẩm của Y
Phương chính là hình tượng người lính trong chiến tranh và hình tượng người phụ nữ Với người lính, chiến tranh là môi trường để họ rèn luyện và bộc lộ phẩm chất Còn hình tượng người phụ nữ là những con người cụ thể, gần với miền núi Nhà thơ cho rằng người phụ nữ đẻ ra thế giới, cần phải trân trọng và tôn vinh người phụ nữ
Y Phương sớm trải qua cuộc đời người lính Những trải nghiệm trong chiến tranh đã tạo cho Y Phương có cái nhìn chân thật, gần gũi về người lính Trong sáng tác
“quá trình vũ trang kiến thức là công việc thường xuyên, bền bỉ của mỗi nhà văn” [52,
102] Vì thế những trải nghiệm cuộc sống này là vốn tư liệu quí giá để nhà thơ sáng tác các tác phẩm về chiến tranh, đặc biệt là tạo dựng hình ảnh người lính Có thể xem Y Phương bắt đầu đời thơ của mình bằng những bài thơ viết về người lính Người lính trong thơ Y Phương cũng như trong văn học viết về chiến tranh là những con người có
ý chí lớn Rời bản làng, các anh xuống núi làm nhiệm vụ cao cả của người con đối với quê hương đất nước Trong kí ức của người dân bản, các chàng trai làng ra đi là đến
một nơi xa xôi, mang theo nỗi nhớ của buôn làng: Ngày xuống núi / Mây vướng chân /
Lá trúc non cánh ong / Tiếng lượn đi vòng / Rồi chui vào quả lê ngọt / Làm người ăn cũng xinh / Núi như trăm voi rùng mình / Suối như bạc ào ào chảy / Đâu phải đi chợ
xa / Cũng không vào rừng đốn gỗ / Mang đùm xôi bjooc phón khá to / Bọn con trai
bản mình đi đâu / Chắc là xa lắm (Người vùng cao).
Trên đường hành quân, hình ảnh người lính thật hào hùng Nhà thơ chỉ chọn những chi tiết tiêu biểu để làm nổi rõ hình ảnh của họ:
Các anh đi tuần
Ngôi sao trên đầu thắp lửa
Buốt từ sáng
Run đến chiều
Con chim không kêu được
Trang 20Các anh đi tuần còn lâu
Từ thung hoa lũng sâu
Đến bản Mèo
Bản Hẻo
(Tiếng vó ngựa trên đèo)
Có thể thấy, khi thể hiện hình ảnh người lính, Y Phương ít diễn tả một cách trực tiếp các sự kiện của chiến tranh mà chủ yếu nói về nỗi nhớ của người lính, nỗi nhớ hướng
về sự sống Những người lính trên đường hành quân làm nhiệm vụ có những lúc nổi lên những suy nghĩ rất riêng tư Thật khái quát chân dung người chiến sĩ tên Quế Đó
là hình ảnh người lính dân tộc vùng cao tiêu biểu Nhà thơ mô tả hình dáng bên ngoài
mà chất chứa nội tâm bên trong: Trán dô /Mũi thô / Môi dày / Chân đi dép bốn hai vẫn
thừa năm ngón / Nhịn đói không kêu / Nhịn khát không kêu / Thiếu ngủ không kêu / Hành quân bé cả người không kêu / Nhớ mẹ quá thì ngồi lên đá / Có lúc khóc không cho ai biết / Trốn ra sông vầy nước / Vẽ lên cát hình thù dãy núi quê hương / Vẽ lên cát mái trường phố huyện / Vẽ lên cát nhà sàn thoáng rộng / Vẽ lên cát người con gái cao cao / Vẽ lên cát thằng bạn đen đen / Vẽ lên cát con trâu bú mẹ / Chỉ có cát mới
hiểu lời tôi vẽ / Cát ấm lên tươi tốt dưới nắng vàng (Chín tháng).
Những người lính trong đội chiếu bóng được Y Phương dựng lên trong bài thơ “Kỉ
niệm đội chiếu bóng” cũng đầy ấn tượng:
Những ngày mưa hành quân
Ngã không khóc
Không cười
Nhưng
Rơi nước mắt
Dìu nhau đứng lên mà đi tiếp
Đi chiến đấu bảo vệ quê hương, nhưng nỗi nhớ nhà, nhớ người yêu như chỉ có dịp là trỗi dậy:
Góc rừng khuya nặng hạt sương buồn
Võng giống tay em ôm anh ngủ
Khẩu súng nằm nghiêng huýt gió lay
(Người vùng cao)
Trang 21Là người thanh niên sinh ra trong thời chiến tranh, Y Phương sớm nhận thức về trách
nhiệm của thế hệ mình với đất nước và dân tộc: Chúng con là lính Bác Hồ / Sinh ra từ
trăm miền phù sa đỏ / Có người xinh tươi câu quan họ / Có người cao to sli, lượn, Nàng ơi / Nhận khẩu súng, đeo ngôi sao / Đi dép lốp đạp bao thằng xâm lược / Ăn
cơm muối vừng mà thắng giặc / Lớn lên chân rắn đá mềm (Thưa mẹ chúng con đã
lớn).
Dù từ trăm miền đất nước nhưng khi đã chung nhiệm vụ, cùng chia sẻ gian lao thiếu
thốn, thì họ xem nhau như anh em ruột thịt Hình ảnh “Bếp Hoàng cầm” là hình ảnh
đẹp, gợi nhiều nghĩa tình giữa những người cùng chiến tuyến
Đất nước có chiến tranh, không thể có những ngày bình yên, nhiệm vụ của người lính
càng quan trọng hơn: Mùa xuân này / Không có tháng giêng / Anh em ra chiến hào /
Chiến hào mới đào / Đất bừng máu đỏ (Tiếng hát tháng giêng)
Hiểu được trọng trách thiêng liêng của người lính bởi vì “Cả đất nước trong vòng tay
ta giữ” (Tiếng hát tháng giêng) Hình ảnh những người lính cầm súng đánh giặc còn
rất trẻ, vừa rời mái trường ra trận:
Mười tám tuổi lần đầu lo gạo muối
Cõng nước lên lưng
Giữ Nước cao vời
(Tiếng gọi trong rừng)
Người lính trong kháng chiến chống Mĩ vào trận chiến đấu với ý thức chống giặc để bảo vệ quê hương, đất nước Họ rất vô tư, và thật đẹp:
Chiều nay
Chúng tôi về sông Hiến
Dưới hàng tre vừa đủ lá đan sàng
Người nằm nghiêng hút thuốc
Người thít lại dây giày
Người lau súng
Người trầm ngâm lá cỏ
Người khẽ hát đợi giờ súng nổ
Chưa hay trận đánh sẽ ra sao
(Sông Hiến đang yêu)
Trang 22Trên đường hành quân, những anh lính trẻ vẫn vô tư quan sát những gì diễn ra xung quanh Đó là cảnh thanh bình được Y Phương miêu tả qua bầy thỏ chơi trăng:
Thỏ vợ bên thỏ chồng
Nắm tay con nhảy múa
Để rồi khi có lệnh hành quân cấp tốc thì: Trong mắt ai cũng có / Bầy thỏ nhảy múa
Ngày ra quân, người lính trở về hậu phương, và kỉ niệm đẹp nhất với họ chính
là chiếc ba lô gắn bó suốt những năm tháng chiến tranh:
Nhắc đến thơ Y Phương không thể không nhắc tới bài thơ “Tên làng”, nó góp
phần tạo nên tên tuổi của ông Bằng cách xây dựng hình ảnh người lính sau chiến tranh thật đặc sắc, họ từ giã chiến trường trở về làng sống cuộc đời thường, với bao
điều mới lạ: Con là con trai của mẹ / Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ / Ba mươi tuổi từ
mặt trận trở về / Vội vàng cưới vợ / Ba mốt tuổi tập tành nhà cửa / Rào miếng vườn trồng cây rau / Hạnh phúc xinh xinh nho nhỏ ban đầu.
Nói tóm lại, hình ảnh người lính được nhà thơ Y Phương xây dựng thật đặc biệt, họ trẻ trung, yêu đời nhưng tràn đầy lòng tin chiến thắng
Trang 23Người phụ nữ là đề tài quen thuộc của các nhà thơ, nhà văn Mỗi người khai thác hình tượng người phụ nữ ở những khía cạnh khác nhau Với Y Phương, người phụ nữ đẻ ra thế giới vì thế cần phải trân trọng, tôn vinh họ Trong thơ, Y Phương khai thác hình tượng người phụ nữ miền núi với phẩm chất nhân hậu, thật thà, chất phác nhưng họ vô cùng quan trọng Người phụ nữ hiện lên trong thơ Y Phương phong phú, sinh động Đó là những người mẹ, người bà, người con gái vùng cao, chính họ là nguồn cội tạo nên thế giới Người phụ nữ, người mẹ là gốc rễ của sự sống:
Nặng nhọc người đàn bà đeo gùi
Âm ấm một bên vú phì nhiêu - Đất
Nong nóng một bên vú mọng căng - Nước
Đất - Nước sinh ra từ ngực người đàn bà
Sau đó sinh ra làng quê xóm mạc
Sinh ra tình yêu
(Chín tháng)
Trong thơ Y Phương, nổi lên hình ảnh người mẹ vùng cao với nỗi mong nhớ con trong những năm dài chiến tranh Thật cảm động khi người mẹ tuổi đã cao mà vẫn gắng sức,
để rồi bà ra đi mà vẫn còn mang theo nỗi nhớ con khắc khoải:
Mẹ bảy mươi đất rộng sông dài
Mỗi khi trái gió trở trời
Mẹ ở nhà không dám ốm
Cố nuôi năm nuôi tháng
Giữ trong nhà có một tiếng người
Cuối mùa màng hạt vãi hạt rơi
Mẹ ra nắng là mong con đến.
(Con mắt)
Bằng tư duy thơ bám chặt folklore của dân tộc mình, Y Phương mô tả hình ảnh người phụ nữ mang âm hưởng chất dân gian của người Tày Cách so sánh hình tượng người phụ nữ của nhà thơ thật giản dị, gần gũi, tương đồng với cách nói của người dân tộc Tày Họ nghĩ sao nói vậy, rất thẳng thắn, bộc trực:
Em là mực trong ngòi
Là cơm trong nồi
Là gà gáy
Trang 24Cũng là quả ớt
(Em -cơn mưa rào - ngọn lửa)
Việc vận dụng ngôn ngữ địa phương vào trong thơ là điều không mới lạ Có điều, Y Phương vận dụng thường nhuần nhị:
Mé yêu con lắm nhưng không giữ
Mé thả con mình theo nước về xuôi
(Người vùng cao)
Ý thức bảo tồn văn hóa mạnh mẽ thể hiện trong thơ Y Phương bằng một câu chuyện cảm động về người mẹ Tày Người mẹ đau đớn tìm đến cái chết vì người con của bà đi lính trở về làng mới ba tháng đã có nhiều thay đổi mà thay đổi lớn nhất chính là quên tiếng mẹ đẻ Nhà thơ muốn nhắc nhở chớ quên đi cội nguồn vì như thế sẽ làm tổn
thương đến những người mình yêu thương nhất: Người lính vật vã khóc / Gọi / Mé ơi /
Đúng giọng người làng tôi / Người mẹ khẽ mỉm cười / Rồi từ từ nhắm mắt (Tiếng mẹ
đẻ).
Kể cả trong đời sống riêng tư, người phụ nữ cũng được Y Phương xây dựng đầy ấn tượng Người phụ nữ chờ chồng hóa đá là biểu tượng đẹp cho lòng thủy chung đã đi
vào thơ văn Trong bài “Người đàn bà bị phụ tình”, nỗi đau của người phụ nữ bị phụ
tình được nhà thơ thể hiện bằng cảnh buồn đến mức bất động hóa thành đá trong đêm Không gian vào ban đêm càng làm tăng thêm nỗi cô đơn của người phụ nữ:
Đêm đêm
Người đàn bà khóc trong mơ
Cười trong mơ
Nhắc đến hình tượng người phụ nữ trong thơ Y Phương dễ nhớ đến bài “Mùa
hoa” Bài thơ mang đậm chất dân gian của người Tày, “diễn tả rõ khéo sức đội đá vá trời của người đàn bà vào mùa yêu đương” [87, 173] Đọc “Mùa hoa”, người ta cảm
nhận một sức sống hừng hực có thể ví như là ngọn lửa sưởi ấm lòng người giữa cái giá
Trang 25rét của chốn rừng núi nhiều ảm đạm, lắm nỗi buồn Dưới ngòi bút tài hoa của Y Phương chuyện riêng tư vốn ít ai dám đưa ra bàn luận trước mọi người lại trở nên thơ
mộng, ý vị và yêu thương Đúng như nhà thơ Phạm Quốc Ca cho rằng: “Nhà thơ dân
tộc Tày Y Phương trong bài thơ Mùa hoa đã đề cập đến tình dục thật tinh tế, đậm sắc thái dân gian” [46, 95]:
Mệt như chiếc áo rũ
Vừa vịn rào đi vừa ngái ngủ.
Bên cạnh hình ảnh người mẹ là hình tượng người bà Dù bà không còn nữa
nhưng bà mãi ở trong lòng con cháu - một người bà nhân hậu, hết lòng vì cháu con
Ấn tượng cuối cùng về bà của nhà thơ chính là bát cháo đồng bà múc cho cháu Để rồi
cứ vào vụ tháng sáu tháng bảy, khi thấy những con ốc đồng quen thuộc, thì hình ảnh
người bà lại hiện về trong lòng tác giả: Ngày ấy / Lưng bà còng / Mái đầu chạm đất /
Cặp mắt đục / Bà lê tấm thân ra tận cửa / Giơ cả hai tay run run như cọng lá gianh / Cháu của bà còn bé kin kin / Chạy trốn nhanh như sóc / Bà cười / Miệng méo xệch /
Dấn ra hai ngấn nước (Con ốc của bà).
Ngoài kỉ niệm bát cháo ốc của bà thì lời ru cũng là kỉ niệm đẹp luôn theo tác
giả: Ngày xưa tôi ở với bà / Mẹ đi chợ huyện / Đường xa / Chưa về / Bà ru / Tôi không
ngủ / Nằm nghe / Tiếng ru hóm hém / Lập lòe / Bà trông/ … / Bà tôi khuất núi / Tôi đi
xa / Lời ru đau đáu la đà nhện giăng (Lời ru).
Người bà - người phụ nữ vùng cao được Y Phương tái dựng thật gian khổ, thế nhưng vẫn lạc quan, thể hiện qua nụ cười giòn tan:
Cả một đời chắp vá
Cả một đời tạm bợ
Bà cụ cười giòn tan
Trang 26Tám mươi năm sống trong thế gian
Nghiên cứu hình tượng người lính và hình tượng người phụ nữ trong thơ Y
Phương, ta thấy “hình tượng không chỉ tái hiện đời sống mà còn cải biến nó để tạo ra
một thế giới mới, chưa từng có trong hiện thực Đó là quan hệ giữa tác giả với hình tượng, với cuộc sống trong tác phẩm” [56, 148] Và đó là những hình tượng nghệ thuật
thể hiện tập trung các giá trị nhân học và thẩm mĩ mà nhà thơ Y Phương muốn thể hiện
Chương 2
“Cảm hứng chủ đạo là một yếu tố của bản thân nội dung nghệ thuật, của thái
độ tư tưởng xúc cảm ở nghệ sĩ đối với thế giới được mô tả Cảm hứng chủ đạo thống nhất với đề tài và tư tưởng của tác phẩm Cảm hứng chủ đạo đem lại cho tác phẩm một không khí xúc cảm tinh thần nhất định, thống nhất tất cả các cấp độ và yếu tố của nội dung tác phẩm Đây là cái mức căng thẳng xúc cảm mà nhờ đó nghệ sĩ khẳng định các nguyên tắc thế giới quan của mình trong tác phẩm” [56, 45] Nghiên cứu thơ Y
Phương có thể thấy cảm hứng chủ đạo trong thơ ông chính là cảm hứng về quê hương Cao Bằng và đất nước Việt Nam - những nơi Y Phương từng đi qua Khi sáng tạo nghệ thuật, sự rung động thường bắt nguồn từ những cảm xúc thành thực Từ tấm lòng của mỗi người con Cao Bằng, Y Phương cảm thấy đau xót khi quê hương đất nước chịu cảnh chiến tranh, nhân dân lầm than, đói khổ Ông tự hào về những truyền thống văn hóa, lịch sử của dân tộc Tày Đất nước hòa bình, mọi sinh hoạt của đời sống bản làng
đi vào ổn định, cũng tạo xúc cảm cho nhà thơ sáng tác Y Phương như con ong cần mẫn hút nhụy, tạo hương thơm cho đời
Thế giới nghệ thuật thơ Y Phương vô cùng phong phú và sinh động nên mỗi bài thơ viết về quê hương của ông được vẽ bằng những nét vẽ riêng độc đáo, không
Trang 27trùng lặp, bởi với Y Phương: “cái gì đã tìm ra, là mới mẻ, đáng yêu hôm nay, nếu ngày
mai lặp lại sẽ thành một thứ công thức” [3, 276] Bên cạnh đó, quê hương trong truyền
thống văn hóa cũng là nguồn cảm hứng lớn xuyên suốt các sáng tác của nhà thơ Y Phương Thông qua đó phần nào người đọc hiểu biết thêm về vốn văn hóa của người
Tày Nghiên cứu thơ Y Phương có thể nhận thấy “thế giới chủ quan của con người,
cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ được trình bày trực tiếp, và làm thành nội dung chủ yếu”
[81, 181] của thơ ông Việc tái hiện những con người có quan hệ thân thuộc như ông
bà với con cháu, cha mẹ với con cái, quan hệ vợ chồng… đã thể hiện niềm yêu đời, yêu con người của nhà thơ Y Phương
2.1 Cảm hứng chung về quê hương đất nước
Quê hương là nguồn cảm hứng của những người cầm bút sáng tác, đây là đề tài không mới Mỗi nhà thơ góp vào thi đàn những cảm nhận vừa mới mẻ vừa riêng tư làm cho hình tượng đất nước hiện lên trong thơ ca sinh động, đa dạng và tươi đẹp Điều quan trọng là làm thế nào để tạo được những tác phẩm gây ấn tượng với người
đọc Y Phương đã làm được điều đó Tên tuổi của ông gắn với bài thơ “Tên làng” và
vinh dự đối với nhà thơ là bài thơ này đã được tuyển chọn trong số 100 bài thơ hay thế kỉ XX – do Trung tâm Văn hóa Doanh nhân Việt Nam và Nhà xuất bản Giáo dục
phối hợp tổ chức bình chọn Trong “Tên làng” Y Phương đã giới thiệu với bạn đọc
một cách tự hào về nơi chôn nhau cắt rốn của mình, một miền quê:
Có ngôi nhà xây bằng đá hộc
Có con đường trâu bò vàng đen đi kìn kịt
Có niềm vui lúa chín tràn về
Có tình yêu tan thành tiếng thác
Vang lên trời
Vọng xuống đất
Cái tên làng Hiếu Lễ của con.
Trưởng thành trong những năm chống Mĩ, Y Phương vào cuộc kháng chiến với sức mạnh của niềm tin và tuổi trẻ Từ đó, đúng như Nguyễn Hữu Tiến nhận xét ông trở
thành “một cây bút chung thủy với quê hương” [3, 270].
Từ quê hương Cao Bằng nhà thơ Y Phương đến với đất nước Việt Nam Ông
gửi gắm tình cảm về đất nước qua cách sử dụng từ “nước” một cách khéo léo: Mười
Trang 28tám tuổi lần đầu lo gạo muối / Cõng nước lên lưng / Giữ Nước cao vời (Tiếng gọi
trong rừng).
Chữ nước viết thường là nước uống, chữ Nước viết hoa là Đất nước - Tổ Quốc Y
Phương lúc nào cũng thấy làng bản quê mình, dân tộc mình lẫn trong cái chung của cả đất nước và cả dân tộc Việt Nam
Đất nước có chiến tranh, Y Phương rời bản làng cầm súng chiến đấu bảo vệ
quê hương, đó là trách nhiệm và nghĩa vụ của người thanh niên đối với quê hương đất nước và đó cũng là nhận thức của người mẹ:
Sớm nay
Mẹ thả ra đồng
Đứa con phổng phao
Trao cho Đất nước.
(Chín tháng)
Đứa con ra đi với niềm mơ ước và hi vọng: Con mơ đi xa thật xa / Mơ về một chiều /
Không nhớ chiều nào / Thung lũng A Sao hoa mua ngăn ngắt tím (Chín tháng).
Với tình yêu quê hương tha thiết, Y Phương đặc biệt nhạy cảm với những nỗi đau, cơ cực của đất nước do chiến tranh tàn phá Là một nhà thơ đồng thời cũng là một chiến sĩ, Y Phương cũng như bao nhà thơ - chiến sĩ cùng thời khác, giáp mặt với thực
tế chiến đấu, ý thức sâu sắc vị trí, vai trò của thế hệ mình đối với đất nước trong hoàn
cảnh lúc bấy giờ Cùng với việc “nói nhiều hơn về nỗi buồn nhân sinh về những cảm
nhận của cái tôi trước một thực tại khắc nghiệt” [65, 380], nhà thơ còn ghi lại cảm xúc
của mình về quê hương, cảnh thanh bình giờ nhường chỗ cho cảnh tan hoang do bom giặc tạo nên:
Mặt trận đây rồi giữa ngàn cây
Bom giặc nổ không sao nhớ nổi
Máu loang mặt đường tóc rối
Trang 29Bài ca ấy ở trong tôi
Mỗi khi hát đầm đìa nước mắt
Thương cho dân tộc mình lao đao bốn mặt
Những phương trời lửa vừa tắt, lại bừng lên.
Ngày ăn không yên
Đêm ngủ không yên.
(Người sinh ra bài ca)
Vùng quê ấy từ khi có giặc tàn phá đã cướp đi niềm vui của người dân Tày trong mùa
trẩy hội tháng giêng, họ đành chấp nhận để “Câu hát tháng giêng cất vào hoa đá”
Đọc thơ của các nhà thơ hiện đại khi viết về đất nước Việt Nam thì hầu như nổi lên
hình ảnh đất nước nghèo khó Y Phương cũng thế: Dẫn em qua một vùng toàn đá / Đá
lô nhô như sóng triều dâng / Em có buồn? sao em bâng khuâng / Quê hương mãi
nghèo thế ( Tiếng hát tháng giêng).
Quê hương Phủ Trùng với khí hậu khắc nghiệt đi vào thơ Y Phương thật tự
nhiên Chính “màu sắc đời thường trong thơ đã giúp cho thơ trở nên đời hơn, gần gũi
hơn với cuộc sống” [65, 386] Những vần thơ viết về quê hương rất thật: Mùa đông / Qua Phủ Trùng / Thổi ầm ầm / Dội ào ào / Chén rượu vừa rót ra / Đã lạt đi một nửa / Chén trà vừa rót ra / Đã nguội tanh nguội ngắt / Có thứ gió làm da người mốc thếch /
Lửa lung lay không chín được nồi cơm (Gió Phủ Trùng).
Đến với Cao Bằng - quê hương ruột thịt của mình, cảm giác đầu tiên của Y Phương chính là nỗi buồn vô hạn bởi cảnh sắc mịt mù mây trắng, hơi núi lạnh buốt xương Từ đó, người đọc dễ đồng cảm với nhà thơ khi ông không kìm nén nổi:
Tôi thét lên một tiếng
Buồn
Núi trước mặt
Sau lưng đều nghe tiếng
Lá mục trên đầu
Trang 30Gỗ nát dưới chân nghe tiếng.
(Nỗi buồn tan ra)
Nhưng sau tiếng thét, nỗi buồn tê tái ấy là tình cảm yêu thương quê hương da diết của
ông Tạ Duy Anh trong bài viết “Người gảy khúc đàn trời” từng nhận xét: “Sau khi
thét lên, hơn lúc nào hết, ông thấy thương quê hương mình da diết, một tình thương chỉ có ở tấm lòng hướng về cội nguồn” [3, 289] Y Phương viết:
Buồn thì buồn
Đất mẹ ta ở đây
Mai ta lên rừng chặt cây.
(Nỗi buồn tan ra)
Y Phương không ngần ngại khi nói về sự thiếu thốn của người dân làng bản quê
mình: Trưa nay ở quê tôi / Thóc gạo trong nhà cạn vơi / Trẻ con mót sắn trên đồi /
Người lớn vác thuổng vào rừng đào củ mài / Các mẹ các chị mặc vải rách / Các em
các con đi chân đất (Giữa tiếng chào mời).
Nhà Mạc rút khỏi Thăng Long còn duy trì sự tồn tại ở Cao Bằng một thời gian Cuộc giao tranh giữa quân nhà Mạc và các tướng nhà Lê đã để lại đây nhiều dấu vết văn hóa Dấu tích văn hóa nơi quê hương Cao Bằng là niềm tự hào của nhà thơ Y Phương Cảm xúc khi đứng trước đền vua Lê được Y Phương khắc họa:
Thành cổ đổ nát
Những viên gạch vồ
Những viên đá tảng
Lăn lóc trong cỏ cây lúp xúp
Bỗng có con trăn mào đỏ
dịp đề cập tới trong bài “Tiếng gọi trong rừng”:
Tình yêu đầu tiên
Từ núi Các Mác
Trang 31Suối Lênin
Bác là đầu nguồn
Lời hiệu triệu tạc mòn đá tảng.
“Tiếng suối trong như tiếng hát xa” là cảm giác của Bác khi nghe tiếng suối Nhiều người nghe tiếng suối lại thấy như tiếng đàn, “Y Phương thấy tiếng đàn ấy phải cụ thể
là đàn tính và bản đàn kia phải là đàn then” [3, 265] Nhớ về quê hương Cao Bằng
trong kháng chiến thì đàn then vẫn luôn giữ một ấn tượng sâu sắc:
Một điệu then nghe xa xưa
Một giọng hò nghe lơ mơ
Tiếng mõ trâu nhột nhạt
Ánh mặt trời xòe nan quạt
Rừng một thời kháng chiến
Tiếng gọi nhau vách đá
Âm vang như trống đồng
(Tiếng gọi trong rừng)
Y Phương từng được trao giải nhất về thơ trong cuộc thi của tạp chí Văn nghệ
Quân đội năm 1983-1984 với chùm thơ Phòng tuyến Khau Liêu, Tên làng, Nói với
con Cả ba bài nhà thơ đều giới thiệu về quê hương của ông – Cao Bằng Có thể nói, Y
Phương là nhà thơ chung thủy với quê hương Miêu tả Phòng tuyến Khau Liêu rất chân thực vì ông vừa trực tiếp cầm súng, vừa trực tiếp cầm bút Ông kết hợp bút pháp hiện thực và bút pháp lãng mạn tạo cho bài thơ một dấu ấn riêng:
Phòng tuyến thứ nhất
Nhọn hoắt lá
Sáng những mắt cườm
Bàn tay nhuộm chàm
Bàn tay hoa ra mặt vải
Bàn tay như củ gừng đẽo đá
Phòng tuyến thứ hai
Mỗi mỏm đá một người cầm súng.
(Phòng tuyến Khau Liêu)
Trang 32“Không một nhà thơ nào không có một phần cuộc đời của mình sống ở những vùng
quê hoặc là nơi chôn rau cắt rốn, hoặc là những miền quê tản cư, sơ tán trong những năm chiến tranh” [53, 64] Sự rung động của hồn thơ Y Phương khi đề cập tới vấn đề
trung tâm của thời đại, khi đối diện với sự sống còn của quê hương, đất nước là những rung động chính trị Vì thế, cảnh giặc tàn phá quê hương là nỗi căm hờn của mỗi người dân Chỉ bằng một nét vẽ đơn giản Y Phương đã phác họa cảnh tan tác của bản làng:
Cái tàu bay Mĩ ác hơn beo
Ném bom cây cháy khóc xèo xèo
Những người lính lom khom / Súng báng gập / Vượt qua đường / Thoắt hiện nơi này /
Thoắt biến đằng kia / Biển ầm ì / Trời ầm ì / Làng Quảng Trị nhào trong đất bột (Chín
tháng).
Trong cảnh chiến tranh ấy người dân chịu nhiều đau thương mất mát nhất:
Giặc lại đến
Ầm ì quần đảo
Bom lại rơi
Người chết oằn lên.
(Chín tháng)
Tội ác hủy diệt của giặc được phơi bày thật thương tâm:
Sau trận tập kích
Giặc lui về
Dưới chân cô gái nhiều em bé
Trong lòng cô gái – một bà mẹ
Trang 33diệt, tiềm tàng của dân tộc: Tiếp cho Đất nước / Là bàn tay chú bé / Vẽ lên trời chữ A
/ Muôn vàn tinh tú mờ đi / Đọng lại niềm vui long lanh mắt mẹ / Làm hồng ngọn lửa / Thắp lên sáng đèn / Lịch sử hiện dần trên mặt vải / Dân tộc vừa bơi thuyền vừa hát trường ca Khảm hải / Búa có vai / Cày có lưỡi giúp người / Đi hết đất / Đến mút trời /
Tòe bàn chân Giao Chỉ / Đất nước / Chưa một ngày yên nghỉ (Chín tháng).
Y Phương nói lên cái bi tráng của cả dân tộc trong những năm đánh giặc Dân tộc phải để những chàng trai cô gái còn rất trẻ ra mặt trận Biết bao người chưa kịp sống hết tuổi thơ của mình đã ý thức được trách nhiệm Và biết bao nhiêu người lên đường không về mà người người vẫn nối tiếp ra đi Những chàng trai, cô gái nguyện hi sinh cho đất nước khi tuổi mới mười tám đôi mươi:
Hát nữa đi
Múa nữa đi
Hát bừa phứa chơi chơi
Múa bừa phứa chơi chơi
Chiến trường cần tiếng cười
Dẫu có chết đâu phải là hết
(Chín tháng)
Dẫu biết rằng sự hi sinh của những người lính trẻ là vì chính nghĩa, sự hi sinh là hào hùng nhưng những dòng thơ trên của Y Phương khiến người đọc không khỏi xót thương
Y Phương viết về quê hương với tất cả niềm tự hào và đầy trách nhiệm Niềm
tự hào của nhà thơ về đất nước với những người con anh dũng, quên mình để Tổ Quốc quyết sinh:
Tôi lớn lên đánh giặc xa nhà
Đêm đêm nghe tiếng nước
Hát bài ca
Những người đi chân đất
(Bài ca những người đi chân đất)
Người lính Tày Hứa Vĩnh Sước cũng như bao đồng đội khác để đổi lấy cuộc sống bình yên có khi phải hi sinh một phần thân thể Vết thương ấy là nỗi nhức nhối đối với người lính cho dù chiến tranh đã lùi xa Trở về quê hương mang theo ba mươi sáu vết thương trên mình, nhà thơ Y Phương đã được chính cây cỏ quê nhà chữa lành tật bệnh:
Trang 34Con là con trai của mẹ
Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ
Mang trong mình cơn sốt cao nguyên
Mang trên mình ba sáu vết thương
Ơn cây cỏ quê nhà
Chữa cho con lành lặn.
(Tên làng)
Cảm hứng về đất nước trong thơ thường được khơi nguồn từ những con người thân quen, cảnh vật gợi kỉ niệm cho đến những dòng sông, cánh đồng, con đường… Y Phương cũng vậy, ông thường viết về những dòng sông Bởi lẽ, quê hương ai cũng có một dòng sông Dòng sông quê hương là kí ức, nỗi nhớ của chàng trai trẻ Hứa Vĩnh Sước:
Con sông Quy còm nhom
Cõng người sang ràn rạt
(Tiếng hát tháng giêng)
Ngoài con sông Quy người đọc còn tìm thấy trong thơ Y Phương con sông Bằng, sông Hiến, sông Hồng Mỗi con sông dưới ngòi bút của nhà thơ hiện lên với dáng vẻ khác nhau Nếu như sông Quy được tác giả nhân hóa như con người với vóc
dáng “còm nhom” thì sông Bằng dù gọi là sông nhưng nhà thơ mô tả ở thời điểm đặc
biệt - nước sông không chảy:
Chẳng hiểu sao
Những mùa dài sông Bằng không chảy
Nước đóng băng như thể chết rồi
(Những mùa sông Bằng không chảy)
Trong thơ trữ tình, có thể có tả cảnh, kể việc Những yếu tố này chỉ có ý nghĩa phụ
thuộc và đều hòa vào tâm trạng, suy nghĩ chủ quan của nhà thơ Bài thơ “Bằng Giang
biếc xanh” là một ví dụ Con sông Bằng do thiên nhiên ban tặng dưới cái nhìn của nhà
thơ trở nên một kì quan thiên nhiên Bằng Giang bận rộn bốn mùa nhưng lúc nào cũng
hát: Bao nhiêu trời ghé xuống / Bao nhiêu rừng lội qua / Bao nhiêu đá chắt ra / Mới
biếc xanh Bằng Giang / Bằng Giang / Con sông quê / Bốn mùa bận rộn / Nhận cơn mưa từ trên ngàn về / Đầu nguồn sáng / Bất ngờ / Cơn lũ dữ / Bằng Giang vẫn bình yên đưa đón / Những mảng bè xuôi ngược.
Trang 35Sông Hồng từng là nguồn cảm hứng sáng tác của nhiều nhà thơ, có khi hiền hòa, êm ả nhưng cũng có lúc cuồn cuộn hung hãn Sông Hồng mang biết bao phù sa
bồi đắp cho cuộc sống “Đã có nhiều người làm thơ về con sông vốn là hiện thân của
đồng bằng Bắc Bộ, hơn thế, còn là một trong những biểu tượng của Tổ Quốc Việt Nam yêu dấu của chúng ta Thế mà bài thơ của Y Phương vẫn giành được chỗ đứng danh
dự nhờ có được sự hài hòa giữa cái chung và cái riêng” [87, 173] Dưới ngòi bút Y
Phương sông Hồng hiện lên dưới nhiều góc độ khác nhau:
Em vừa chảy qua nhiều miền nóng
Nên quả gì cũng chóng chín
Nơi có mặt trời mặt trăng nhịp nhàng rơi
Xuống bông hoa xoay tròn
Thèm làm bầy ong bay bay tìm mật
Em tự đốt đời mình đỏ rực
Làm con sông nhỏ nhoi của cha
Chảy hiền hòa cho mẹ
Từng ồn ào náo nhiệt trong anh
Em vỗ đến chân trời xa tắp
Em vừa đi vừa sinh ra đất.
(Sông Hồng)
Sông Hiến được nhân hóa như con người cũng biết yêu thương:
Từ hai bờ sông Hiến vọt lên
Chỗ hàng tre xanh chồm tung vó ngựa
Vườn tôi ra quả hồng quả nhớ
Trông cây mưa lá nắng giữa đời.
(Sông Hiến đang yêu)
Từ quê hương Cao Bằng nhà thơ liên tưởng đến đất nước Việt Nam Phải thật
sự gắn bó và yêu thương đất nước mãnh liệt Y Phương mới có cách so sánh thật đặc biệt, ví mối quan hệ giữa dân tộc Việt Nam với đất nước như tằm và tơ:
Ai cũng như con tằm
Nhả tơ cho dân tộc
Tổ quốc Việt Nam vàng ươm.
(Tổ quốc)
Trang 36Đất nước Việt Nam, Tổ quốc Việt Nam là người mẹ lớn, với Y Phương người mẹ ấy là
Mẹ đất mãi mãi dâng cho đời, cho con người những hoa thơm trái ngọt:
Dồn tinh hoa cho đời
Mẹ đất mãi còn ngon ngọt.
(Mẹ đất)
Chiến tranh đã lùi xa hơn 30 năm, nhưng những vần thơ của Y Phương viết về chiến tranh khiến ta càng thấm thía cái giá mà dân tộc và nhân dân ta phải đổi để có được độc lập như ngày hôm nay, từ đó giúp ta càng trân trọng những gì mình đang có
2.2 Quê hương trong truyền thống văn hóa
Nhà thơ Y Phương là người dân tộc Tày, cảm hứng về quê hương trong truyền
thống văn hóa cũng là văn hóa của người Tày Tác giả từng tự hào: “Người Tày - một
trong những nhánh tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái Nhóm ngôn ngữ này kéo dài thành một vệt từ miền Nam Trung Quốc đến Việt Bắc, Tây Bắc của Việt Nam Kéo đến Lào sang Thái Lan qua Mianma Thậm chí đến tận Ấn Độ cũng có một nhóm tộc người San, thuộc ngữ hệ Tày – Thái” [35] Ở Việt Nam, theo số liệu điều tra năm
1989 thì người Tày có khoảng 1.190.342 người và địa bàn cư trú chủ yếu ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Thái, Lào Cai, Quảng Ninh, Yên Thái, Hà Bắc, Lâm Đồng, Sơn La, Đắc Lắc
Văn hóa có thể hiểu “là một hệ thống các giá trị vật chất và các giá trị tinh
thần do con người sáng tạo ra và sử dụng các giá trị ấy trong quá trình hoạt động thực tiễn của mình” [48] Nghiên cứu cảm hứng về truyền thống văn hóa của quê
hương nhà thơ Y Phương cần dựa trên cơ sở này Tìm hiểu văn hóa của người Tày ta thấy có những nét tương đồng trong quan niệm với người Kinh Chẳng hạn, cả người Kinh và người Tày đều cho là đàn ông có 3 hồn 7 vía, đàn bà có 3 hồn 9 vía Hồn gốc
có thể rời khỏi xác đi lang thang ở trần gian, lên Mường trời, sang thế giới bên kia rồi lại về nhập vào xác người sống có hồn ấy
Để tìm hiểu tác phẩm văn học được kĩ lưỡng người nghiên cứu cần đặt tác phẩm dưới nhiều góc độ khác nhau và cần nghiên cứu theo phương pháp liên ngành Một trong những liên ngành hay được áp dụng chính là văn học và văn hóa học Hầu hết sáng tác thơ văn đều chứa dấu ấn văn hóa Ý thức bảo tồn văn hóa của Y Phương
thật lớn Điều này thể hiện rõ khi nhà thơ sáng tác Theo Y Phương, “muốn sống đàng
Trang 37hoàng như một con người, tôi nghĩ phải bám vào văn hóa Phải tin vào những giá trị tích cực vĩnh cửu của văn hóa” [12].
Riêng bài “Nói với con” được đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ văn
lớp 9 thì ngoài tình cảm đơn thuần của người cha tâm sự với đứa con gái của mình thì
ý nghĩa sâu hơn mà tác giả muốn truyền đến người đọc chính là dù khó khăn đến mấy
cũng không nên đánh mất đạo đức, văn hóa bởi vì theo ông “văn hóa dân tộc là tài sản
lớn” Lời khuyên đầy ý nghĩa khi ông nói với con:
Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đói.
Điều ông tự hào là phong tục người Tày, một nét đẹp truyền thống văn hóa:
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục.
Và để bảo tồn nét đẹp văn hóa của dân tộc mình, sống giữa thủ đô Hà Nội, ông vẫn giao tiếp với các thành viên trong gia đình bằng tiếng Tày
Có thể áp dụng phương pháp liên ngành khi tiếp cận bài thơ “Nói với con” để
hiểu một cách tường tận tác phẩm Khi giảng, ngoài chú thích trong sách giáo khoa giáo viên cần nắm bắt thêm một số nét đẹp văn hóa liên quan đến ý thơ Chẳng hạn,
câu “Vách nhà ken câu hát” là yếu tố phi vật thể Y Phương lấy chính phong tục của
dân tộc mình để diễn ý câu thơ này Những cuộc hò hẹn của những đôi trai gái diễn ra rất nên thơ Chàng trai ngồi ngoài vách, cô gái ở bên trong vách, hai người hát cho
nhau nghe, họ có thể hát thâu đêm đến khi trời sáng Vì thế, theo tác giả “bức vách ở
đây không chỉ là một bức vách cụ thể bằng đất bằng đá nữa Nó đã trở thành một chủ thể văn hóa” [12] Nếu không áp dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành Văn học –
Văn hóa học thì bài giảng của giáo viên sẽ không được sâu, không gây được ấn tượng đối với học sinh, và đặc biệt không truyền được vốn văn hóa dân tộc Tày theo dụng ý của nhà thơ
Yếu tố văn hóa này còn được Y Phương thể hiện trong bài “Có một mối tình”:
Tôi còn nhớ
Có một mối tình
Cứ đêm đêm đèn đuốc đến tìm
Vách nhà rách người hát tình ca
Trang 38Năm chị tôi mười tám.
Y Phương trong bài “Thưa mẹ chúng con đã lớn” gắng ghi lại sự hình thành,
từng bước đi và bộ mặt tinh thần của dân tộc qua hơn bốn ngàn năm lịch sử Ông tìm
về với truyền thống dân tộc bằng cảm hứng dạt dào, yêu thương:
Mẹ
Người con gái Âu Lạc
Trâm bằng đồng
Trống bằng đồng
Đám cưới sang sông đằm nhịp chèo hò hụi
Vó ngựa sắt bay lên đỉnh núi
Tre ngà mọc với đoàn quân
Chúng con đi nhớ rét nàng Bân
Trang phục thể hiện phong tục tập quán của một dân tộc Trang phục của những thiếu nữ Tày là chiếc áo chàm xinh xắn góp phần tôn thêm nét thanh xuân của người
thiếu nữ và “là cảnh đẹp thơ mộng của cuộc sống núi rừng” [3, 284]:
Những cô gái áo chàm
Lơ ngơ đi trên cỏ
Ơ hay trời chẳng gió
Áo chàm tung cánh bay.
Theo phong tục của người Tày hầu như tháng nào cũng có tết, nhưng tết tháng
giêng là cái tết to nhất: “Cái tết anh cả Tết khởi đầu trong năm” [36] Chính vì thế:
Mỗi năm mười hai tháng vận chuyển
Bướm ong tìm làm bạn với hoa
Trai gái dù mấy xa cũng về trẩy hội…
Trang 39(Tiếng hát tháng giêng)
Không khí ngày tết thật vui nhộn: Tết đến làng / Eng éc tiếng lợn kêu / Thụp thùm
chày giã gạo / Ơi ới người gọi người / Khắp cánh đồng râm ran tiếng núi / Tết đến nhà / Lá vừa thơm / Hoa vừa non / Quả vừa giòn / Con cái nhà ai đi ngang qua e thẹn / Tết vào nhà / Bố lửa cười / Cột nhà hồng / Con dao cái cuốc nghỉ chơi ăn bánh / Tết
ở lại / Mưa sương như hoa rơi / Trời dần ấm / Rừng đào ló lé nụ / Muôn mặt cười
(Mặt hồng cười).
Phong tục tập quán là nét đẹp văn hóa, cũng là nguồn tư liệu để nhà thơ Y Phương khai thác Ngày lễ tết ở buôn làng hầu như nhà nào cũng chuẩn bị kĩ lưỡng
thậm chí chuẩn bị cho tết tháng giêng ngay từ sau rằm tháng bảy: “Tết tháng giêng hẹn
từ tháng bảy” (Lên Cao Bằng) “Đàn bà con gái lo chắp vải quả còn Họ thường thêu đôi chim hòa bình đậu trên cành hoa đào Cành hoa rũ xuống ôm lấy hình quả trám Hình quả trám lọt vào ngôi sao tám cánh Họ cho rằng đây là số mệnh của người con gái trên vuông vải nhỏ Nó sẽ là quà lưu niệm cho người mình yêu” [36] Nét đẹp văn
hóa này đi vào thơ Y Phương thật dễ thương:
Mẹ sinh anh làm trai
Cha sinh em làm gái
Em là quà của núi
Cho không anh mang về.
(Qùa của núi)
Tháng hai có tết Thanh Minh Thời tiết trong tết Thanh Minh thường ấm áp, xen lẫn khí núi thanh sạch và lòng người thanh thản Một trong những nét đẹp văn hóa vùng cao khác không thể thiếu cần được bảo tồn là chợ tình Nét đẹp văn hóa này từng gợi sự tò mò của biết bao du khách trong và ngoài nước Chợ tình là nơi gặp gỡ của biết bao đôi lứa yêu nhau, cũng là nơi hò hẹn của những người không đến được với nhau:
Em như rượu ngọt làm anh say
Anh sơ ý em tuồn qua kẽ hở
Trang 40Dù ốm
Dù đau
Cố lết mà đi gặp lại bạn tình.
(Ngày chợ Thanh Minh)
Tết Tảo mộ vào tháng ba, “con cháu dù có đi làm ăn nơi xa cũng lặn lội tìm về
cội nguồn… Đến ngày Tảo mộ mà vắng mặt, lập tức bị người làng chê cười Người anh em trong họ mạc trách mắng Người trong nhà thì bực tức và giận dữ Cả năm có một ngày gặp lại tổ tiên, ông bà cha mẹ…thế mà không thấy tăm hơi đâu” [38] Tín
ngưỡng là nét đẹp văn hóa tồn tại lâu đời Cúng giỗ ông bà tổ tiên đã khuất là biểu hiện của văn hóa tâm linh còn tồn tại đến cả thời hiện đại Có thể thấy đây là nét đẹp văn hóa cần được giữ gìn và phát huy để hướng về cội nguồn, vì con người phải có tổ
có tông Nét văn hóa này không chỉ ở người Tày mà cả ở người Việt:
Mồng một hôm rằm
Con thắp hương cúng cha.
(Ngựa hồng)
Không chỉ thờ cúng tổ tiên, người Tày còn có những nét văn hóa tâm linh đặc
biệt khác như chuyện sinh nở được em bé cũng khấn vái, niệm thần phật: Khúc củi
hừng hực cháy / Còn gang nữa đến trời / Bà rút ra / Dí xuống đáy nồi / Niệm thần phật / Trăm ngày thì cháu tôi biết ngồi / Ngàn ngày thì biết chạy / Vạn ngày biết bay / Bay lẫn vào rừng cây / Nhòa vào rừng hoa / Lúc lỉu bám lên cành làm ngọt / Tao treo
mày lên cửa / Báo cho cả làng / Trong nhà đang có hòn vàng (Chín tháng).
Theo phong tục của người Tày hầu như mỗi tháng âm lịch đều có một ngày tết Ngoài những cái tết kể trên thì tháng tư có tết Hạ Chí, tháng năm tết Đoan ngọ, tháng sáu tết Vía trâu Tết Vía trâu diễn ra vào ngày 6 tháng 6 âm lịch Có nơi gọi là Tết rửa
cày bừa “Cả làng cả tổng ai cũng gọi trâu ơi Gọi trâu như gọi người” [23] Tết Vía
trâu gợi cho con người lòng biết ơn sâu sắc Nếu không hiểu cái tết Vía trâu thì không thể cảm nhận được cái hay, sâu sắc trong những câu thơ:
Bài hát chăn trâu
Một thời ai cũng hát
Vọng từ núi Lũng Ang
Truyền sang Kéo Tác
Tiếng trẻ trâu long lanh hoi hoi như đồng cỏ