Khi cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước kết thúc, đất nước được sống trong hòa bình với cuộc sống no ấm của nhân dân thì thơ Thanh Hải vẫn gây được sự chú ý nhiều của các nhà nghiên cứu,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÃ THỊ THANH NGA
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ THANH HẢI
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lý luận Văn học
Mã số: 60.22.01.20
Người hướng dẫn khoa học: TS Diêu Thị Lan Phương
Hà Nội - 2016
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
3 Đối tượng, mục đích và phạm vi nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Cấu trúc luận văn 9
CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC THƠ CỦA THANH HẢI 10
1.1 Một số vấn đề lí luận về Thế giới nghệ thuật 10
1.1.1 Khái niệm Thế giới nghệ thuật 10
1.1.2 Thế giới nghệ thuật trong thơ trữ tình 12
1.2 Hành trình sáng tác thơ Thanh Hải 13
1.2.1 Thơ Thanh Hải trong dòng chảy chung của thơ kháng chiến chống Mĩ 13
1.2.1.1 Thơ chống Mĩ - một nền thơ chiến đấu 14
1.2.1.2 Thơ chống Mĩ- bài ca thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng và vẻ đẹp tâm hồn con người Việt Nam 17
1.2.1.3 Thơ chống Mĩ- Tiếng nói thống nhất đa dạng 20
1.2.2 Vài nét về Thanh Hải 24
1.2.2.1 Thơ Thanh Hải trong cuộc kháng chiến chống Mĩ 24
1.2.2.2 Thơ Thanh Hải trong cuộc sống hoà bình 29
CHƯƠNG 2 NHỮNG NGUỒN CẢM HỨNG VÀ HÌNH TƯỢNG TRONG THƠ THANH HẢI 31
2.1 Những nguồn cảm hứng trong thơ Thanh Hải 31
2.1.1 Cảm hứng đất nước và thời đại trong chiến tranh 31
2.1.2 Cảm hứng về con người 38
2.1.3 Cảm hứng về đời thường trong cuộc sống hòa bình 41
Trang 32.2 Hình tượng trong thơ Thanh Hải 44
2.2.1 Cái tôi Trữ tình 44
2.2.1.1 Khái niệm về cái tôi trữ tình 44
2.2.1.2 Cái tôi công dân trong chiến tranh 46
2.2.1.3 Cái tôi nghị lực trong cuộc sống hòa bình 49
2.2.2 Những hình ảnh tiêu biểu 51
2.2.2.1 Hình ảnh những người chiến sĩ trung kiên 51
2.2.2.2 Hình ảnh Hồ Chí Minh 56
2.2.2.3 Hình ảnh nhân dân 58
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NGHỆ THUẬT ĐẶC SẮC TRONG THƠ THANH HẢI 64
3.1 Nghệ thuật xây dựng hình ảnh và biểu tượng 64
3.2 Ngôn ngữ và giọng điệu 71
3.3 Thể thơ 76
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học nghiên cứu của riêng tôi, có
sự hỗ trợ từ Giảng viên hướng dẫn là TS Diêu Thị Lan Phương Các nội dung nghiên cứu và kết quả của đề tài này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu nào trước đây Nếu phát hiện có bất kỳ
sự gian dối nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình
Hà Nội, ngày 1 tháng 12 năm 2016
Lã Thị Thanh Nga
Trang 5Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày 1 tháng 12 năm 2016
Lã Thị Thanh Nga
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nói đến thế hệ nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, chúng ta không thể không nhắc tới nhà thơ Thanh Hải Người đọc biết đến thơ ông vào đầu thập niên 60 của thế kỉ XX Những bài thơ ấy đã tạo ra được tiếng vang lớn bởi thuyết phục thế hệ bạn đọc trẻ lúc bấy giờ không chỉ bằng sự nhiệt tình nóng bỏng, bằng sức hấp dẫn của những vấn đề đặt ra mà còn
vì sự ra đời của nó trong hoàn cảnh chiến đấu vô cùng gian khổ của dân tộc
Từ tập thơ đầu tay của ông “Những đồng chí trung kiên” (1962) đến
“Huế mùa xuân” ( tập 1 năm 1970, tập 2 năm 1975) và tiếp sau đó là “Dấu võng Trường Sơn” (1977), “Mưa xuân đất này” (1982) đã thể hiện một cách chân thành những cảm xúc của tác giả đối với quê hương, đất nước, con người trong những năm tháng vô cùng khốc liệt của cuộc chiến tranh và những giây phút hòa bình Một thành phố Huế bình yên, thơ mộng bỗng trở thành chiến trường ác liệt Một khung trời bình yên của vùng quê thanh bình trong tâm trí nhà thơ bỗng chốc trở thành khung trời ám ảnh bao nỗi đau đớn trong lòng người đọc Cùng với các nhà thơ Dương Hương Ly, Thu Bồn, Lê Anh Xuân, Viễn Phương, Nguyễn Khoa Điềm, nhà thơ Thanh Hải đã tạo ra một dấu ấn riêng biệt trong lòng bạn đọc Khi cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước kết thúc, đất nước được sống trong hòa bình với cuộc sống no ấm của nhân dân thì thơ Thanh Hải vẫn gây được sự chú ý nhiều của các nhà nghiên cứu, nhà phê bình văn học, trong đó phải kể đến những bài thơ được in trong tập “Mưa xuân đất này” đặc biệt là bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” được ông sáng tác trước khi con tim ông ngừng đập Thơ của Thanh Hải từ lâu đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường,
vì thế việc nghiên cứu Thế giới nghệ thuật thơ Thanh Hải được đặt ra như một
nhu cầu bức thiết đối với mỗi người đọc chúng ta Với luận văn này, chúng tôi
hi vọng ít nhiều sẽ góp phần giúp chúng ta mở rộng kiến thức trong quá trình giảng dạy trên lớp đồng thời giúp những bạn đọc yêu mến thơ Thanh Hải có một cái nhìn khái quát, sâu sắc và đầy đủ hơn về một nhà thơ, một người chiến sĩ cách mạng
Trang 72 Lịch sử vấn đề
Thanh Hải sinh ra trong một gia đình nghèo, cha làm nghề dạy học, mẹ
là một phụ nữ nông thôn chân chất hiền lành, đôn hậu Từ nhỏ ông đã sớm hiểu chuyện đời, lại được thừa hưởng chất trí tuệ của người cha nên Thanh Hải say
mê văn chương nghệ thuật Thế nhưng mãi đến những năm 60 của thế kỉ người đọc mới biết đến thơ ông Năm 1965 Hội Văn nghệ Giải phóng công bố Giải thưởng Văn học nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu Có tất cả 54 tác phẩm được
tặng thưởng Trong 15 giải chính thức về thơ có 4 giải chính Đó là tập Quê
hương của Giang Nam, Bài ca chim Chơ rao của Thu Bồn, Những đồng chí
trung kiên của Thanh Hải, và Tập thơ của nhiều tác giả Từ đây Thanh Hải bắt
đầu được khẳng định
Sự nghiệp sáng tác của Thanh Hải không nhiều, chỉ gồm các tập thơ
“Những đồng chí trung kiên” (1962), “Huế mùa xuân” (tập 1-1970, tập 2-1975),
“Dấu võng Trường Sơn” (1977), “Mưa xuân đất này” (1982) Nhưng trong các tác phẩm của Thanh Hải đều thể hiện một cảm xúc chân thành, nhiệt huyết của người lính trẻ trong chiến tranh Trong những tác phẩm của Thanh Hải đều thể hiện một cảm xúc đầy chân thành, nhiệt huyết của người lính trẻ trong chiến
tranh “người đọc tìm thấy ở ông sự kết hợp giữa trí tuệ và cảm xúc, giữa lòng
khát khao lí tưởng với những tình cảm riêng tư của con người Bước vào chiến tranh đã có sau lưng một thời của tuổi trẻ sôi nổi, một lí tưởng cách mạng rõ ràng và lòng tin vào con đường mà dân tộc đã chọn” [28 tr 481] Đây chính là
một đặc điểm quan trọng làm nên chất men trong cảm hứng của thơ Thanh Hải nói riêng và thơ của thế hệ các nhà thơ thời kì kháng chiến chống Mĩ nói chung
Vì vậy mà thơ Thanh Hải đã dành được sự quan tâm, góp ý của độc giả và các nhà nghiên cứu phê bình
Điểm qua lịch sử nghiên cứu thơ Thanh Hải, chúng tôi nhận thấy không nhiều bài viết về tác giả này Và các bài nghiên cứu, phê bình của các tác giả đi trước mới chỉ là các bài viết giới thiệu về tập thơ, những bài riêng lẻ, những khía cạnh nổi bật nào đó trong thơ hay có khi chỉ là những bài phê bình ngắn gọn, sơ lược về phong cách nghệ thuật của thơ ông Tất cả những bài viết
đó được in trên các tạp chí, báo, hoặc được sưu tập lại cùng với một số nhà thơ
Trang 8khác như công trình nghiên cứu của Vũ Tiến Quỳnh “Thu Bồn, Lê Anh Xuân,
Thanh Hải, Giang Nam, Viễn Phương- Tuyển chọn và trích dẫn những bài phê
bình- Bình luận văn học của các nhà văn và các nhà nghiên cứu Việt Nam
Năm 1960 với bài thơ Mồ anh hoa nở, Thanh Hải đã giành giải nhất
cuộc thi thơ báo Thống Nhất Nhà phê bình Hoài Thanh nhân sự kiện này đã có
đôi lời viết về Thanh Hải: “Thanh Hải chưa phải là một nhà thơ lớn Nhưng một
khi tiếng nói của cách mạng vút lên được thành thơ thì dẫu chưa phải một nhà thơ lớn vẫn rất quý” [41, tr 12] Lời nhận xét ấy của Hoài Thanh phải chăng một
lần nữa chứng minh Thanh Hải là một nhà thơ chiến sĩ, nhà thơ cách mạng
Nhiều bài thơ của Thanh Hải đã được bạn đọc nhớ tới như các bài Tấm băng vẫn
đi đầu, A Vầu không chết, Mồ anh hoa nở, Núi vẫn nhớ người vẫn thương… Sau
này tập hợp in thành tập thơ Những đồng chí trung kiên (NXB Văn học, Hà Nội,
1962) Tập thơ Những đồng chí trung kiên gồm những bài thơ được viết trong
một thời kỳ gian khổ của cách mạng miền Nam (giai đoạn 1954-1960) Những bài thơ kể lại một cách bình dị mà sâu sắc tội ác của kẻ thù, tình cảm xót xa của
sự chia cắt và cách biệt, niềm khát khao Bắc Nam thống nhất đồng thời nêu cao tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất của nhân dân và các chiến sĩ cách mạng miền Nam
Năm 1980, trước khi trái tim ngừng đập, ông còn để lại cho đời khao khát, ước mơ cháy bỏng được dâng hiến cho quê hương, đất nước qua bài thơ
“Mùa xuân nhỏ nhỏ” làm rung động hàng triệu trái tim độc giả
Như vậy, vẻ đẹp trong thơ Thanh Hải rất phong phú, đa dạng nhưng
chưa được khai thác nhiều Với Thế giới nghệ thuật thơ Thanh Hải, chúng tôi
hi vọng sẽ làm nổi bật được những vẫn đề thú vị, cũng như sự vận động về tư
tưởng của một nhà thơ cách mạng
3 Đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề Thế giới nghệ thuật qua các tập thơ:
- Những đồng chí trung kiên- Nxb Văn học, 1962
- Huế mùa xuân- Nxb Văn nghệ Giải phóng, 2 tập ( tập 1- 1970, tập 2-1975)
Trang 9- Dấu võng Trường Sơn- Nxb Văn học Hà Nội 1977
- Mưa xuân đất này- NxbTác phẩm mới Hà Nội- 1982)
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Để tìm hiểu đề tài Thế giới nghệ thuật thơ Thanh Hải, ngoài khảo sát và
trích dẫn các tập thơ chính của ông, chúng tôi còn mở rộng, liên hệ nền thơ ca chống Mĩ và các tác giả khác
3.3 Mục đích nghiên cứu:
Thông qua việc tìm hiểu Thế giới nghệ thuật trong thơ Thanh Hải, người
đọc phần nào hiểu được phong cách thơ Thanh Hải cũng như những đóng góp của ông đối với nền thơ ca chống Mĩ
Từ thế giới nghệ thuật của một nhà thơ, công trình cũng hướng đến và chỉ
ra được những đặc tính chung nhất trong thơ ca của các tác giả cùng thời
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp tiếp cận thi pháp học
Sử dụng phương pháp phân tích, chúng tôi đi sâu vào từng bài thơ, tập thơ cụ thể để khai thác thế giới nghệ thuật, cái tôi trữ tình Từ đó nhằm làm nổi bật những đặc điểm quan trọng về nội dung và nghệ thuật thơ Thanh Hải
4.2 Phương pháp phân tích tiểu sử- xã hội
Tiểu sử và xã hội có một ảnh hưởng không nhỏ đến những cung bậc tình cảm của mỗi người nghệ sĩ Với phương pháp này sẽ giúp chúng ta nhìn nhận rõ nét về tâm hồn thơ Thanh Hải
4.3 Phương pháp phân tích tác phẩm
Đây là phương pháp cơ bản và phổ biến trong nghiên cứu văn học nói chung nên chúng tôi sẽ vận dụng phương pháp này để phân tích câu thơ, khổ thơ, đoạn thơ, bài thơ có tính chất tiêu biểu, điển hình để minh họa cho những luận điểm trong luận văn
4.4 Phương pháp thống kê, so sánh, tổng hợp:
Sử dụng phương pháp thống kê, hệ thống hóa nhằm tìm ra một các chính xác số lần xuất hiện của các hình tượng và so sánh được tần suất xuất hiện giữa các hình tượng Từ đó khái quát lại, rút ra đặc điểm chung và riêng của thơ Thanh Hải ở chặng trước và trong thời kì đổi mới
Trang 105 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Khái quát về thế giới nghệ thuật và hành trình sáng tác thơ của Thanh Hải
Chương 2: Những nguồn cảm hứng chính và hình tượng trong thơ Thanh Hải Chương 3: Một số nét đặc sắc trong nghệ thuật thơ Thanh Hải
Tài liệu tham khảo
Trang 11Chương 1: KHÁI QUÁT THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VÀ HÀNH TRÌNH
SÁNG TÁC THƠ THANH HẢI
1.1 Một số vấn đề lí luận về Thế giới nghệ thuật
1.1.1 Khái niệm Thế giới nghệ thuật
Thế giới nghệ thuật là một chỉnh thể nghệ thuật bao gồm tất cả các yếu
tố, các cấp độ của sáng tạo nghệ thuật Nghiên cứu thế giới nghệ thuật là để tìm hiểu quy luật sáng tạo của chủ thể, quan niệm về nghệ thuật, cuộc sống, nhân sinh của người nghệ sĩ Thế giới nghệ thuật là một thế giới thứ hai do người nghệ sĩ sáng tạo ra Một mặt nó phản ánh phần nào thế giới hiện thực, mặt khác
nó là biểu hiện khát vọng chân, thiện, mĩ và khao khát sáng tạo của người nghệ
sĩ Với ý nghĩa này, vấn đề đặt ra là cần phải có một khái niệm thật bao quát, thật đầy đủ để làm cơ sở cho việc tiếp cận các hiện tượng, tác giả văn học
Thế giới nghệ thuật là một thuật ngữ mang tính khái niệm được sử dụng ngày càng phổ biến trong đời sống và trong học thuật Nó được sử dụng khi chúng ta có nhu cầu diễn đạt ý niệm về cái chỉnh thể bên trong của sáng tác nghệ thuật ( một tác phẩm, một trào lưu, một quá trình sáng tác của tác giả)
Khái niệm Thế giới nghệ thuật là một khái niệm của thi pháp học Trong
cuốn “Tinh hoa lí luận văn học cổ điển Trung Quốc”, tác giả Phương Lựu có
trích dẫn quan điểm của Lưu Hiệp (nhà lí luận cổ đại Trung Hoa) về sự thống nhất giữa nội dung và hình thức Lưu Hiệp quan niệm một tác phẩm văn học phải đảm bảo 6 yếu tố:
1 Tình cảm sâu mà không dối
2 Việc chắc mà không ba hoa
3 Phong thái mà không tạp
4 Nghĩa thẳng mà không quanh co
5 Thể gọn mà không rườm rà
6 Văn đẹp mà không dâm
Ngoài ra ông còn nhấn mạnh các phương diện khác như ngôn ngữ, kết cấu với những nhận xét sâu sắc, những so sánh độc đáo…
Trang 12Theo Từ điển thuật ngữ văn học- bộ mới, khái niệm Thế giới nghệ thuật
được định nghĩa bằng những luận điểm cơ bản sau đây:
- Thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật Sáng tác văn học là một thế giới có tổ chức và có sự sống riêng, phụ thuộc vào ý thức sáng tạo của tác giả Nó xác định tính độc lập tương đối so với thế giới tự nhiên, thế giới xã hội
- Thế giới nghệ thuật là thế giới tinh thần, kết quả của trí tưởng tượng sáng tạo, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lí của con người mặc dù nó phản ánh thế giới ấy
- Thế giới nghệ thuật là mô hình nghệ thuật có cấu trúc riêng, quy luật riêng, thể hiện các đặc điểm con người, tâm lí, không gian, thời gian, đồ vật, xã hội,…Nó tương ứng với thế giới quan, nhân sinh quan, vũ trụ quan của chủ thể sáng tạo
- Thứ tư, thế giới nghệ thuật còn là thực tại tinh thần mà người đọc ở vào khi sống với tác phẩm
Theo Chu Văn Sơn trong cuốn “Ba đỉnh cao Thơ mới: Xuân Diệu,
Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử” quan niệm: “Xét đến cùng Thế giới nghệ của mỗi nhà văn chính là thế giới hình tượng sống động ( với tất cả tính phong phú đa dạng và tính hệ thống tinh vi của nó), chứa đựng một quan niệm nhân sinh và thẩm mĩ nào đó, được xây cất bằng chất liệu ngôn từ Như vậy thế giới nghệ thuật vừa là con đẻ, vừa là hiện thân của tư tưởng và thi pháp Thế giới ấy, tất cũng vận động, biến chuyển theo sự vận động, biến chuyển của tư tưởng nghệ sĩ Bởi thế nó dứt khoát là một kiến trúc vừa tĩnh vừa động Diện mạo của Thế giới nghệ thuật chính là bức chân dung tinh thần của người nghệ sĩ” [ 35 tr 24]
Lê Tiến Dũng lại cho rằng: “Qua văn bản ngôn từ, người đọc bắt gặp
“bức tranh đời sống”, một thế giới như ta đã gặp đâu đó trong đời, nhưng lại chưa gặp bao giờ Người ta gọi lớp này là lớp thế giới nghệ thuật hay là lớp hình tượng” “Mỗi nhà văn, mỗi thời đại sáng tạo ra một thế giới nghệ thuật riêng Tiếp nhận được thế giới nghệ thuật này là cơ sở để hiểu tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm, cảm nhận được những gì mà nhà văn miêu tả, kí thác cũng như cái nhìn, quan niệm của nhà văn về con người, cuộc sống” [5 tr 11]
Trang 13Khẳng định Thế giới nghệ thuật là một chỉnh thể ngoài việc chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa các yếu tố còn giúp người nghiên cứu tránh được những suy diễn chủ quan, lệch lạc trong việc khám phá, chiếm lĩnh Thế giới nghệ thuật Dựa vào nội hàm Thế giới nghệ thuật đã được trình bày ở trên, chúng tôi có thêm cơ sở lí luận để tiếp cận sáng tác thơ của Thanh Hải Từ các sáng tác ở bốn tập thơ, chúng tôi kết nối để hình dung, khái quát về thế giới mà nhà thơ đã tạo lập, sau đó đi tìm hiểu các đặc điểm của thế giới ấy và cố gắng tạo lập một lần nữa thế giới ấy bằng cảm nhận chủ quan của cá nhân
1.1.2 Thế giới nghệ thuật trong thơ trữ tình
Thơ trữ tình là một thuật ngữ nhằm để phân biệt với các thể loại khác trong thể loại trữ tình và thơ tự sự Nó có ý nghĩa là phương tiện để con người ta
tự khẳng định bản thân mình, xây dựng hình tượng về mình, xác định chí hướng, lập trường, giá trị cuộc sống, đồng thời là phương tiện thể hiện thế giới tinh thần của nhà thơ Thơ trữ tình có khả năng khơi gợi và bộc lộ cảm xúc rất lớn Cảm xúc là bản sắc riêng của từng cá thể nhưng thơ cũng như các thể loại văn học khác đều bắt nguồn từ hiện thực đời sống nên trong thơ trữ tình chúng ta nhận ra
cả hiện thực cuộc sống, chuyện thế sự, chuyện đời tư, chuyện chung, chuyện riêng,…Dù nói gì đi nữa thì thơ trữ tình vẫn là “bản tự thuật của tâm trạng”
(Poxpelop), là “những vương quốc chủ quan” ( Bêlinxki ) Cuốn Từ điển thuật
ngữ văn học đã đưa ra một khái niệm tương đối trọn vẹn về thơ trữ tình Thơ trữ
tình là các thể thơ mà trong đó “những cảm xúc, suy tư của nhà thơ hoặc của
nhân vật trữ tình trước các hiện tượng đời sống được thể hiện một cách trực tiếp Tính chất cá thể hóa của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hóa của sự thể hiện là những dấu hiệu tiêu biểu của thơ trữ tình Là tiếng hát của tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng thể hiện những biểu hiện phức tạp của thế giới nội tâm, từ các cung bậc của tình cảm cho tới những chính kiến, những tư tưởng triết học”
[14 tr 317]
Tác giả Lê Quang Hưng trong cuốn “Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu
trước thời kì 1945” đã đưa ra một khái niệm về Thế giới nghệ thuật thơ trữ tình:
“Thế giới nghệ thuật thơ trữ tình là một chỉnh thể thống nhất bao hàm các thành
Trang 14tố cấu trúc và các quy luật cấu trúc chung thể hiện quá trình cái tôi nhà thơ nội cảm hóa thế giới khách quan bằng tưởng tượng của mình Một mặt thế giới nghệ thuật ấy gắn liền với kinh nghiệm cá nhân, với phong cách sáng tác của bản thân nhà thơ, mặt khác nó phản ánh trình độ sáng tác của một giai đoạn lịch sử, một thời đại” [17 tr 30]
Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử quan niệm: “Văn bản thơ không chỉ gồm
câu chữ, vần điệu, ngắt nhịp…mà bao gồm cả thế giới hình tượng bên trong như một thế giới sống đặc thù Phải miêu tả thế giới ấy cho dù nó khác với thế giới thực tại như thế nào, có vẻ vô lí như thế nào Đó chính là thế giới chủ quan nội cảm của tác phẩm” [32 tr 6]
Thế giới nghệ thuật thơ trữ tình ở mỗi thời đại, mỗi trào lưu sáng tác lại mang những nét đặc trưng riêng Nếu thế giới thơ trữ tình Trung đại chủ yếu xoay quanh hai thành tố: Cái “ta” và Thế giới thì đến thế giới hiện đại lại là cái
“tôi” và Thế giới Nói đến thơ trữ tình là nói đến cảm xúc của chủ thể, thế giới chủ quan của nhà thơ Những cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của nhà thơ thể hiện trong thế giới nghệ thuật chính là những biểu hiện của cái “tôi” và các nguyên tắc thể hiện nó Muốn tiếp cận được Thế giới nghệ thuật của thơ phải nhận diện được “cái tôi trữ tình” Không phải nhà thơ xưng tôi thì cái tôi ấy mới được bộc
lộ mà cái tôi ấy được bộc lộ qua tư thế trữ tình, giọng điệu trữ tình hay mẫu hình
lí tưởng mà hồn thơ ấy tôn thờ Bên cạnh “cái tôi trữ tình”, thì thế giới nghệ thuật, hiểu như môi trường tự nhiên, xã hội bao quanh cái tôi (không gian, thời gian, các nhân vật trữ tình) là yếu tố không thể thiếu để xây dựng nên thế giới nghệ thuật thơ
1.2 Hành trình sáng tác thơ Thanh Hải
1.2.1 Thơ Thanh Hải trong dòng chảy chung của thơ kháng chiến chống Mĩ
Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước vĩ đại của dân tộc Việt Nam đã
khơi dậy nguồn cảm hứng lớn lao cho văn học nói chung và cho thơ ca chống
Mĩ nói riêng Nhìn trên bình diện lớn, nền thơ chống Mĩ được hình thành từ nhiều thế hệ nhà thơ: Thế hệ nhà thơ xuất hiện từ trước cách mạng như Tố Hữu,
Trang 15Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Tế Hanh…, thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Pháp như: Chính Hữu, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông,…và thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước như: Lê Anh Xuân, Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Nguyễn Khoa Điềm, Giang Nam, Thanh Hải,…Có thể nói phong trào thơ ca chống Mĩ đã đóng góp cho nền thơ ca hiện đại Việt Nam một giọng điệu riêng, nó mang hơi thở của dân tộc, của thời đại, nó cổ vũ mạnh mẽ đối với toàn quân, toàn dân trong cuộc chiến đấu ác liệt của dân tộc “ Nó là một nền thơ thống nhất Bắc- Nam” [39 tr 130]
1.2.1.1 Thơ chống Mĩ - một nền thơ chiến đấu
Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước vĩ đại đã sản sinh ra một nền thơ
lớn mà tính chiến đấu là đặc điểm bao trùm, nổi bật Trải qua hơn 30 năm, nền thơ chống Mĩ là tiếng nói của dân tộc Việt Nam- một dân tộc đứng vào hàng ngũ tiên phong của các dân tộc chống chủ nghĩa Đế quốc Khởi sinh trên mảnh đất giàu tinh thần dân tộc, giàu lòng yêu nước nên nền thơ chiến đấu ấy mang những nét rất riêng của Việt Nam Ở đó có một truyền thống riêng, một quá trình phát triển riêng không thể lẫn vào bất cứ nền thơ của một dân tộc nào Nó phản ánh sâu sắc, đầy đủ những nét đặc thù của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, những nét đặc thù của tâm hồn con người Việt Nam bất khuất, kiên cường trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm, góp phần làm nên những trang lịch sử vẻ vang, chói lọi của thơ ca hiện đại
Nói đến tính chiến đấu trong phong trào chống Mĩ cứu nước, trước tiên
ta phải nói đến tính thời sự nhạy bén Đó là sự hòa nhập vào thời cuộc, là sự phản ánh kịp thời của cuộc chiến đấu đang diễn ra nóng bỏng của dân tộc mà thế
hệ các nhà thơ phải thực sự lăn xả vào thì mới có những kinh nghiệm quý báu và sâu sắc đến vậy Nhà thơ Chế Lan Viên từng viết:
Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy Bên những chiến sĩ diệt xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi
( Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng )
Trang 16Hay nhà thơ Chính Hữu cũng sung sướng tự hào vì được hòa mình vào biển người mênh mông trong cuộc hành trình lớn của cả dân tộc trong bài thơ
Đường ra mặt trận:
Sung sướng bao nhiêu: tôi là đồng đội Của những người đi, vô tận, hôm nay “Tính thời sự- đó là yêu cầu nâng cao hiệu quả chiến đấu của thơ kháng chiến đồng thời cũng là sự phản ứng nhạy bén trước tình hình của trận đánh mà nhà thơ đã tham gia với tư cách là một chiến sĩ” [40 tr 133] Có thể nói trong những năm tháng chống Mĩ cứu nước, không có một mảnh đất nào, một chiến công nào, một anh hùng tiêu biểu nào, một sự kiện có tầm quan trọng nào lại không có mặt trong thơ và có mặt ngay trong cái dáng dấp sống động và không khí nóng hổi chất thời sự Điều đó là một minh chứng thể hiện trách nhiệm của một công dân và cảm hứng của người nghệ sĩ trong các nhà thơ Họ đã có một quá trình dài tu dưỡng, rèn luyện, bám sát vào hiện thực đời sống để từ có có ý thức nhạy bén, tạo được những cảm xúc kịp thời trước những sự kiện, những biến cố lớn của thời đại Tính thời sự của nền thơ chống Mĩ đã thực sự tạo ra một đường nét mới, rất đáng tự hào trong truyền thống đấu tranh của các nhà thơ cách mạng Đây chính là một đặc điểm nổi bật hơn so với nền thơ ca thời kì kháng chiến chống Pháp
Bên cạnh tính thời sự nóng hổi thì trong thơ kháng chiến chống Mĩ ta còn thấy các nhà thơ dùng tiếng nói chính luận làm một phương thức chiến đấu mới Âm điệu chính của thơ vẫn là trữ tình nhưng đồng thời thơ cũng chuyển mạch sang phong cách chính luận Điều đó không chỉ thể hiện ở một số bài thơ hay ở một nhà thơ nào đó mà nó đã dần trở thành đặc điểm chung về phong cách của cả nền thơ với những biểu hiện ngày càng rõ nét hơn và có nhiều thành tựu hơn Tính chính luận ấy được thể hiện rõ trong thơ Sóng Hồng, Tố Hữu, Chế Lan Viên, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Hải,….Trong thơ Hoàng Trung Thông, có khi ta nghe như một lời thúc giục, kêu gọi lên đường ra trận:
Trang 17Tôi vấn nghe Sôi sục Một tiếng còi Vang vang xúc động Như giục giã bàn tay ghì chặt súng Như thức tỉnh cả trời sao
Từ những đêm nào
Và bao đêm nữa
…Tiếng còi tàu chống giặc Bất khuất kiên cường
( Tiếng còi tàu )
Chất chính luận ấy cũng là nét nổi bật trong phong cách thơ Chế Lan Viên những năm tháng kháng chiến chống Mĩ cứu nước Ông đã có nhiều tìm tòi, phát hiện và đã đóng góp nhiều bài thơ mang tính chính luận mạnh mẽ, sắc bén vào thành tựu chung Có khi đọc thơ ông người đọc cảm thấy như mình cũng đang đứng trên chiến tuyến để cùng các chiến sĩ cách mạng đánh giặc Mĩ:
Giặc Mĩ mày đến đây Thì ta tiêu diệt ngay Trời xanh ta nổi lửa
Bể xanh ta giết mày
( Sao chiến thắng )
Việc tăng cường tính chính luận trong thơ thời kháng chiến chống Mĩ được xem là một yêu cầu tất yếu, nó quy định bởi những đòi hỏi của cuộc chiến đấu chống quân thù vô cùng ác liệt và bản chất chiến đấu của thơ ca cách mạng
Nó thể hiện rõ khát vọng chiến đấu trực tiếp của nền thơ ca chống Mĩ cứu nước Thơ lúc này trở thành lời kêu gọi, là vũ khí đấu tranh góp phần vạch mặt bọn quân xâm lược và vạch trần tội ác, phanh phui bản chất của Đế quốc Mĩ trong cuộc chiến tranh phi nghĩa tại Việt Nam Bằng cách dùng tiếng nói chính luận sắc bén, thơ đã làm nhiệm vụ của một nhân chứng lịch sử và cũng chính là
Trang 18người tuyên án thẳng tay đối với bọn Đế quốc Mĩ- kẻ thù không đội trời chung của dân tộc Việt Nam, của nhân loại, của sự sống trên Trái Đất:
Hỡi tất cả chúng bay, một bầy ma quỷ
Nhân danh ai Bay mang những B.52 Những Napan, hơi độc…
Đến Việt Nam
Để ám sát hòa bình và tự do dân tộc
Để đốt những nhà thương, trường học Giết những con người chỉ biết yêu thương Giết những trẻ em chỉ biết đến trường Giết những đồng xanh bốn mùa hoa lá
Và giết cả những dòng sông của thơ ca nhạc họa
( Tố Hữu )
Như vậy có thể khẳng định thơ chống Mĩ là một nền thơ chiến đấu, trải qua hơn 20 năm dân tộc Việt Nam chống kẻ thù hung bạo, thơ đã thực sự đứng vào đội ngũ của toàn quân, toàn dân làm nhiệm vụ thiêng liêng, cao cả của mình Chính một dân tộc anh hùng đã sản sinh ra một nền thơ như thế và cũng chính nền thơ ấy với những sinh hoạt phong phú và sôi nổi của mình đã tạo nên hình ảnh đẹp của dân tộc Việt Nam- một dân tộc vừa đánh giặc, vừa làm thơ
1.2.1.2 Thơ chống Mĩ- bài ca thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng và vẻ đẹp tâm hồn con người Việt Nam
Đất nước Việt Nam ta đã trải qua 4000 năm dựng nước và giữ nước Với bề dày lịch sử đó đã có biết bao truyền thống tốt đẹp của nhân dân, của dân tộc được tích lũy Và trong những năm tháng kháng chiến chống Mĩ cứu nước, mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm, những con người ấy lại giàu lên biết bao trong trí tuệ, phong phú thêm biết bao trong tâm hồn và tình cảm của họ Có thể nói nền thơ chống Mĩ trong những năm qua đã biểu hiện rõ nhất tâm hồn dân tộc, ghi lại trong nhiều vần thơ vẻ đẹp và sự phong phú của tâm hồn Việt Nam trong những năm tháng hào hùng nhất của lịch sử dân tộc
Trang 19Trước hết thơ chống Mĩ đã thể hiện một chủ nghĩa yêu nước sâu sắc,
mạnh mẽ Như chúng ta đã biết, tinh thần yêu nước là một truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam từ bao đời nay Mỗi lần có giặc xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, trỗi dậy thành những làn sóng mạnh mẽ để cuốn trôi đi bè lũ bán nước và cướp nước.Và đó cũng là nội dung chủ yếu của thơ ca thời Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, rồi cho đến những năm kháng chiến chống Pháp, chống Nhật Trong những năm tháng chống Mĩ cứu nước, chủ nghĩa yêu nước đó đã được nâng cao, bổ sung thêm những phẩm chất mới ngày càng sâu sắc hơn trong nhận thức, mãnh liệt hơn trong tình cảm Khi Tổ quốc
gặp lâm nguy, bao nhiêu tấm lòng khao khát được xả thân vì độc lập, tự do cho
đất nước Nhà thơ Xuân Diệu đã từng viết:
Tình yêu tổ quốc là đỉnh núi bờ sông Những lúc tột cùng là dòng huyết chảy Thật vậy, Tổ quốc trong cái nhìn của các nhà thơ thật đẹp đẽ, hào hùng
vĩ đại biết bao Những tên người, tên đất, tên sông, tên núi vang vọng trong thơ một cách tự hào, kiêu hãnh:
Tổ quốc tôi như một con tàu Mũi thuyền xé sóng, mũi Cà Mau
( Xuân Diệu )
“Nền thơ chống Mĩ đã có nhiều bài thơ, nhiều câu thơ xứng đáng xếp
vào hàng những vần thơ yêu nước đẹp nhất trong thơ ca dân tộc Cảm hứng lớn
về Tổ quốc Việt Nam đó là đôi cánh lớn nâng thơ chống Mĩ lên một tầm cao, mang nội dung chiến đấu vì ý nghĩa giáo dục lớn” [40 tr 160]
Nhìn lại cả phong trào thơ chống Mĩ, chúng ta thấy dù mở rộng và đi xa đến đâu
đi nữa thì về mặt đề tài vẫn luôn xoay quanh vầng sáng trung tâm là vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam là sản phẩm của cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta, phát triển mạnh mẽ trong thời kì kháng chiến chống Mĩ và bổ sung vào tính cách con người Việt nam những nét mới Có thể nói chủ nghĩa anh hùng cách mạng đã làm nên sức đẩy mạnh mẽ bên trong của mỗi bài thơ, làm nên linh hồn của mỗi tác phẩm nghệ
Trang 20thuật Chính vì thế trong thơ Việt Nam chống Mĩ ta thấy tiếng nói anh hùng đã trở thành tiếng nói tự nhiên của tâm hồn, tình cảm Dường như cả đất nước, cảnh vật, con người hòa hợp thành một dàn hợp xướng lớn của chủ nghĩa anh hùng Việt Nam chống Mĩ
Hãy xem! đồng ruộng cũng chỉnh tề thế trận Lúa đứng thẳng hàng quyết tâm năm tấn Chào cô dân quân vai súng tay cày Chân lội bùn, mơ hạ máy bay!
Chào các cụ bạch đầu quân trồng cây chống Mĩ Chào các mẹ già run tay vá may cho chiến sĩ Chào các em, những đồng chí của tương lai Mang mũ rơm đi học đường dài
Chuyện thần kì, dân tộc ta là vậy! ( Tố Hữu )
Con người Việt Nam trong cuộc sống đời thường đẹp đẽ biết bao nhiêu
thì trong chiến tranh, khi phải hi sinh để dành độc lập, tự do cho tổ quốc thì những vẻ đẹp ấy lại được tỏa sáng hơn bao giờ hết Có thể nói trong thơ chống
Mĩ, con người Việt Nam hiện lên với đầy đủ vẻ đẹp tâm hồn Đó là những con người kiên cường, bất khuất trong chiến đấu; giản dị, khiêm tốn sau mỗi chiến công; cần cù, chăm chỉ, chịu thương, chịu khó trong lao động, sản xuất Và ở đâu trên mảnh đất Việt Nam thân yêu ta cũng bắt gặp những người dân nhân hậu, giàu lòng yêu nước, sẵn sàng hi sinh tất cả vì lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc Không phải đến thơ chống Mĩ, vẻ đẹp tâm hồn ấy của con người Việt Nam mới được phát hiện, ngợi ca nhưng phải nói rằng chính nền thơ ấy với những cây bút tài hoa, lại được trải nghiệm từ cuộc chiến đấu gian khổ trong những chiến trường vô cùng ác liệt đã làm tỏa sáng thêm vẻ đẹp ấy của con người Việt Nam trong chiến tranh Hơn bao giờ hết, tâm hồn người Việt Nam được nhìn nhận, sáng soi từ nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau Con người Việt Nam bước
ra từ trong thơ đã trở thành những biểu tượng đẹp đẽ của dân tộc, đó là dáng đứng, là tâm hồn, là tính cách của Tổ quốc Vì vậy, chúng ta, những người con của đất nước Việt Nam có quyền tự hào khi được sinh ra và lớn lên trên mảnh
Trang 21đất anh hùng, nhân hậu như thế Các thế hệ bạn trẻ Việt Nam chúng ta không ngần ngại mà kể với bạn bè của mình trên khắp năm châu rằng cha ông chúng tôi đã từng sống như thế, đã từng hi sinh và sống đẹp như thế Và chính nền thơ chống Mĩ đã tiếp sức cho ta niềm tự tin, lòng kiêu hãnh đó
1.2.1.3 Thơ chống Mĩ- Tiếng nói chống Mĩ trong đa dạng
“Cũng như có phong cách của một nhà thơ, ta có thể nói đến phong cách của một nền thơ Một nền thơ lớn, cũng như một nhà thơ lớn, tất yếu phải là một nền thơ có phong cách riêng biệt, độc đáo khiến nó khác biệt so với nền thơ của một dân tộc khác đã đành, nó cũng khác biệt ngay với chính thơ ca của giai đoạn trước hoặc sau nó” [ 40 tr 179]
Nói đến phong cách thơ thời kháng chiến chống Mĩ, trước hết ta phải nói đến âm điệu chủ đạo của cả một nền thơ, đó là âm điệu trữ tình Giáo sư Hà Minh Đức đã nói: đây vốn là “một đặc điểm, một truyền thống quen thuộc của thơ ca ta” [7 tr 309] Khi nói đến âm điệu trữ tình là một trong những âm điệu chính của thơ ca Việt Nam thì chúng ta không chỉ giới hạn trong việc tìm hiểu thành phần cấu tạo của thơ mà quan trọng hơn là nói đến đặc điểm đó như là một tiếng nói của tâm hồn dân tộc Trong thơ chống Mĩ, bên cạnh chất chiến đấu oanh liệt, hào hùng thì chất trữ tình cũng đằm thắm, thiết tha Chúng ta đã bắt gặp rất nhiều bài thơ trữ tình chứa chan tình cảm của các nhà thơ ngay trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt, gian khổ nhất Ở đó là những tâm trạng của người chiến sĩ trên đường ra trận nhớ trong lòng da diết vị mặn nồng của nước vối quê hương:
Mẹ ơi
Quê ta đêm nay có nặng hạt mưa dông
Ấm vối đặc chắc vẫn nồng trong giỏ Tháng năm rồi, vối trong vườn kết nụ
Cô láng giềng còn hái giúp mẹ không?
Chúng con đi giữa rừng đêm mưa xối Lòng vẫn ngọt ngào vị nước vối quê hương
( Nước vối quê hương- Nguyễn Trọng Định )
Trang 22Đó có khi là tình cảm nhớ người yêu của anh chiến sĩ giải phóng quân tha thiết, mặn nồng:
Đêm liên hoan xóm làng vang tiếng hát Tối giao thừa dào dạt nhớ thương em
Có cả vầng trăng, vẫn nhớ ngọn đèn
Đi khắp núi sông vẫn thương về xóm nhỏ
Có nửa quả tim mình có người yêu ở đó
( Đám cưới giữa mùa xuân- Viễn Phương )
Ngay trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt nhất, giữa sự sống và cái chết gần nhau trong gang tấc, nhưng ta vẫn bắt gặp những tâm hồn ngập tràn tình cảm, lạc quan, tự tin, yêu đời Trong thơ chống Mĩ, tiếng nói trữ tình chính là tiếng nói của một dân tộc đứng ở đỉnh cao của chủ nghĩa anh hùng Chính vì thế chất trữ tình ấy đã hòa quện tự nhiên với chất anh hùng ca Chất trữ tình ấy không theo kiểu ủy mị, đầy nước mắt khi nói đến cái chết, nói đến sự hi sinh mất mát mà đó là những niềm tin, là lòng can đảm khi đối diện với sự thật Vì vậy chất trữ tình trong thơ kháng chiến chống Mĩ không gò bó, gượng gạo mà là dòng chảy tự nhiên như chính tâm hồn những người chiến sĩ, những người con đất Việt Có thể nói phong cách của nền thơ chống Mĩ mang đậm đà tính dân tộc đông thời tính dân tộc ấy lại đi liền với những đòi hỏi cách tân nhằm biểu đạt chân thực vẻ đẹp mới của tâm hồn dân tộc để mang tính hiện đại khá rõ Đó là những nét mới nổi trong phong cách chung của nền thơ kháng chiến chống Mĩ
Và như đã nói ở trên, nền thơ chống Mĩ cứu nước là tiếng nói thống nhất của những phong cách đa dạng, giàu sức phát triển Nhưng những phong cách
đó không phải được tạo ra bằng những phép cộng máy móc, khô khan giữa những phong cách riêng, độc đáo của các tác giả với nhau mà bằng dấu nối các phong trào ấy thành một tổng thể hài hòa, trong đó có sự ảnh hưởng và thúc đẩy lẫn nhau giữa các phong cách
Trong thơ chống Mĩ, cảm hứng bao trùm là một tình cảm thiêng liêng, sâu nặng với đất nước, quê hương, với cuộc chiến tranh sinh tồn của một dân tộc Trong thơ Tố Hữu, tiếng nói yêu thương, ân tình là tiếng nói nhất quán
Trang 23trong phong cách thơ ông Ngay từ tập thơ “Từ ấy”, “Việt Bắc” ta đã thấy rõ
tiếng nói yêu thương của nhà thơ được bộc lộ trong những hình ảnh, hình tượng
thơ Nổi bật trong thơ ông là hình ảnh Bác Hồ, các bà mẹ, các chị, các em bé,
các anh bộ đội Tất cả như hòa vào nhau trong một mối tình cá nước giữa quân
và dân, giữa tiền tuyến với hậu phương, giữa miền ngược và miền xuôi Và đến
thời kì kháng chiến chống Mĩ thì tiếng nói tâm hồn ấy dường như lắng sâu hơn
và trong đó có cả trí tuệ, cả chất anh hùng ca hào sảng Phong cách ấy của thơ
Tố Hữu là phù hợp nhất để diễn tả hiện thực cuộc chiến chống Mĩ cứu nước đấu
tranh đầy gian khổ, hi sinh mất mát và ngời sáng vẻ đẹp của những con người
Việt Nam bình dị, đôn hậu nhưng vô cùng anh hùng, bất khuất, kiên cường Với nhà thơ Chế Lan Viên nếu như ở giai đoạn kháng chiến chống Pháp thơ ông
mang đậm sắc thái trữ tình thì đến thời kì này thơ ông đã chuyển mạnh sang
phong cách chính luận và luôn phản ánh những vấn đề thời sự- chính trị nóng
bỏng của cuộc chiến đấu vĩ đại Và trong thơ ông ta bắt gặp cảm hứng tự hào về
dân tộc, về Đảng, về lãnh tụ, đồng thời đó cũng là tiếng nói đấu tranh chống kẻ
thù xâm lược một cách mạnh mẽ, sắc bén
Trong nền thơ lớn ấy, chúng ta còn có Hoàng Trung Thông với rất nhiều
bài thơ nồng hơi thở của đồng bằng chiến đấu, với một phong cách hồn hậu,
mực thước và rắn rỏi và càng ngày phong cách ấy càng được mở rộng ra một
cách khoáng đạt cho phù hợp với hiện thực của đất nước Thơ Hoàng Trung
Thông là thứ thơ giàu chất thực tiễn và chất chiến đấu Đó là sự thể hiện của lối
thơ chặt chẽ và ít lời của thơ ca Phương Đông đồng thời ông cũng sử dụng cách
nói giản dị, chân thật, gần gũi với tiếng nói của quần chúng nhân dân
Ngoài những nhà thơ đã có tên tuổi thì thơ ca kháng chiến chống Mĩ còn
được làm giàu bởi thế hệ các nhà thơ trẻ Bởi vì “phản ánh cuộc kháng chiến
chống Mĩ là nhiệm vụ chung của cả nền văn học thời kì chống Mĩ nói chung và
thơ ca nói riêng Trong sự nỗ lực chung ấy, thơ trẻ đã vượt lên, góp vào nền thơ
chống Mĩ những trang thơ viết về đời sống chiến trường, phản ánh được tính
chất ác liệt, dữ dội, những hi sinh, gian khổ của con người Việt Nam trong chiến
tranh” [45 tr 94] Do được tôi luyện trong đời sống chiến tranh, các nhà thơ trẻ
Trang 24đã tận mắt chứng kiến những cảnh tượng dữ dội, ác liệt của cuộc chiến tranh nên các nhà thơ trẻ đã ghi lại được những khoảnh khắc lịch sử, những giờ phút nóng bỏng nhất qua đôi mắt của những tâm hồn tràn đầy sức trẻ, tràn đầy nhiệt huyết
Ta có một Phạm Tiến Duật với một phong cách thơ khác hẳn những tiếng thơ trước đó “Thơ anh đem vào cái bề bộn của đời thường trong cuộc chiến đấu gian nan diễn ra thường ngày với sức khái quát cao, những ấn tượng mạnh” [23
tr 13] Qua các bài thơ: “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, “Gửi em cô thanh niên xung phong”, “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây”, người đọc chúng ta cảm nhận rõ nét sự quan sát tinh tế và nhạy cảm của một chàng lính trẻ trong chiến tranh
Trong nền thơ ca chống mĩ cứu nước, ta còn biết đến một Thanh Hải với vốn tri thức phong phú, kinh nghiệm sống dày dặn và một hồn thơ sắc bén, nhạy cảm Trong thơ Thanh Hải, chúng ta thường bắt gặp những trăn trở, suy tư về quê hương đất nước đang ngày ngày bị quân thù giày xéo và một trách nhiệm cao cả của tuổi trẻ trước những mất mát đau thương của quê hương mình Thơ ông bộc lộ rõ lòng căm thù sâu sắc, sự tố cáo mạnh mẽ đanh thép bản chất tội ác của quân xâm lược và tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất của nhân dân, chiến sĩ cách mạng miền Nam Ở nhà thơ Thanh Hải, chúng ta thấy rõ một người cán bộ cách mạng hòa quện trong tâm hồn người nghệ sĩ, một lòng hướng
về dân, về nước Thơ ông mang đậm tính thời sự và những câu chuyện thời sự miền Nam nào khi đã in đậm vào lòng nhà thơ thì nó đến với người đọc như những tiếng nói yêu thương, tiếng nói tâm tình, sâu lắng Đó là tâm tình của nhà thơ và cũng là tâm tình của miền Nam và là máu của những chiến sĩ đã hi sinh,
là “giọt lệ căm hờn” của người dân Việt Nam trong thời đại
Trong phong trào thơ ca kháng chiến chống Mĩ cứu nước, có rất nhiều phong cách thơ đặc sắc khác nhau như Thu Bồn, Hữu Thỉnh, Lê Anh Xuân, Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Hải, tất cả đã tạo nên một dàn đồng ca với đầy đủ thanh âm, giọng điệu Trong nền thơ ca phong phú, đa dạng các phong cách vẫn có sự thống nhất, ảnh hưởng
và bổ sung cho nhau Có được điều đó sở dĩ là do hoàn cảnh chiến tranh ác liệt
Trang 25của đất nước nên mỗi nhà thơ đều có một cảm xúc chung Cuộc kháng chiến của toàn dân tộc trở thành một đề tài nóng bỏng, trực tiếp nhất mà mỗi người cầm bút chân chính nào cũng không thể bỏ qua Vì vậy mà tình yêu đất nước, tinh thần sẵn sàng hi sinh, xả thân cho Tổ quốc chính là giọng điệu chung của các nhà thơ chống Mĩ đồng thời các thế hệ nhà thơ ấy đều được soi sáng, dẫn dắt bởi
tư tưởng cách mạng, sự lãnh đạo của Đảng Không chỉ riêng thơ ca mà cả nền văn học Việt Nam thời chống Mĩ đều được phát triển trong quỹ đạo chung ấy Chính điều đó cho thấy sự thống nhất giữa các phong cách đa dạng trong phong trào thơ chống Mĩ là một điều tất yếu
1.2.2 Vài nét về Thanh Hải
1.2.2.1 Thơ Thanh Hải trong cuộc kháng chiến chống mĩ
Cùng thế hệ các nhà thơ đã trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống
Mĩ cứu nước vĩ đại như Lê Anh Xuân, Dương Hương Ly, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Hải góp thêm một “nốt trầm” vào dàn đồng ca muôn điệu của thơ chống Mĩ Tuy sự ngiệp sáng tác của ông không phong phú,
đồ sộ như các nhà thơ khác nhưng có thể nói những gì ông đã thể hiện được trong thơ thực sự đã để lại một dấu ấn riêng trong lòng độc giả Cuộc đời ông cũng có ít nhiều ảnh hưởng đến quá trình sáng tạo thơ ca, vì vậy những chi tiết
về tiểu sử, cuộc đời của ông là một trong những nhân tố cần thiết mà chúng ta phải tìm hiểu khi nghiên cứu về thơ ông
Nhà thơ Thanh Hải tên thật là Phạm Bá Ngoãn, ông sinh ngày 4 tháng
11 năm 1930 Quê ở xã Phong Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên nay thuộc Thừa Thiên Huế Thanh Hải là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, hội viên hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1978
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình tri thức nghèo, Thanh Hải sớm nhận biết xã hội Cha làm nghề dạy học, mẹ là một phụ nữ nông dân chân chất, thật thà Thanh Hải cũng như bao đứa trẻ khác, sinh ra, lớn lên và đi học ở nông thôn Ông được thừa hưởng những nét tri thức ở người cha và nét chân chất, thật thà, đôn hậu, bình dị ở người mẹ nông dân của mình Mặt khác, ảnh hưởng của quê hương Thừa Thiên Huế cũng rất lớn đối với Thanh Hải Chúng ta đã từng
Trang 26biết đến xứ Huế, một trong những trung tâm dân ca của cả nước, là quê hương của những câu hò mái đẩy, hò mái nhị, sông Hương trong lành, thơ mộng và những khu vườn xanh tươi bốn mùa cây trái ngọt lành Gia đình Thanh Hải tuy nghèo nhưng thường xuyên được đón tiếp các vị văn thân cũ trong phong trào Cần Vương lui tới để ngâm vịnh thơ ca yêu nước với ông cụ thân sinh ra ông Bên cạnh việc tiếp thu những truyền thống và khí chất của gia đình, Thanh Hải còn được lớn lên trong môi trường đó nên từ nhỏ ông đã sớm tiếp thu hai nguồn văn học tích cực kể trên: Nền văn học của quê hương và nền văn học yêu nước Chính những yếu tố, những nguồn văn học này đã tạo nên một nhà thơ Thanh Hải với những bài thơ hồn nhiên, chân thành, mộc mạc, trong sáng nhưng thấm đẫm tình yêu quê hương và tình yêu đất nước
Thanh Hải tham gia cách mạng từ rất sớm Mười lăm tuổi (1945) ông làm Chủ tịch Nhi đồng cứu quốc xã Phong Hanh, Phong Điền, Thừa Thiên Từ tháng 5 năm 1946, lúc này Thanh Hải mới 16 tuổi, ông đã là liên lạc viên của xã Phong Hanh Cuối năm đó cho đến đầu năm 1947 ông làm cán bộ Tuyên huấn
xã Tháng 7 năm 1947 đến tháng 10 năm 1947 ông là liên lạc viên công an chiến khu Hòa Mĩ và công an Trung Bộ Vào năm sau, một vinh dự lớn đến với ông Ông được kết nạp vào Đảng (6/1/1948), lúc này ông 18 tuổi Từ đó ông hòa mình vào cuộc chiến đấu chống Mĩ thống nhất đất nước, trở thành một trong những cây bút có nhiều đóng góp nhất trong những năm đầu (1954-1962) đối với nền thơ chống Mĩ của miền Nam Năm 1952 ông làm Trưởng đoàn kiêm chính trị viên đoàn Văn công Thừa Thiên Tháng 7 năm 1967 ông làm Trưởng tiểu ban Văn nghệ khu Trị Thiên Chi hội phó kiêm Tổng thư kí chi hội Văn nghệ Trị Thiên Tháng 3 năm 1975, Huế được giải phóng, tiếp quản cở sở 26 Lê Lợi- Huế làm trụ sở Hội văn học nghệ thuật Thừa Thiên Huế, ông được bầu làm thủ trưởng cơ quan của Hội Ông là một trong những người phụ trách chính của Hội văn học Nghệ thuật Bình Trị Thiên, là tổng thư kí đầu tiên của Hội Ông cũng là ủy viên thường vụ Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, ủy viên ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam Năm 1980, nhà thơ Thanh Hải tham gia công tác phát động phong trào sáng tác phục vụ chiến đấu ở Tây Nam và biên
Trang 27giới phía Bắc Tiếp đó, nhà thơ cùng văn nghệ sĩ Bình Trị Thiên xuống đường đọc thơ, ca hát, động viên thanh niên nhập ngũ đi chiến đấu thì bất ngờ bệnh cũ của ông tái phát, phải đưa vào bệnh viện Gần như suốt năm 1980, Thanh Hải phải khóa mình trong chiếc phòng nhỏ ở tầng bốn khoa nội bệnh viện Trung ương Huế Ngày 15 tháng 12 năm 1980 trái tim ông ngừng đập, kết thúc một cuộc đời gắn bó với cách mạng Bạn bè, đồng chí lặng lẽ đưa linh cữu nhà thơ Thanh Hải về nơi an nghỉ cuối cùng tại vườn cụ Phan Bội Châu ở dốc Nam Giao Cụ Phan Bội Châu đã tuyên bố khu vườn sẽ dành làm nơi an nghỉ cho các nhà yêu nước và cách mạng ở Huế Ở đây bấy giờ có mộ nữ sĩ Đạm Phương (
Bà nội của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm), nhà văn Hải Triều ( Nguyễn Khoa Văn, cha nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm), nhà cách mạng Nguyễn Chí Diễu, Lê Tự Nhiên, và bây giờ có thêm nhà thơ Thanh Hải- một người con cách mạng của quê hương Huế mến thương
Trong những năm tháng làm chính trị viên cho đoàn văn công Thừa Thiên- Huế, Thanh Hải cũng đã có nhiều sáng tác thơ và trong thơ Thanh Hải thời kì này
đã có một sự kết hợp nhất định giữa truyền thống thơ ca dân tộc với sự rèn luyện trong thực tiễn đấu tranh Thế nhưng những bài thơ ấy vẫn chưa gây xúc động cho người đọc, chưa được độc giả quan tâm, tìm đọc và phổ biến, công chúng độc giả vẫn chưa biết đến Thanh Hải với tư cách một nhà thơ
Năm 1954, cũng như Giang Nam, Thanh Hải đã không tập kết ra Bắc như hầu hết những nhà thơ, nhà văn cùng thời mà ở lại quê hương, hoạt động trong vùng địch tạm chiếm, trực tiếp lăn lộn với phong trào cách mạng, hòa mình trong quần chúng và đi sâu vào phong trào đấu tranh của quần chúng Cũng chính trong thời kì này (1954-1967), Thanh Hải đã có rất nhiều bài thơ hay, ông viết với tư cách là một nhà thơ chiến sĩ, phản ánh chân thực hiện thực cuộc đấu tranh và cuộc sống của cán bộ, nhân dân miền Nam anh hùng, bất khuất Những bài thơ hay của Thanh Hải trong thời kì này đã được đông đảo bạn đọc cả nước biết đến và công chúng đã thừa nhận ông là một nhà thơ của
cách mạng miền Nam Nhà thơ Vũ Quần Phương nhớ lại “Thơ Thanh Hải
được đông đảo bạn đọc biết đến từ năm 1962…Thơ Thanh Hải khi ấy được cả
Trang 28miền Bắc nâng niu, coi đó là tiếng nói nhớ thương, niềm kháo khát đoàn tụ của miền Nam xa cách Từ đó, những bài thơ Thanh Hải liên tục được giới thiệu trên báo chí miền Bắc” [Lời tựa tập Thanh Hải- Thơ với tuổi thơ, NXB Kim
Đồng, H.2001, tr 3]
Năm 1960 với bài thơ “Mồ anh hoa nở”, Thanh Hải đã giành giải nhất
cuộc thi thơ báo Thống nhất Nhà phê bình Hoài Thanh nhân sự kiện này đã có
đôi lời về Thanh Hải: “…Thanh Hải chưa phải là một nhà thơ lớn Nhưng một
khi tiếng nói của cách mạng vút lên được thành thơ thì dẫu chưa phải là một nhà thơ lớn vẫn rất quý” ( Hoài Thanh, Thơ Thanh Hải, một lời ca chân chất,
bình dị của miền Nam bất khuất, kiên cường, Tạp chí Văn học, số 7, năm 1964 Lời nhận xét ấy của Hoài Thanh đã một lần nữa chứng minh Thanh Hải là một nhà thơ chiến sĩ , nhà thơ cách mạng Nhiều bài thơ của ông đã được bạn đọc
nhớ tới như các bài: Tấm băng vẫn đi đầu, A Vầu không chết, Mồ anh hoa nở,
Núi vẫn nhớ vẫn thương sau này được in thành tập: “Những đồng chí trung kiên” (NXB Văn học, Hà Nội, 1962) Tập thơ Những đồng chí trung kiên gồm
những bài thơ được viết trong một thời kì gian khổ của cách mạng miền Nam (giai đoạn 1954-1960) Những bài thơ ấy kể lại một cách bình dị mà sâu sắc tội
ác của kẻ thù, tình cảm xót xa của sự chia cắt và cách biệt, niềm khao khát Bắc- Nam thống nhất đồng thời nêu cao tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất của nhân dân và các chiến sĩ cách mạng miền Nam Tập thơ mỏng mà chứa một lượng thông tin không nhỏ Thanh Hải đã đưa vào đó bao nhiêu là chuyện: Chuyện đồng bào biểu tình chợ bãi (Chợ ta ngày ấy) Chuyện những người chiến sĩ trung kiên, bị giặc bắt, tra tấn, biết mình phải chết mà vẫn mỉm cười chấp nhận, không khai một lời vì cách mạng, vì độc lập, tự do của Tơ quốc, vì cuộc sống ấm no của đồng bào (A Vầu không chết, Núi vẫn nhớ vẫn thương) Chuyện tình cảm yêu mến của đồng bào với những người chiến sĩ trung kiên ấy (Mồ anh hoa nở) Chuyện người mẹ khẳng khái tiến con đi làm nhiệm vụ cách mạng (Con đi, con cứ đi), chuyện người mẹ dầm mưa để trèo đò đưa người chiến sĩ qua sông (Sang đò đêm mưa) Rồi chuyện người vợ đêm đêm qua chiêm bao vượt tuyến ra thăm chồng (Vượt tuyến), người vợ kiên quyết không gọi
Trang 29chồng ra đầu hàng, dù bị kìm kẹp, tra tấn (Chồng tôi không thể về) Chuyện em
bé đêm đêm qua chiêm bao thấy Bác vào thăm miền Nam (Cháu nhớ Bác Hồ)
Và còn rất nhiều những câu chuyện khác nữa đã gây xúc động cho đồng bào miền Bắc nói riêng và đồng bào cả nước nói chung lúc bấy giờ Với tập thơ này, Thanh Hải đã đóng góp rất lớn vào nền thơ chống Mĩ của dân tộc, cổ vũ, động viên quần chúng đứng lên làm cách mạng Đây cũng là tập thơ được bạn đọc yêu mến nhất trong các tác phẩm của ông
Năm 1962, Thanh Hải đi cùng phái đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc Thanh Hải từ chiến khu Thừa Thiên- Huế đi chưa đầy trăm cây số thì ra đến cầu Hiền Lương Thế mà nhà thơ phải vượt qua bao nguy hiểm, cuốc bộ vào Tây Ninh, rồi cùng phái đoàn đi sang Căm-pu-chia, mới bay tàu bay ra Hà Nội Nhờ thế mà chúng ta có và được đọc bài thơ xúc động
mà đầy xót xa của ông, đó là bài “Tám năm nay mới gặp nhau” Giặc đánh chiếm miền Nam chia đôi đất nước nên chỉ cách nhau có một con sông thôi mà muốn gặp nhau cũng phải trải qua bao khó khăn, vất vả, bao gian khổ, hiểm nguy Đề rồi gặp được nhau, nghẹn ngào không nói được nên lời, mừng đến rơi nước mắt Thanh Hải đã thể hiện tình cảnh ấy trong những câu thơ lục bát đầy xúc động:
Xa nhau chỉ một mái chèo
Mà đi trăm núi vạn đèo đến đây Xiết tay ôm chặt lấy tay Nói gì, nước mắt tràn đầy đôi môi”
( Tám năm nay mới gặp nhau )
Chính nhờ những sáng tác xúc động và đậm chất anh hùng cách mạng ấy, Thanh Hải đã có rất nhiều đóng góp cho thơ ca miền Nam trong cuộc chiến đấu chống
Mĩ Và do những đóng góp ấy, ông đã được trao giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiểu (1965) của Hội đồng giải thưởng văn học nghệ thuật miền Nam Năm 1967, thành lập khu Trị Thiên, ông ra làm công tác văn nghệ ở khu cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng Thời kì này ông có hai tập thơ Huế mùa xuân (NXB Văn nghệ Giải phóng, 2 tập, 1970, 1975) Trong tập thơ
Trang 30này nổi bật hình tượng Bác Hồ Bài thơ đầu tiên về Bác Hồ là năm 1956, lúc ấy Thanh Hải đã 26 tuổi Thế mà đọc thơ ta thấy chân chất, gần gũi xiết bao Hình ảnh Bác Hồ hiện lên thật đẹp:
Đêm nay trên bến Ô Lâu Cháu ngồi cháu nhớ chòm râu Bác Hồ Nhớ hình Bác giữa bóng cờ Hồng hào đôi má, bạc phơ mái đầu
………
Càng nhìn càng lại ngẩn ngơ
Ôm hôn ảnh Bác mà ngờ Bác hôn
( Cháu nhớ Bác Hồ )
1.2.2.2 Thơ Thanh Hải trong cuộc sống hòa bình
Năm 1975, sau khi Huế được giải phóng (26/3/1975), Thanh Hải là người phụ trách chính của Hội văn nghệ Bình Trị Thiên, là Tổng thư kí đầu tiên của Hội Ông cũng là ủy viên thường vụ Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, ủy viên ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam Thời kì này ông viết Dấu võng Trường Sơn (NXB Văn học, Hà Nội, 1977) Bên cạnh hình ảnh Bác Hồ, anh cán bộ, người chiến sĩ trung kiên và người mẹ, người vợ là những hình ảnh
quen thuộc đã từng xuất hiện trong “Những đồng chí trung kiên”, hai tập thơ này
đã có thêm nhiều khuôn mặt khác, đó là khuôn mặt của những o du kích (O du kích Triệu Phong, Bến đò du kích), khuôn mặt của chị dân công (Chào o dân công), anh giải phóng quân (Một đêm với anh giải phóng quân Huế), người vót chông mù (Người vót chông mù), chuyện dựng cầu và những người làm cầu (Những chiếc cầu, Người thợ làm cầu trên Trường Sơn),…và rất nhiều khuôn mặt khác
Năm 1980, Thanh Hải tham gia công tác phát động phong trào sáng tác phục vụ chiến đấu ở Tây Nam và biên giới phía Bắc Tiếp đó, nhà thơ cùng văn nghệ sĩ Bình Trị Thiên xuống đường đọc thơ, ca hát, động viên thanh niên nhập
Trang 31ngũ đi chiến đấu thì bất ngờ bệnh cũ tái phát, phải đưa vào bệnh viện Suốt năm
đó, gần như Thanh Hải khóa mình trong chiếc phòng nhỏ ở tầng bốn khoa nội bệnh viện Trung ương Huế Ngày 15/12/1980, trái tim ông ngừng đập để lại bao thương tiếc cho gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và những độc giả yêu mến thơ ông Những ngày tháng nằm trên giường bệnh, kỉ niệm sâu sắc về những ngày tháng hoạt động cách mạng hiện lên trong tâm trí ông Từ đó ông viết trường ca
“Hành khúc người ở lại” nói về những năm tháng gian khổ thời chống Mĩ cứu nước Chưa cảm thấy nói hết được, ông viết một tổ khúc thơ bốn đoạn khác:
“Bài ca từ một vùng địa đạo” Trong lúc ốm đau như vậy mà tinh thần ông vẫn
lạc quan với cuộc sống nên mới viết được trường ca dài như thế Điều đó cho thấy tinh thần cách mạng, lòng yêu Tổ quốc, tự hào về quân và dân Việt Nam luôn thường trực trong con người ông Đặc biệt tình yêu cuộc sống đã thúc đẩy ông để có một bài thơ hay Trước khi mất, ông để lại bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” Đây là món quà cuối cùng đầy ý nghĩa mà Thanh Hải dâng tặng cho đời trước lúc về cõi vĩnh hằng
Hai năm sau ngày ông mất, tập thơ cuối cùng được xuất bản Đó là
“Mưa xuân đất này” (NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, 1982) “Mưa xuân đất này”
là tập thơ được ông viết vào những năm tháng cuối cùng của cuộc đời, khi Thanh Hải biết mình bị bệnh nặng và không thể qua khỏi được Thanh Hải đã viết, ông viết vì sự thôi thúc bên trong, vì tình nghĩa sâu nặng với cuộc sống mà ông cảm thấy vô cùng quý giá
Trang 32Chương 2 NHỮNG NGUỒN CẢM HỨNG VÀ HÌNH TƯỢNG
TRONG THƠ THANH HẢI
2.1 Những nguồn cảm hứng trong thơ Thanh Hải
2.1.1 Cảm hứng về đất nước và thời đại trong chiến tranh
Có thể nói cảm hứng dân tộc và thời đại trong chiến tranh không chỉ là nguồn cảm hứng riêng của nền thơ ca kháng chiến chống Mĩ mà nó đã trở thành nguồn cảm hứng chung của văn học dân tộc Từ bao đời nay, thơ ca là tiếng hát của tâm hồn, là những tâm trạng và cảm xúc điển hình của một dân tộc bộc lộ trong đấu tranh và sản xuất Thơ ca thể hiện rõ tâm lí dân tộc Từ nội dung cho đến cách cảm, cách nghĩ, từ khuynh hướng yêu thích, ngợi ca đến sự phê phán, phủ định, đều in dấu ấn rõ rệt trong thơ Vì thế ở bất kì một thời kì nào thì cảm hứng về dân tộc vẫn là một cảm hứng nổi bật của thơ, ca, văn, phú
Qua hàng nghìn năm lịch sử, dân tộc đã đem dòng máu quật cường của mình để bảo vệ lấy non sông, đất nước luôn bị đe dọa bởi giặc ngoại xâm Nét xoáy sâu mãnh liệt, tha thiết nhất trong tâm hồn Việt Nam qua các thế kỉ chính
là tinh thần yêu nước nồng cháy, dám xả thân vì đất nước Chính vì thế vấn đề tồn tại và sức sống của một dân tộc, lí tưởng tự do và tinh thần làm chủ, cái vinh, cái nhục của dân tộc luôn được đặt ra ở mức độ gay gắt Ngay từ những thế kỉ trước, trong văn thơ yêu nước của các vua chúa, nho sĩ đã thể hiện rõ cảm hứng về dân tộc, có lúc là tự hào, hãnh diện, có lúc là đau đớn, xót xa về một dân tộc chịu nhiều ách xâm lược
Trong nền văn học thời kì chống Mĩ cứu nước, như các nhà thơ khác cùng thời, cảm hứng chính trong thơ Thanh Hải cũng là cảm hứng về dân tộc thiêng liêng Tuy nhiên ở mỗi nhà thơ, mức độ thể hiện có sự khác nhau Cũng như các thế hệ nhà thơ cùng thời, Thanh Hải ra đời và trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ, ông đã chứng kiến và nếm trải cảnh đất nước trong thời
kì đấu tranh gian khổ, đau thương một cách rõ ràng nhất Vì thế cảm hứng về dân tộc và thời đại trong chiến tranh là nguồn cảm hứng được ông chiêm nghiệm qua thực tế, qua vốn sống phong phú của mình Dân tộc Việt Nam qua cảm nhận
Trang 33của Thanh Hải có nhiều sắc thái, hình ảnh, nó thể hiện tâm hồn của tầng lớp trí thức trong cuộc đấu tranh chung của cả nước
Chúng ta có thể thấy, dân tộc Việt Nam là một dân tộc đã trải qua rất nhiều những cuộc đấu tranh gian khổ với vô vàn những mất mát hi sinh để giữ gìn nền độc lập cho Tổ quốc Cuộc chiến tranh này đi qua, đất nước chưa kịp hồi sinh, nhân dân chưa kịp dựng lại mái nhà tranh xiêu vẹo thì cuộc chiến tranh khác lại ập đến với mức độ ác liệt hơn gấp bội lần Cuộc chiến tranh chống Mĩ hơn hai thập kỉ đã chứng tỏ dân tộc Việt Nam thật vẻ vang, oanh liệt, gan góc,
bề chí, kiên cường nhưng nó cũng để lại quá nhiều máu và nước mắt Dân tộc nào trải qua chiến tranh cũng đầy hi sinh, mất mát nhưng với dân tộc Việt Nam thì điều đó tàn khốc hơn bởi Việt Nam không phải là một dân tộc giàu mạnh Chiến tranh đã làm cho khuôn mặt dân tộc hằn sâu thêm những vết thương vốn
đã liền sẹo
Sinh ra trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh, hơn ai hết Thanh Hải cảm nhận được sâu sắc, đầy đủ những nỗi đau thương, mất mát to lớn mà dân tộc mình phải gánh chịu Thành phố Huế, quê hương ông vốn thơ mộng và bình yên năm nào giờ đây bỗng trở thành bãi chiến trường hỗn độn, đâu đâu cũng thấy bóng dáng tàn bạo của kẻ thù Mĩ-Ngụy với súng ống, dao găm và những đồng tiền đô la đầy tội lỗi Trong cảm nhận của nhà thơ, mùa xuân đã đi qua nhanh chóng để nhường chỗ cho mùa đông cô đơn, lạnh lẽo khi những gia đình không
có người thân để sưởi ấm Không chỉ là một người con yêu nước, Thanh Hải còn
là một nhà thơ, một chiến sĩ cách mạng nên cảm hứng về dân tộc và thời đại trong chiến tranh đối với ông càng trở nên mãnh liệt, cụ thể hơn Chứng kiến cảnh gào thét, tra khảo, đánh đập dã man của quân thù với những người dân vô tội, ông thấu hiểu sâu sắc nguyên cớ vì đâu dân tộc Việt Nam lại lâm vào cảnh đau thương chết chóc đó
Thế kỉ XX là thời đại của những bom đạn, của chất độc màu da cam chết người mà giặc Mĩ đã không thương tiếc trút xuống đất nước Việt Nam Nỗi đau mà dân tộc ta phải gánh chịu là quá lớn, nỗi đau ấy hằn trên cơ thể những
em thơ và ngay cả những bào thai non nớt còn đang nằm trong bụng mẹ Nhưng
kì vĩ thay, dân tộc Việt Nam nhỏ bé đã không chịu khuất phục bởi tội ác của kẻ
Trang 34thù, bởi sức mạnh hủy diệt tàn bạo của chủ nghĩa thực dân Trong thơ Chế Lan Viên, ta đã từng bắt gặp những câu thơ kiêu hãnh, tự hào về lịch sử dân tộc oanh liệt, vẻ vang:
Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm!
Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?
- Cha đâu! Và ngay cả trong những ngày đẹp nhất Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn, Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng
( Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng )
Hay trong thơ Tố Hữu, người anh cả của nền thơ cách mạng Việt Nam cũng từng dõng dạc, sôi nổi:
Chúng muốn đốt ta thành tro bụi
Ta hóa vàng nhân phẩm, lương tâm Chúng muốn ta bán mình ô nhục
Ta làm sen thơm ngát giữa đồng
( Việt Nam máu và hoa )
Xa hơn nữa là Nguyễn Trãi, ông đã từng có ý thức về một nước Đại Việt
là một dân tộc vốn có lịch sử, có nền văn hiến lâu đời độc đáo và đáng tự hào:
Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đã lâu Núi sông bờ cõi đã chia Phong tục Bắc- Nam cũng khác
( Bình Ngô đại cao )
Đến đây ta có thể nhận thấy, hình tượng Tổ quốc đã được các nhà thơ khắc họa đậm nét từ bề dày lịch sử, văn hóa, gắn với những chiến công hiển hách của cha ông dựng nước và giữ nước Dân tộc dù có nghèo, còn nhiều đau khổ nhưng rất giàu tình người, giàu văn hóa, giàu những chiến công…cách nhìn nhận ấy khiến hình tượng dân tộc Việt Nam mang đến cho người đọc những rung động đằm thắm Vì lẽ đó, mà ta hiểu tại sao trong thơ Thanh Hải, cảm hứng
về những người anh hùng, những đồng chí cách mạng lại sôi nổi và say mê như
Trang 35thế Chính nguồn cảm hứng lớn lao ấy đã mang đến cho thơ ông một sức mạnh
kì diệu Đọc thơ ông, dân tộc Việt Nam như được viết thêm vào những trang sử
vẻ vang về những con người cách mạng dũng cảm, kiên cường, vượt qua mọi khó khăn gian khổ để dành cho được độc lập dân tộc Qua con mắt của nhà thơ
ta thấy dân tộc Việt Nam có nhiều nỗi đau, nhiều sự mất mát hi sinh trong cuộc chiến đấu nhưng vượt lên trên hết, những con người nhỏ bé ấy vẫn trỗi dậy với một sức bật diệu kì từ quá khứ, từ truyền thống lịch sử của cha ông Với những
gì đã có, dân tộc Việt Nam quyết tâm đứng dậy bảo vệ Tổ quốc, non sông, dù có phải hi sinh tất cả cũng phải dành cho được chiến thắng
Chủ đề đất nước vốn là chủ đề bao trùm, xuyên suốt trong thơ ca Việt Nam Đặc biệt trong những năm tháng kháng chiến cứu nước của dân tộc ta, đất nước là đề tài phổ biến nhất, thông thường nhất Ta đã từng biết đến một “Đất nước đứng lên” của Nguyên Ngọc, “Quê hương” của Giang Nam, “Đất” của Anh Đức, “Nước non ngàn dặm” của Tố Hữu…hay bóng dáng của một đất nước
cổ tích, huyền thoại như trong thơ Nguyễn Đình Thi:
Nước chúng ta Nước những người chưa bao giờ khuất Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất Những buổi ngày xưa vọng nói về
Nước mặn nên lúa héo bên cồn
Mẹ vẫn dặn “đổi nước ngọt” chứ đừng “bán nước Nắng tháng năm run rẩy những oan hồn
( Đất ngoại ô )
Trang 36Tuy nhiên, cảm nhận về đất nước ở mỗi nhà thơ không giống nhau, điều
đó thể hiện cách nhìn, cá tính sáng tạo của mỗi cá nhân Ở các nhà thơ thời kì kháng chiến chống Mĩ cảm nhận về đất nước cũng có những nét riêng mang dấu
ấn của sự trải nghiệm bằng chính cuộc sống của mình, Thanh Hải viết về quê hương bằng những vần thơ giản dị, tự nhiên, nhưng không kém phần thơ mộng Trước hết ta thấy ở nhà thơ Thanh Hải, yêu nước chính là yêu quê hương mình
và xứ Huế, quê hương yêu dấu của ông hiện lên trong thơ với một vẻ đẹp giản
dị, dịu dàng trong tà áo của những người con gái xứ Huế:
Một tà áo con gái Một mặt nước sông Hương Một mái chèo đêm sương Một cành thông rủ bóng
( Hát về Huế yêu thương )
Những hình ảnh ấy rất đỗi gần gũi, tưởng như bình thường nhưng Thanh Hải đã làm toát lên cái hồn riêng, rất đặc trưng của Huế Đến với Huế có ai không say
mê trước những tà áo dài thướt tha của những người con gái Huế Ai không một lần ngắm nhìn dòng sông Hương trong ngọt mát lành Ai không một lần đã từng
đi đò trên sông Hương để được nghe câu hò mái nhị, mái đẩy ngọt ngào, sâu lắng; được ngắm mái chèo khua nước đêm sương cùng cành thông rủ bóng đôi
bờ Những hình ảnh ấy khiến cho Huế không bị trộn lẫn vào bất kì vùng quê nào, khiến con người ta yêu, con người ta say dù chỉ một lần đến Huế Yêu quê hương, Thanh Hải yêu tất cả những gì thuộc về Huế Và trong tình yêu của Thanh Hải với Huế không thể thiếu đi tình yêu dành cho những con người nơi đây Người dân xứ Huế có tâm hồn đằm thắm, dịu hiền duyên dáng, nhẹ nhàng như dòng sông Hương, như những bông sen trắng, như thiên nhiên ở Huế Và nhà thơ đã miêu tả vẻ đẹp ấy thật dịu dàng:
Tà áo chở một vầng nắng nhẹ Chiếc nón nghiêng, nghiêng một tiếng thưa thỏ thẻ
( Thành phố mùa thu )
Trang 37Tình yêu quê hương không những chỉ hiện lên trong nỗi nhớ, tình yêu của con người, với cảnh vật quê hương mà còn hiện lên trong sự cảm nhận những đổi thay nhỏ bé, tinh tế trên quê hương khi hè qua, thu đến:
Bước chân mùa hè đi Còn thơm mùi sen trắng Dấu chân mùa hè đi Phượng hồng còn đỏ nắng
( Mùa thu về ở Huế )
Yêu quê hương thắm thiết và không để giặc tàn phá quê hương, Thanh Hải cũng giống như các nhà thơ khác đã thể hiện vẻ đẹp của quê hương, đất nước nước mình không chỉ mang vẻ đẹp duyên dáng, bình dị mà ở đó quê hương còn mang vẻ dẹp của không khí đấu tranh sôi nổi, những dáng người anh hùng không chịu khuất phục trước quân thù Đất nước trong chiến tranh mang trên một hình hài khác lạ, đó là sự đau thương, mất mát, tang tóc Dù trong hòa bình, đất nước đẹp và thơ mộng đến mấy thì khi có chiến tranh cái đẹp đẽ, thơ mộng
đó đã không còn là nó nữa Trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, thành phố Huế dịu dàng, thướt tha ấy bỗng trở thành hình ảnh những con cá “Kình” dũng mãnh khi
có giặc ngoại xâm Còn nhà thơ Thanh Hải ta lại thấy, đằng sau vẻ đẹp hiền dịu
là những tâm hồn phi thường, những trái tim dũng cảm sẵn sàng hi sinh, sẵn sàng cầm súng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ quê hương, cứu nước, cứu nhà:
Có ai hiểu đằng sau tà áo tím Những con người biết sống phi thường
Ai hiểu được khi súng gầm vẫn tiến Người Huế ngàn xưa rất đỗi dịu hiều
( Bài thơ gửi Huế yêu thương )
Không chỉ riêng với Huế, quê hương yêu dấu của nhà thơ, trong hành trang của người chiến sĩ cách mạng ấy còn có rất nhiều kỉ niệm, nhiều cảm xúc với những vùng đất ông đã đi qua Từ Hà Nội đến Cần Thơ, những tên núi, tên sông, tên đất, tên làng xóm khắp đất nước Việt Nam và cả nước bạn Liên Xô đều đi vào những trang thơ của Thanh Hải rất đỗi tự nhiên với những tình cảm
Trang 38yêu mến, chân thành Dãy Trường Sơn oai inh, hùng vĩ, hiên ngang trước quân thù cũng đi vào thơ ông gần gũi, thân quen như chính quê hương nhà thơ đã từng sinh ra và lớn lên Nhà thơ xúc động khi nhìn thấy những dấu võng còn in lại trên những thân cây trong rừng Trường Sơn, ông đã xúc động kể lại những đặc điểm, tính cách của từng người thông qua những dấu võng thân yêu ấy:
Hai thân cây xanh
Vỏ rơi từng mảnh Đầu dây ngoằn ngèo Hẳn đây tay nào Rất vui rất nhộn Nằm đu đưa võng Ngắm trời, mây bay
( Dấu võng Trường Sơn )
Có thể thấy rằng cảm hứng quê hương đất nước là cảm hứng chủ đạo, xuyên suốt trong thơ Thanh Hải Chính với cảm hứng này, Thanh Hải đã tạo được một dấu ấn cho mình trong lòng bạn đọc yêu thơ, đặc biệt là bạn đọc miền Bắc khi thơ của các nhà thơ miền Nam được gửi ra Bắc trong thời kì kháng chiến chống Mĩ Với cảm hứng quê hương, đất nước, Thanh Hải đã hòa cùng mạch thơ chung của cả nước để làm nổi bật được tinh thần yêu quê hương, yêu đất nước, ý chí căm thù giặc, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà Và cuộc kháng chiến chống Mĩ giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc và thống nhất Tổ quốc là một thử thách vô cùng ác liệt, cũng là một chiến công vĩ đại của dân tộc Việt Nam, sức mạnh Việt Nam Cuộc chiến tranh ấy đã khơi dậy mọi sức mạnh tiềm tàng của dân tộc, đã liên kết mọi người Việt Nam trong một
ý chí chung, trong một vận mệnh chung Con người Việt Nam đã sống những năm tháng đau thương, dữ dội nhất nhưng cũng thật hào hùng, chói lọi Con người của văn học chống Mĩ là con người của ý chí lớn, của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, đó là những con người đại diện đầy đủ cho tầm vóc, sức mạnh và khát khao của cộng đồng, của dân tộc, đất nước
Trang 392.1.2 Cảm hứng về con người
Làm nên những chiến công vĩ đại không thể thiếu đi hình dáng những con người dù là nhỏ bé nhất Và những con người trong cuộc chiến tranh thần thánh ấy đã được các nhà thơ thể hiện với những gương mặt khác nhau Dù cho trong bất kì hoàn cảnh nào, họ đều giống nhau ở sự dứt khoát, thanh thản, trong sáng và cao cả chấp nhận sự hi sinh để bảo vệ Tổ quốc Đó là sự quằn quại của con người mất nước đang tìm đường cứu nước:
Đất ta chúng cướp chúng cày Nhà ta chúng phá chúng xây bốt, đồn Khóc không tan hết oán hờn Van xin đâu phải con đường ta đi
( Bài ca nghĩa quân )
Những con người khát khao độc lập ấy ta có thể gặp trên mọi nẻo đường, mọi chiến khu của Tổ quốc Hành trang và ý chí của các anh, chỉ bằng vài nét chấm phá mà sừng sững như một cột mốc trong kí ức:
Gạo cùng ruột ghé hai vai Anh đi chiến dịch mưa hoài chiến khu
Lá che phên gió ù ù Không chặn cơn sốt tai ù từng cơn
( Hành khúc người ở lại )
Đó còn là những người cán bộ, người chiến sĩ cách mạng, dù làm việc gì nặng nhọc trên con đường kháng chiến, những con người ấy vẫn ngời lên nét hồn nhiên, mặc cuộc sống lầm lụi:
Trạm giao liên giữa lùm cây Vào ra vương áo rách tay là thường
( Hành khúc người ở lại )
Đó còn là những du kích Phú Vang, anh chỉ chuyển mình từ lùm cây này sang lùm cây khác nhưng không ngờ trực thăng ập đến, anh lập tức vùi mình trong cát Trực thăng phát hiện bóng anh bỗng mất, nó gọi một chiếc trực thăng khác tới, mang theo chiếc cào sắt, răng như răng bừa, thả xuống
Trang 40cào ngang cào dọc trảng cát Răng bừa đã lật được anh lên Bắt anh lên trực thăng, đưa về căn cứ
Nếu không có những tháng ngày bám chặt lấy đất vùng địch tạm chiếm, chắc chắc Thanh Hải sẽ không có những câu thơ, bài thơ cảm động về hình ảnh các bà mẹ thắc thỏm ngóng đứa con đi xa như thế này:
Đêm nay biết về đâu Con đi trong rét mướt
Con đi mấy năm trời Xanh lá rừng da mặt Đường đêm thâm bí mật Thương con mẹ ngậm ngùi
Những đêm súng nổ dồn Càng không nằm yên giấc
( Con ơi con cứ đi )
Đó còn là hình ảnh cô du kích bám trụ:
Kể chi em chuyện thì dài
Ăn bờ ngủ bụi em nài chi mô Cơm dù ba bữa đói no
Hễ nghe có giặc em lo lên đường
( O du kích Triệu Phong )
Những người vợ có chồng đi chinh chiến, chỉ đến đêm mới dám „Vượt tuyến‟ vào chiến trường ác liệt để thăm chồng và không quên lời dặn dò của các anh trước lúc ra đi Hay đó còn là cô gái nghèo đi bán củi với những băn khoăn, mong ước rất đỗi bình dị, đời thường :
Chân thoăn thoắt qua cầu xuống chợ Bán được rồi- may mắn làm sao Tay cất củm món tiền nho nhỏ Miệng tính thầm này gạo, này rau Lời thơ cho ta thấy dường như cô đang tính nhẩm một mình như vậy thì bọn cướp chợ sẫn đên Cô nhất định không đưa Bà con chung quanh cũng mỗi người một lời, giúp cô thoát nạn và nhà thơ đã sung sướng reo lên :