1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích luận điểm sau của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nước độc lập mà người dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì.”

16 111 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 283,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết về đề tài Phân tích luận điểm sau của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nước độc lập mà người dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì.” Hiểu luận điểm của Bác giúp ta có cái thấu đáo hơn về tầm quan trọng của độc lập dân tộc chân chính phải gắn với tự do, hạnh phúc của nhân dân và khẳng định thêm sự đúng đắn của việc theo đuổi xây dựng nhà nước Xã hội chủ nghĩa “do dân, vì dân”.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

-*** -BÀI TẬP LỚN

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Đề bài: Phân tích luận điểm sau của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

“Nước độc lập mà người dân không được hưởng hạnh phúc, tự

do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì.”

Họ và tên SV:

Lớp tín chỉ: Tư tưởng Hồ Chí Minh (320) _03

Mã SV:

HÀ NỘI, NĂM 2021.

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3

NỘI DUNG TÌM HIỀU 4

1 Khái quát về luận điểm của Hồ Chí Minh về Độc lập – Tự do – Hạnh phúc 4

2 Khởi nguồn quan điểm của Hồ Chí Minh về Độc lập – Tự do – Hạnh phúc 5

3 Độc lập dân tộc theo con đường Chủ Nghĩa xã hội là tiền đề của tự do, hạnh phúc 7

a) Quan điểm của Hồ Chí Minh về tính tất yếu của CNXH ở Việt Nam 7

b) Mối quan hệ giữa độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội 9

4 Sự thể hiện trên thực tế tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội 10

5 Liên hệ độc lập, tự do, hạnh phúc ngày nay với bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng CNXH 11

a) Đảng thực hiện độc lập dân tộc gắn liền với CNXH trong sự nghiệp Cách mạng Việt Nam trong các giai đoạn 11

b) Đảng và công cuộc thực hiện “độc lập - tự do - hạnh phúc” 13

KẾT LUẬN 15

TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người thầy vĩ đại, lãnh tụ thiên tài của Đảng và nhân dân ta, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, người sáng lập lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta

Tư tưởng của người cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng kim chỉ nam hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn ăn và quý giá của Đảng và dân tộc ta mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại những tư tưởng vô cùng sâu sắc về tất cả các lĩnh vực Trong đó về vấn đề

dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Người đã từng nói: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng

hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí

Minh được trích trong “Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng”, ký tên Hồ Chí Minh; đăng trên Báo Cứu quốc, số ra ngày 17-10-1945

Phân tích luận điểm: “Nước độc lập mà người dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì

độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” của Bác giúp ta có cái thấu đáo hơn về tầm quan trọng của

độc lập dân tộc chân chính phải gắn với tự do, hạnh phúc của nhân dân và khẳng định thêm sự đúng đắn của việc theo đuổi xây dựng nhà nước Xã hội chủ nghĩa “do dân, vì dân”

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Qua Đề tài “Tại sao nói đường lối đổi mới năm 1986 ở Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6

là một bước ngoặt lớn trong công cuộc xây dựng XHCN ở nước ta? Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này?” cần hiểu được các vấn đề:

- Hiểu được bối cảnh và quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về độc lập – tự do – hạnh phúc

- Hiểu rõ và rút ra được lý do Bác chọn con đường CNXH để giải quyết vấn đề độc lập dân tộc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân

- Rút ra ý nghĩa và liên hệ với sự nghiệp của Đảng hiện nay để xây dựng và bảo

vệ nền độc lập dân tộc và mang lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân Khẳng định

sự đúng đắn và ý nghĩa to lớn, giữ vững con đường đi lên xã hội chủ nghĩa của Việt Nam

3 Phạm vi tìm hiểu

Tìm hiểu về bối cảnh lịch sử, tư tưởng và phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc gắn với tự do, hạnh phúc và đi lên XHCN để đạt được độc lập – tự do – hạnh phúc

Trang 4

NỘI DUNG TÌM HIỀU

1 Khái quát về luận điểm của Hồ Chí Minh về Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự

do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích

trong “Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng”, ký tên Hồ Chí Minh; đăng trên Báo Cứu quốc, số ra ngày 17-10-1945

Ta có thể khẳng định, đây chắc chắn là một luận điểm vô cùng xác đáng và sâu sắc được Bác đúng kết và khái quát lên như một tư tưởng, kim chỉ nam nhắc nhở Đảng và cán bộ Đảng viên về tầm quan trọng của Độc lập - Tự do - Hạnh phục của nhân dân Đó đều là những vấn đề rất cấp bách và không thể tách rời nhau

Nói rằng hơn ai hết nhân dân ta thấu hiểu giá trị thiêng liêng của độc lập dân tộc Bởi lẽ, từ thời phong kiến cha ông ta lập nước, dân tộc Việt Nam đã trải qua hơn 1000 năm sống dưới ách đô hộ của phong kiến phương Bắc (từ năm 179 TCN đến năm 938) Sau nghìn năm của các triều đại phong kiến chống giặc ngoại xâm, ta lại bị sự xâm lược của các nước phương Tây với hơn 80 năm bị thực dân Pháp xâm lược (từ năm 1858 đến năm 1945) và hơn 30 năm bị thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm chiếm (từ 1945 đến 1975) Thế nhưng sau bao nhiêu năm bị phương Bắc đô hộ, những năm tháng thành thuộc địa của đế quốc phương Tây, nhân dân ta vẫn không ngừng đấu tranh vì nền độc lập tự do Điều đó nói lên một khát khao to lớn của dân tộc ta là, luôn mong muốn có một nền độc lập cho nhân dân,

tự do cho nhân dân, do nhân dân làm chủ Mất độc lập cũng là mất tất cả, đây là một sự thật hiển nhiên không thể chối cãi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định một chân lý bất

hủ: “ Không có gì quý hơn độc lập, tự do”

“Độc lập” theo Hồ Chí Minh phải là độc lập dân tộc, tức là độc lập phải gắn với tự do của

nhân dân “Độc lập” là quyền bất khả xâm phạm của một đất nước, một quốc gia và chính nhân dân của đất nước đó có quyền làm chủ những quyết định của đất nước, có nghĩa là có chủ quyền tối cao “Độc lập” ở đây còn hiểu là tình trạng không bị điều khiển, cai trị bởi một thế lực khác thông qua chủ nghĩa thực dân, sự bành trướng hay chủ nghĩa đế quốc

“Tự do” là một khái niệm dùng trong triết học chính trị mô tả tình trạng khi một cá nhân

có thể có khả năng hành động theo đúng với ý chí nguyện vọng của chính mình

“Hạnh phúc” là một trạng thái cảm xúc của con người khi được thỏa mãn một nhu cầu

nào đó mang tính trừu tượng Hạnh phúc là một cảm xúc bậc cao, được cho rằng chỉ có ở loài người, nó mang tính nhân bản sâu sắc và thường chịu tác động của lý trí

Bác đã có sự lĩnh hội trọn vẹn và chọn lọc về những tư tưởng lớn của nhân loại Người đánh giá cao học thuyết “Tam dân” của Tôn Trung Sơn về độc lập và tự do Người cũng

đã từng khẳng định: “Chính sách đối nội của Việt Nam là dân tộc độc lập, dân quyền tự

Trang 5

do, dân sinh hạnh phúc.” Và những tư tưởng về vấn đề độc lập dân tộc gắn liền tự do, hạnh phúc của nhân dân đã được Người khẳng định rất nhiều lần Có thể thấy rằng, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người luôn coi độc lập gắn liền với tự do, hạnh phúc của nhân dân như người từng bộc bạch để tâm huyết Tôi chỉ có một Ham muốn ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập nhân dân ta được hoàn toàn tự

do đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc ai cũng được học hành

"Độc lập" ở Việt Nam trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 "đã giải phóng đồng bào ta

ra khỏi chế độ quân chủ chuyên chế và xiềng xích thực dân xây dựng cho nhân dân ta cái nền tảng dân chủ cộng hòa và thống nhất độc lập" "Độc lập" ấy của toàn dân tộc sau khi giành được đã nêu cao ý chí quyết tâm "Thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ"; dù "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!" Nhưng "Độc lập" không tách biệt với "Tự do", "Hạnh phúc" mà phải gắn liền một cách hữu cơ và biện chứng với nhau như những điều kiện và mục tiêu tối thượng Có được độc lập thôi là chưa đủ Độc lập dân tộc luôn phải gắn liền tự do, hạnh phúc của nhân dân

2 Khởi nguồn quan điểm của Hồ Chí Minh về Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Giải phóng dân tộc, giành lại nên độc lập của Tổ quốc, tự do, hạnh phúc của dân tộc luôn là khát vọng mãnh liệt không chỉ của Hồ Chí Minh nói riêng mà còn là mục tiêu to lớn của những nhà yêu nước nói chung Tuy nhiên, ở mỗi thời kỳ khác nhau, tư tưởng của mỗi người cũng khác nhau

a) Quan điểm của các nhà yêu nước tiền bối

Đầu thế kỷ XX, trước bối cảnh đất nước bị xâm lược, nhân dân lầm than, không ít các văn thân sĩ phu yêu nước đã đứng lên đấu tranh, nổi bật trong số đó không thể không nói đến hai cuộc cải cách của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh Nếu Phan Bội Châu đi theo con đường “cứu nước để cứu dân” với xu hướng cải cách là bạo động vũ trang thì Phan Châu Trinh lại đi theo con đường “cứu dân để cứu nước” với xu hướng cải cách dân chủ

Phan Bội Châu chủ trương dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài, chủ yếu là Nhật Bản để đánh Pháp giành độc lập dân tộc, thiết lập một nhà nước theo mô hình quân chủ lập hiến của Nhật Có thể thấy rằng điểm tích cực trong khuynh hướng cứu nước của Phan Bội Châu là ông đã xác định được đúng mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, vì vậy ông nêu rõ mục tiêu là đánh đuổi Pháp thì mới có thể giành được độc lập tự do cho nhân dân

Để thu hút sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân, Phan Bội Châu đã lợi dụng tư tưởng trung quân ái quốc để tập hợp lực lượng Rõ ràng lúc này ở Việt Nam vẫn còn là chế

độ quân chủ do vua Thành Thái nắm quyền nhưng Phan Bội Châu đã chọn cho mình một Cường Đế có tinh thần chống Pháp chứ không phải một ông vua chính danh nhưng bù nhìn như Thành Thái Theo quan điểm của Phan Bội Châu, các thế lực thù địch đã chống

Trang 6

phá ta bằng quân sự thì ta cũng phải chống lại chúng bằng bạo lực quân sự, do vậy con đường cải cách bằng bạo động vũ trang là đúng đắn

Phan Châu Trinh xác định nhiệm vụ cấp bách lúc bấy giờ là chấn dân khí, khai dân trí và hậu dân sinh Chủ trương của ông là biến nước ta thành một quốc gia có nền văn hoá vượt trội, dân giàu, nước mạnh, từ đó buộc thực dân Pháp phải bằng lòng trao trả lại nền độc lập vốn có cho Việt Nam Năm 1906, Phan Châu Trinh cùng một số sĩ phu yêu nước tiến bộ khởi xướng cuộc vận động Duy tân ở Trung Kì Cổ vũ nhân dân cùng phát triển cả về kinh

tế, văn hoá và giáo dục như: cổ động việc chấn hưng thực nghiệp, lập hộ kinh doanh phát triển các nghề thủ công nghiệp (mở lò rèn, xưởng mộc), làm vườn; mở các trường học theo lối mới, dạy chữ Quốc ngữ, môn học mới và thành lập các trường duy tân như Đông Kinh Nghĩa Thục hoạt động trên phạm vi rộng rãi với nội dung và phương pháp hoàn toàn mới Khuynh hướng vận động cải cách của Phan Châu Trinh đã cỗ vũ tinh thần học tập, tự cường, chống các hủ tục phong kiến

Có thể nhận thấy điểm tương đồng của hai cuộc cải cách lớn này đều đi theo con đường dân chủ tư sản, đều tiếp thu và học hỏi từ bên ngoài rồi trở về giúp dân giúp nước, xuất phát từ mục tiêu giành độc lập cho dân tộc và cả Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh đều

đã xác định rõ được kẻ thù trước mắt là ai và đều mượn sức mạnh của đế quốc để hoàn thành mục tiêu (Phan Bội Châu dựa vào Nhật để chống Pháp, Phân Châu Trinh dựa vào Pháp để chống chế độ phong kiến), đây cũng chính là một sai lầm lớn dẫn đến sự thất bại của cả hai cuộc cải cách này Tuy vậy nhưng cuộc cải cách của hai nhà yêu nước đã khuấy động được tinh thần yêu nước của quần chúng nhân dân và để lại một kinh nghiệm sâu sắc

đó là không thể dựa vào một thế lực khác bên ngoài để có được tự do, độc lập, tự chủ của quốc gia, dân tộc

b) Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Năm 1911 khi Việt Nam đã hoàn toàn trở thành thuộc địa của thực dân Pháp, nước mất độc lập, dân nô lệ, Hồ Chí Minh không hoàn toàn tán thành con đường cứu nước của các bậc tiền bối, quyết tâm ra đi tìm con đường cứu nước mới Suy nghĩ lớn nhất và duy nhất của Người lúc đó là giải phóng đồng bào, tức là lật đổ, xóa bỏ ách áp bức, bóc lột của bọn thực dân phong kiến, giành độc lập dân tộc

Trong khoảng bảy năm từ 1911 đến trước khi Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi, Hồ Chí Minh đã tìm hiểu các cuộc cách mạng lớn trên thế giới, tìm hiểu nghiên cứu các kiểu nhà nước và khảo sát cuộc sống của nhân dân các dân tộc bị áp bức Ngay sau Cách mạng Tháng Mười Nga, tuy chưa có được nhận thức lý tính, những Người đã thấy rằng chỉ có con đường Cách mạng Tháng Mười Nga thì mới giành được độc lập dân tộc Được ánh sáng của Quốc tế Cộng sản soi rọi, đặc biệt là Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lê nin, Hồ Chí Minh đã tìm thấy con đường chân chính cho sự nghiệp cứu nước giải phóng dân tộc Đó chính là con đường Cách mạng Vô sản

Khác với các nhà yêu nước tiền bối, Hồ Chí Minh không bao giờ chấp nhận độc lập tự do dưới chế độ quân chủ chuyên chế, càng không chấp nhận cái gọi là độc lập tự do dưới chế

Trang 7

độ thực dân Bởi vì, đó là chế độ mà người dân vị đầu độc cả về thể xác lẫn tinh thần, bị bịt mồm và bị giam hãm Đó chỉ là sự tự do độc lập giả tạo chứ người dân, đặc biệt là nhân dân lao động cùng cực vẫn luôn bị bóc lột và không được hưởng các quyền tự do độc lập thật sự Hơn ai hết, Người ý thức rất rõ không có độc lập là sống kiếp ngựa trâu, thì “chết

tự do còn hơn sống nô lệ” Vì vậy trong Bác, độc lập tự do phải đi liền với hạnh phúc của nhân dân thì mới là độc lập tự do đích thực

Quan niệm về độc lập dân tộc không phải là điều mới mẻ trong lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới Nhưng độc lập dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh lại hoàn toàn mới, vì đó là một kiểu độc lập dân tộc được nâng lên một trình độ mới, một chất mới Đối với một người dân mất nước, cái quý nhất là độc lập của Tổ quốc, tự do của nhân dân Trên con đường tiếp cận chân lý cứu nước, Người đã chọn độc lập dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, đó là kiểu độc lập dân tộc làm tiền đề và đi tới hạnh phúc, tự do

Chính nhờ việc xác định đúng đắn đích đến của con đường cứu nước, mà cuối cùng, sau những nỗ lực không ngừng của toàn dân và sự lãnh đạo và đường lối của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng, đất nước đã đi đến chiến thắng cuối cùng “thực sự trở thành nước tự do, độc lập” “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” là dòng tiêu ngữ của nước ta suốt 70 năm qua Tuy đơn giản nhưng đó là “ham muốn tột bậc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tôi chỉ có một

sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành.” Theo

Hồ Chí Minh, tròn điều kiện nước thuộc địa như Việt Nam thì trước hết phải đấu tranh giành độc lập, đưa đất nước thoát khỏi ách áp bức, đô hộ của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, giành lại chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xây dựng nên một nhà nước mới Tiếp sau đó là làm cho nhân dân thực sự được hưởng tự do, hạnh phúc mà nền độc lập mang lại Do đó, sau khi giành được độc lập, phải tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho dân giàu, nước mạnh, mọi người được sung sướng tự do

Vậy ta có thể nhận thấy được sự tiến bộ về nhận thức và đường lối mà Hồ Chí Minh lựa chọn cũng như xác định làm kim chỉ nam cho đích đến của độc lập dân tộc của Việt Nam

so với những nhà yêu nước tiền bối đi trước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh… Khác với con đường cứu nước của cha ông, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa phong kiên (cuối thế kỷ XIX), hoặc chủ nghĩa tư bản (đầu thế kỷ XX), con đường cứu nước của Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Người đã nhận thức rõ ràng bản chất của tư bản, để từ đó khẳng định rằng: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác

ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc…”

3 Độc lập dân tộc theo con đường Chủ Nghĩa xã hội là tiền đề của tự do, hạnh phúc

a) Quan điểm của Hồ Chí Minh về tính tất yếu của CNXH ở Việt Nam

Trang 8

Tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH có nguồn gốc sâu xa từ chủ nghĩa yêu nước, các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam kết tinh cùng sự tiếp nhận “gạn đục khơi trong” của Người tinh hoa văn hóa nhân loại từ phương Đông đến phương Tây và đặc biệt là Chủ nghĩa Mác - Lê-nin Ngay từ cuối những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh khẳng định rằng: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Mác - Lê-nin”

Theo Hồ Chí Minh, vấn đề dân tộc của Việt Nam chính là “vấn đề dân tộc thuộc địa”, bởi

lẽ Việt Nam đang là một nước thuộc địa nửa phong kiến dưới sự đàn áp của thực dân và đế quốc tư sản Thực chất của việc giải phóng dân tộc là phải giành cho được độc lập, tự do bằng con đường bạo lực cách mạng để đi tới xây dựng đất nước, nhà nước của nhân dân,

do nhân dân và vì nhân dân

Trong đó, Người đã xác định con đường Cách mạng Việt Nam phải đi là:

Thứ nhất là Tư sản dân quyền Nghĩa là thực hiện cuộc cách mạng đấu tranh dân tộc do công nhân lãnh đạo nhằm chống phong kiến, chống đế quốc nước ngoài để giành chính quyền về tay nhân dân Bản chất của điều đó là một cuộc cách mạng tư sản nhưng kiểu mới Đặc biệt, “dân quyền” ở đây là giành độc lập tự do cho nhân dân, do nhân dân làm chủ

Thứ hai, “Thổ địa Cách mạng”, nghĩa là phải làm cách mạng ruộng đất Từ đó chống địa chủ phong kiến, đem lại lợi ích cho dân cày, thực hiện quyền lợi của công - nông

Thứ ba, và cũng là đích đến cuối cùng, chính là “Đi lên XHCN”

Trong khi việc thực hiện “Tư sản dân quyền” và “Thổ địa Cách mạng” là bản chất để giải phóng giai cấp thì “Đi lên XHCN” là mục tiêu cao cả nhất nhằm giải phóng con người Chỉ khi Cách mạng Việt Nam hoàn thành được những mục tiêu ấy, thi nhân dân mới hoàn toàn được hưởng nền độc lập, tự do, hạnh phúc

Với Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc bao hàm trong đó cả nội dung dân tộc và dân chủ Đó là nền độc lập thật sự, độc lập hoàn toàn, chứ không phải là thứ độc lập giả hiệu, độc lập nửa vời, độc lập hình thức Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc phải gắn liền với thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, độc lập dân tộc bao giờ cũng gắn với tự do, dân chủ, ấm no hạnh phúc của nhân dân lao động

Khi nhấn mạnh mục tiêu độc lập dân tộc, Hồ Chí Minh không bao giờ coi đó là mục tiêu cuối cùng của cách mạng Việt Nam Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, giành độc lập để đi tới

xã hội cộng sản; độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội Độc lập dân tộc là mục tiêu cốt yếu, trực tiếp của cách mạng dân tộc dân chủ, là mục tiêu trước hết của quá trình cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo, đồng thời là điều kiện hàng đầu, quyết định để cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân chuyển sang giai đoạn kế tiếp - cách

Trang 9

mạng xã hội chủ nghĩa Do vậy, cách mạng dân tộc dân chủ càng triệt để thì những điều kiện tiến lên chủ nghĩa xã hội càng được tạo ra đầy đủ Tính chất tạo tiền đề của cách mạng dân tộc dân chủ được thể hiện:

- Về chính trị: xác định và xây dựng các yếu tố của hệ thống chính trị do giai cấp công nhân lãnh đạo

- Về kinh tế: bước đầu xây dựng được các cơ sở kinh tế mang tính chất xã hội chủ nghĩa, từng bước cải thiện đời sống nhân dân

- Về văn hoá, xã hội, đời sống tinh thần: trong cách mạng dân tộc dân chủ, khối quần chúng công - nông - trí thức và các giai tầng xã hội khác đã có ý thức giác ngộ, đoàn kết trong một mặt trận dân tộc thống nhất; những nhân tố mới của văn hoá, giáo dục đã được hình thành dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Tóm lại, độc lập dân tộc tạo tiền đề, điều kiện để nhân dân lao động tự quyết định con đường đi tới chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản

b) Mối quan hệ giữa độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội

Như đã nói ở trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc bằng cách đến tận đất nước đang xâm lược Việt Nam và rêu rao về cái gọi là “Tự do, bình đẳng, bác ái” để hiểu và để “ xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta” Nhưng qua tìm hiểu thực tế sau đó, Người quyết định không chọn con đường cách mạng tư sản vì cho rằng: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghãi là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức” Khi hóa thân vào thế giới cần lao, Nguyễn Ái Quốc nhận ra một thực tế chung: Ở đâu chủ nghĩa thực dân đế quốc cũng tàn bạo - chúng là kẻ thù chung của giai cấp công nhân, nhân dân lao động; ở đâu nhân dân lao động cũng bị áp bức cực khổ và họ có thể làm bạn với nhau không phân biệt màu da

Sau năm 1917, sự thành cồn của Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi đã ảnh hưởng sâu sắc đến Hồ Chí Minh trong việc lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc Năm

1920, sau khi đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin, Hồ Chí Minh chính thức tìm thấy ở đó con đường cứu nước, giải phóng dân tộc: con đường cách mạng vô sản Đây là con đường cách mạng triệt để nhất, phù hợp với yêu cầu của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại

Trải qua những thăng trầm lịch sử, tính đúng đắn của con đường mà Hồ Chí Minh đã tiếp nhận từ chủ nghĩa yêu nước và thế giới quan trong phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác -Lênin đã làm nên nền tảng tư tưởng của Đảng ta trong suốt những năm đấu tranh giành độc lập và cả những năm xây dựng, đổi mới đất nước Vấn đề giải phóng dân tộc được giải

Trang 10

quyết triệt để bằng cách mạng vô sản gắn với CNXH, chỉ có CNXH mới giải quyết triệt để vấn đề độc lập dân tộc, mới có thể đem lại hạnh phúc thực sự cho nhân dân Chỉ có CNXH mới có thể xóa bỏ vĩnh viễn ách áp bức, bóc lột và thống trị của chủ nghĩa tư bản, mới thực sự giải phóng hoàn toàn sự bất công, tiến tới và triệt để đới với giai cấp công nông nói riêng và nhân dân lao động nói chung, tiến tới tự do, dân chủ và bình đẳng cho con người Như vậy mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và CNXH là mối quan hệ giữa hai giai đoạn, hai thời kỳ, của cùng một quá trình cách mạng và đồng thời cũng là mối quan hệ giữa hai loại mục đích: Mục đích trước mắt và mục đích lâu dài

Tư tưởng Hồ Chí Minh đã độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đã định hướng chính trị, chỉ đạo nhận thức và hành động của toàn Đảng, toàn dân ta trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng

Hồ Chí Minh đã được kiểm nghiệm, khẳng định thành công trong giai đoạn Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta tiến hành

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội được nói đến một cách thiết thực, cụ thể,

dễ hiểu: “CNXH trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc.”; “CNXH là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy đều được đi học, ốm đau

có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục tập quán không tốt được dần dần được xóa bỏ” Hay “CNXH là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân và do nhân dân tự xây dựng lấy” Nói tóm lại “CNXH là làm sao cho dân giàu nước mạnh”

4 Sự thể hiện trên thực tế tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

 Thời kỳ 1930-1945: ở thời kỳ này tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội được thể hiện qua những hoạt động lý luận và thực tế chủ yếu sau đây của Hồ Chí Minh:

- Xác định tính chất cách mạng Việt Nam: giải phóng dân tộc bằng con đường cách mạng

vô sản, gắn giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, nhân dân lao động, với toàn thể dân tộc bị nô lệ dưới ách đế quốc Pháp và tay sai của chúng; xác định nhiệm vụ, mục tiêu của cách mạng Việt Nam “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” Con đường cách mạng Việt Nam được Hồ Chí Minh thể hiện rõ nét trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng

- Xác định đối tượng đấu tranh của cách mạng Việt Nam là đế quốc xâm lược, phong kiến tay sai, tầng lớp tư sản và địa chủ chống lại độc lập dân tộc

- Xác định rõ lực lượng cách mạng Việt Nam là toàn thể nhân dân, bao gồm công nhân, nông dân, tầng lớp tiểu tư sản, tư sản dân tộc, trung, tiểu địa chủ, các cá nhân yêu nước,

Ngày đăng: 07/02/2022, 18:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Viết Thông (chủ biên): Giáo trình kinh tế chính trị Mác - Lênin, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế chính trị Mác - Lênin
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia
2. Giáo trình Triết học Mác- Lênin (Bộ Giáo dục và Đào tạo) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Mác- Lênin
3. Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh
4. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
5. Viện Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh trong trái tim nhân loại, Nxb.Lao động, Nxb.Quân đội nhân dân, H.1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh trong trái tim nhân loại
Nhà XB: Nxb.Lao động
6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb.Chính trị quốc gia, H.1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia
8. Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị - Hành chính, H.2011 9. Các bài viết từ Báo điện tử: Đảng Cộng sản Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
10. Một số bài viết khác trên Internet Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w