Bài viết về đề tài: Tại sao nói đường lối đổi mới năm 1986 ở Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 là một bước ngoặt lớn trong công cuộc xây dựng XHCN ở nước ta? Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này? thuộc bộ môn Lịch sử Đảng. Đề tài trên sẽ giúp ta có cái nhìn thấu đáo hơn về tầm quan trọng của đường lối đổi mới năm 1986 và khẳng định thêm sự đúng đắn của việc theo đuổi xây dựng nhà nước Xã hội chủ nghĩa “do dân, vì dân”.
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-*** -BÀI TẬP LỚN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ SỐ 2: Tại sao nói đường lối đổi mới năm 1986 ở Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ 6 là một bước ngoặt lớn trong công cuộc xây dựng XHCN ở nước ta? Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này?
Họ và tên SV:
Lớp tín chỉ: 05 - Giảng đường B306 (Thứ 2, Tiết 5-6)
Mã SV:
HÀ NỘI, NĂM 2021.
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG TÌM HIỀU 4
I Hoàn cảnh lịch sử mới trước khi diễn ra Đại hội Đảng toàn quốc lần 6 4
1 Về bối cảnh trong nước 4
2 Về bối cảnh quốc tế 4
II Quan điểm và đường lối hình thành đường lối đổi mới năm 1986 của Đảng 6
III Mục đích và nội dung của đường lối đổi mới năm 1986 ở Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 7
1 Mục đích 7
2 Nội dung 7
IV Thành tựu của công cuộc đổi mới năm 1986 của Đảng 9
1 Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế 9
2 Kim ngạch xuất khẩu 9
3 Môi trường đầu tư 10
V Đánh giá tổng quan về đường lối đổi mới năm 1986 ở Đại hội Đảng toàn quốc năm 1986 là một bước ngoặt lớn trong công cuộc xây dựng XHCN ở nước ta 10
VI Ý nghĩa của việc nghiên cứu đường lối đổi mới năm 1986 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 11
KẾT LUẬN 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ giữa thập kỷ 80 thế kỷ XX, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật lần thứ hai, đổi mới đã trở thành xu thế của thời đại Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa đều tiến hành cải tổ, cải cách Khi đó, Việt Nam vẫn đang bị các đế quốc và thế lực thù địch bao vây, cấm vận và vẫn ở tình trạng khủng hoảng kinh tế-xã hội
Trước tình hình đó, đổi mới là yêu cầu cấp bách và cần thiết cho sự tồn tại và phát triển
của Đảng và đất nước Đại hội VI của Đảng là Đại hội khởi xướng đường lối đổi mới toàn
diện, đánh dấu ngoặt phát triển mới trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Nhờ đường lối đổi mới đúng đắn năm 1986 của Đảng, nước ta đã giữ vững được nhà nước Xã hội chủ nghĩa và đi lên phát triển nền kinh tế mới sánh vai với các nước phát triển, đạt được nhiều thành quả to lớn
Nghiên cứu về đề tài: Tại sao nói đường lối đổi mới năm 1986 ở Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ 6 là một bước ngoặt lớn trong công cuộc xây dựng XHCN ở nước ta? Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này? Giúp ta có cái thấu đáo hơn về tầm quan trọng của đường lối
đổi mới năm 1986 và khẳng định thêm sự đúng đắn của việc theo đuổi xây dựng nhà nước Xã hội chủ nghĩa “do dân, vì dân”
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Qua Đề tài “Tại sao nói đường lối đổi mới năm 1986 ở Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6
là một bước ngoặt lớn trong công cuộc xây dựng XHCN ở nước ta? Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này?” cần hiểu được các vấn đề:
- Hiểu được bối cảnh và nguyên nhân dẫn đến quyết định đổi mới của Đảng và những nội dung đổi mới năm 1986 ở Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6
- Rút ra ý nghĩa và bài học kinh nghiệm từ đường lối đổi mới năm 1986 Khẳng định sự đúng đắn và ý nghĩa to lớn, giữ vững con đường đi lên xã hội chủ nghĩa của Việt Nam
3 Phạm vi tìm hiểu
Tìm hiểu về bối cảnh lịch sử, tư tưởng và nội dung chính của đường lối đổi mới và ý nghĩa bước ngoặt trong công cuộc xây dựng XHCN của đường lối đổi mởi năm 1986 ở Đại hội Đảng
Trang 5NỘI DUNG TÌM HIỀU
I Hoàn cảnh lịch sử mới trước khi diễn ra Đại hội Đảng toàn quốc lần 6
1 Về bối cảnh trong nước
Trong hơn một thập kỉ thực hiện hai kế hoạch Nhà nước 5 năm (1976 – 1985), cách mạng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta đạt được những thành tựu và ưu điểm đáng kể trên các lĩnh vực đời sống xã hội Song cách mạng cũng gặp không ít khó khăn, đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng, trước hết là khủng hoảng kinh tế - xã hội Một trong những nguyên nhân cơ bản của khó khăn, yếu kém là do mắc phải: “sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện”
Thù trong, giặc ngoài phá hoại đất nước
Mỹ và các thế lực thù địch lấy cớ quân tình nguyện Việt Nam chưa rút khỏi Campuchia, tiếp tục cấm vận, cô lập nước ta Họ dung dưỡng các tổ chức phản động trở về Việt Nam gây bạo loạn, lật đổ Từ sau năm 1979, Trung Quốc vẫn bắn pháo, gây hấn trên một số vùng biên giới phía Bắc Cao điểm nhất, tháng 3-1988, Trung Quốc cho quân đội chiếm đảo Gạc Ma và các bãi cạn Châu Viên, Chữ Thập trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam Quan hệ Việt-Trung, Việt- Mỹ vốn căng thẳng từ những năm 1974, 1979 nay càng căng thẳng hơn
Yêu cầu của Cách mạng Việt Nam
Sự bao vây, chống phá của các thế lực thù địch đối vối Việt Nam từ nửa cuối thập niên 70 của thế kỷ XX tạo nên tình trạng căng thẳng, mất ổn định trong khu vực và gây khó khăn, cản trở cho sự phát triển của cách mạng Việt Nam, là một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng ở nước ta Vì vậy, vấn đề giải tỏa tình trạng đối đầu, thù địch, phá thế bị bao vây, cấm vận, tiến tới bình thường hóa và mở rộng quan hệ hợp tác với các nước, tạo môi trường quốc tế thuận lợi để tập trung xây dựng kinh
tế là nhu cầu cần thiết và cấp bách đối với nước ta
Trong giai đoạn 1976 -1986, Việt Nam áp dụng chế độ bao cấp, tem phiếu Chính vì vậy, các mặt hàng trong giai đoạn này thường khan hiếm, không đáp ứng được nhu cầu của người dân Tiêu dụng chậm dẫn đến tình trạng lạm phát, đời sống của nhân dân thiếu thốn, khó khăn
2 Về bối cảnh quốc tế
Cuộc Cách mạng khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ
Từ giữa những năm 1980, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ (đặc biệt là công nghệ thông tin) tiếp tục phát triển mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến mọi mặt đời sống của các quốc gia, dân tộc
Trang 6 Các nước XHCN lâm vào khủng hoảng sâu sắc Liên Xô sụp đổ - trật tự hai cực tan rã
Trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, tình hình thế giới biến chuyển nhanh chóng Công cuộc cải tổ ở Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu ngày càng rơi vào khủng hoảng toàn diện và sụp đổ hoàn toàn (12-1991), gây tác động bất lợi nhiều mặt đối với thế giới và Việt Nam
Các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng sâu sắc Đến năm 1991, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô sụp đổ dẫn đến những biến đổi to lớn về quan hệ quốc tế Trật tự thế giới được hình thành từ sau chiến tranh thế giới thứ hai trên cơ sở hai khối độc lập do Liên
Xô và Hoa Kỳ đứng đầu (trật tự thế giới hai cực) tan rã, mở ra thời kỳ hình thành một trật
tự thế giới mới
Xu thế chung của thế giới và tác động của Xu thế toàn cầu hóa
Trên phạm vi thế giới, những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột, tranh chấp vẫn còn, nhưng xu thế chung của thế giới là hòa bình và hợp tác phát triển
Các quốc gia, các tổ chức và lực lượng chính trị quốc tế thực hiện điều chỉnh chiến lược đối nội, đối ngoại và phương thức hành động cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ bên trong
và đặc điểm của thế giới
Xu thế chạy đua phát triển kinh tế khiến các nước, nhất là những nước đang phát triển đã đổi mới tư duy đối ngoại, thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; mở rộng và tăng cường liên kết, hợp tác với các nước phát triển để tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ, mở rộng thị trường, học tập kinh nghiệm tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh
Các nước đổi mới tư duy về quan niệm sức mạnh, vị thế quốc gia Thay thế cách đánh giá
cũ, chủ yếu dựa vào sức mạnh quân sự, bằng các tiêu chí tổng hợp trong đó sức mạnh kinh
tế được đặt ở vị trí quan trọng hàng đầu
Xu thế toàn cầu hóa và tác động của nó:
Dưới góc độ kinh tế, toàn cầu hóa là quá trình lực lượng sản xuất và quan hệ kính tế quốc
tế phát triển vượt qua các rào cản bởi biên giới quốc gia và khu vực, lan tỏa ra phạm vi toàn cầu, trong đó hàng hóa, vốn, tiền tệ, thông tin, lao động vận động thông thoáng; sự phân công lao động mang tính quốc tế; quan hệ kinh tế giữa các quốc gia, khu vực đan xen nhau, hình thành mạng lưới quan hệ đa chiều
Những tác động tích cực của toàn cầu hóa: trên cơ sở thị trường được mở rộng, trao đổi hàng hóa tăng mạnh đã thúc đẩy phát triển sản xuất của các nước; nguồn vốn, khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý cùng các hình thức đầu tư, hợp tác khác mang lại lợi ích cho các bên tham gia hợp tác Mặt khác, toàn cầu hóa làm tăng tính phụ thuộc lẫn nhau,
Trang 7nâng cao sự hiểu biết giữa các quốc gia, thuận lợi cho việc xây dựng môi trường hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các nước
Những tác động tiêu cực của toàn cầu hóa: xuất phát từ việc các nước công nghiệp phát triển thao túng, chi phối quá trình toàn cầu hóa tạo nên sự bất bình đẳng trong quan hệ quốc tế và làm gia tăng sự phân cực giữa nước giàu và nước nghèo
II Quan điểm và đường lối hình thành đường lối đổi mới năm 1986 của Đảng
Trước hết, thực hiện công cuộc đổi mới có nghĩa là thay đổi phương thức, chiến lược đi
lên chủ nghĩa xã hội, nhưng không xa rời mục tiêu xã hội chủ nghĩa, mà thực hiện mục tiêu ấy bằng phương thức, chiến lược mới Đây là quan điểm cơ bản nhất, là nền tảng cho các quan điểm khác Thực tế cho thấy, ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây, thực hiện cải tổ mà từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa thì sẽ dẫn đến mất phương hướng và hỗn loạn
Thứ hai,tiếp tục thực hiện mục tiêu xã hội chủ nghĩa thì tất yếu phải giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, vì đây là nhân tố tiên quyết để thực hiện mục tiêu xã hội chủ nghĩa Trong quá trình thực hiện cải tổ, ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô đã quyết định xóa bỏ Điều 6, Hiến pháp Liên Xô về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Thực chất, đó không chỉ là sự tước quyền lãnh đạo của Đảng về mặt pháp lý, thừa nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, tạo điều kiện cho các lực lượng chính trị khác vươn lên đoạt quyền, mà còn là sự từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa
Thứ ba,tiếp tục thực hiện mục tiêu xã hội chủ nghĩa và giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản thì tất yếu phải lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng tư tưởng, bởi chủ nghĩa Mác - Lê-nin không chỉ là nền tảng tư tưởng của Đảng, mà còn là cơ sở để xây dựng
hệ tư tưởng của toàn xã hội và nhờ đó mới có thể thực hiện được mục tiêu xã hội chủ nghĩa Ngược lại, nếu từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa thì tất yếu dẫn đến phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tiếp nhận hệ tư tưởng tư sản, như Goóc-ba-chốp đã thực hiện trong công cuộc cải tổ ở Liên Xô trước đây
Thứ tư,giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Nhà nước và xã hội nói chung, nhất là đối với lực lượng vũ trang (quân đội và công an) Đảng phải lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối và trực tiếp lực lượng vũ trang Bởi vì, nếu lực lượng vũ trang bị trung lập hóa, chỉ có trách nhiệm bảo vệ độc lập chủ quyền và an ninh quốc gia, không phụ thuộc vào đảng phái nào, thì thực chất là tước quyền lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang Cách thức này đã được áp dụng ở Liên Xô thời kỳ cải tổ
Thứ năm,hội nhập quốc tế, nhưng độc lập về chính trị, giữ vững chủ quyền quốc gia, tiếp tục thực hiện con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội Thực tiễn gần 30 năm qua đã chứng minh đó là quan điểm đúng đắn Chúng ta đã làm bạn với nhiều nước trên thế giới và thiết lập quan hệ ngày càng tốt đẹp, nhân dân ta giao lưu với nhân dân các nước, lãnh đạo Đảng
và Nhà nước ta được các nước trân trọng, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước được cộng đồng quốc tế đồng tình ủng hộ Thực tiễn cũng cho thấy, việc thực hiện công cuộc
Trang 8cải tổ của Liên Xô trước đây có sự chi phối và sao chép tư tưởng chính trị từ bên ngoài, vì vậy đã gây nên sự sụp đổ chế độ chính trị - xã hội xã hội chủ nghĩa
Thứ sáu, công cuộc đổi mới cần có những bước đi thích hợp để bảo đảm vừa đổi mới, vừa
ổn định Đổi mới phải bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế, sau đó đến đổi mới về chính trị Ngay trong đổi mới kinh tế cũng đi từ đổi mới lĩnh vực nông nghiệp rồi đến các lĩnh vực khác Trong đổi mới chính trị, việc xác định xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã tác động đến đổi mới toàn bộ hệ thống chính trị Nhờ vậy, gần 30 năm qua đất nước ta vừa
ổn định, vừa phát triển Công cuộc cải tổ của Liên Xô trước đây đã thực hiện một cách cấp thời, thiếu trình tự, cụ thể là: ban đầu đổi mới doanh nghiệp, rồi đến 100 ngày thực hiện tư nhân hóa, áp dụng nền dân chủ tư sản vào xã hội Xô-viết Kết cục, dẫn đến hỗn loạn và sụp đổ chế độ chính trị - xã hội xã hội chủ nghĩa
Có thể khẳng định, sự đúng đắn của quan điểm, đường lối chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam đã quyết định sự thành công của công cuộc đổi mới nước ta gần 30 năm qua
III Mục đích và nội dung của đường lối đổi mới năm 1986 ở Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ 6
1 Mục đích
Để khắc phục sai lầm, khuyết điểm đưa đất nước vượt qua khủng hoảng và đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa tiến lên Đảng và Nhà nước ta phải tiến hành đổi mới
Như vậy, đổi mới là vấn đề cấp bách có ý nghĩa sống còn đối với chủ nghĩa xã hội ở nước
ta đồng thời là vấn đề phù hợp với xu thế chung của thời đại
2 Nội dung
Đổi mới kinh tế
Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm phát huy sức mạnh của các thành phần kinh tế và tạo sức mạnh tổng hợp của nền kinh tề nhiều thành phần
Cải tạo quan hệ sản xuất, các thành phần kinh tế lạc hậu kìm hãm sự phát triển Cải tạo đi đôi với sử dụng và thiết lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa Trong đó, việc cải tạo phải được coi là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong suốt thời kì quá độ
Xóa bỏ cơ chế quản lí kinh tế tập trung, bao cấp; hình thành cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước Xóa bỏ chế độ phân phối theo tem phiếu
Thực hiện chính sách mở cửa, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, mở rộng sự phân công lao động và hợp tác kinh tế quốc tế, tích cực khai thác nguồn vốn, khai thác công nghệ, khai thác thị trường
Đổi mới chính trị
Trang 9Một là, xác định sáu nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới
Đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu, là sự lựa chọn sáng suốt của Bác Hồ, là mục tiêu, là lý tưởng của Đảng và nhân dân ta Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa, mà làm cho mục tiêu đó được thực hiện tốt hơn bằng quan niệm đúng đắn, hình thức, biện pháp và bước đi thích hợp
Chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng của Đảng, chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta Đổi mới không phải xa rời mà là vận dụng sáng tạo và phát triển những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin
Đổi mới nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường sức mạnh và hiệu lực của các tổ chức trong
hệ thống chính trị
Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện quyết định thắng lợi nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta
Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là mục tiêu, là động lực của sự nghiệp xây dựng
xã hội chủ nghĩa
Kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
Hai là, xác định yêu cầu công tác tư tưởng trong tình hình mới
Công tác tư tưởng phải khẳng định: Tính tất yếu lịch sử của chủ nghĩa xã hội và những thành tựu của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới Tính khách quan của quá trình cải tổ, cải cách, đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội Nâng cao cảnh giác cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế Kiên trì mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa Nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng xã hội chủ nghĩa, tăng cường sự đoàn kết thống nhất ý chí và hành động trong Đảng và xã hội, đấu tranh chống tiêu cực
Ba là, đánh giá tình hình các nước xã hội chủ nghĩa, sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc
và nhiệm vụ cấp bách của Đảng
Xây dựng lại Nhà nước xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của nhân dân, do dân và vì dân lấy liên minh giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp tri thức làm nền tảng của Nhà nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng; cảnh giác và kiên quyết chống âm mưu “diễn biến hoà bình
Bốn là, chủ trương giải quyết một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng
Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân
Đảng phải đổi mới tư duy, đổi mới tổ chức, đổi mới đội ngũ cán bộ, đổi mới phong cách lãnh đạo, nâng cao giác ngộ, bồi dưỡng lý tưởng, kiến thức và năng lực lãnh đạo, mở rộng dân chủ gắn với tăng cường kỷ luật trong Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với
Trang 10các tầng lớp nhân dân lao động.
Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, thực hiện và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân
IV Thành tựu của công cuộc đổi mới năm 1986 của Đảng
Từ sau năm 1986, Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới với những thay đổi toàn diện Tem phiếu chỉ còn trong ký ức Sau hơn 30 năm, diện mạo của đất nước đã thay đổi rất nhiều Kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện
1 Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
Giai đoạn 1986-1990: Đây là thời điểm đầu của công cuộc đổi mới 1986 Những thành tựu đạt được sau thời gian khủng hoảng đánh dấu bước đầu vô cùng quan trọng Cụ thể thu nhập bình quân đầu người đạt mức tăng 4.4%/năm
Giai đoạn 1991-1995: Mức thu nhập bình quân người tăng tăng thêm 8,2%/năm
Giai đoạn 1996-2000: Do tác động của nhiều lý do như khủng hoảng kinh tế toàn cầu, thiên tai ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ gia tăng Mức tăng GDP đạt 7%/năm
Giai đoạn 1991-2000: Trong thời gian này GDP tăng mức 7,6%/năm
Giai đoạn 2001-2010: Thu nhập bình quân đầu người tăng lên 7,26%
Giai đoạn 2011-2015: Thống kê mức thu nhập đầu người tăng trưởng 6%/năm
Và cho đến nay, sau hơn 30 năm của công cuộc đổi mới 1986, mức thu nhập của người dân Việt Nam vẫn không ngừng tăng lên Bình quân, GDP tăng liên tục với tốc độ 7.43% Nếu đem thành tích công cuộc đổi mới 1986 so với các nước như Singapore, Hàn Quốc sẽ thấp hơn nhưng vẫn cao hơn so với phần lớn các nước còn lại tại ASEAN
2 Kim ngạch xuất khẩu
Giai đoạn 2011-2015: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt mức tăng 18%/năm Các mặt hàng xuất khẩu từ nông nghiệp, nông sản nguyên liệu thô chuyển dần sang các sản phẩm công nghiệp
Năm 2015 là mốc thời gian ghi nhận những thành tích xuất sắc của Việt nam trên phương diện xuất khẩu Điển hình là hàng loạt các hiệp định mang tính thương mại quốc tế như TPP, VN – EU, AEC… Đây được xem là cơ hội và cũng là thách thức không hề nhỏ đến vừa là thách thức về xuất khẩu đối với các doanh nghiệp Việt Nam
Vào năm 2015, nền kinh tế nước ta đã đạt quy mô là 204 tỷ USD với mức thu nhập bình quân trên đầu người lên tới 2.300 USD Điều này thể hiện sự tiến bộ và kết quả vượt bậc