Cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu năm 2008 đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới kinh tế Việt Nam, gây ra những thất bại thị trường, mất cân bằng vĩ mô, trong đó phải kể đến lạm phát. Đỉnh điểm của quá trình này là lạm phát năm 2008 lên tới gần 20% và duy trì ở hai con số năm 2010 và 2011. Giai đoạn này, nhiều tổ chức quốc tế đều bày tỏ mối quan ngại lạm phát cao làm xấu đi môi trường kinh doanh tại Việt Nam, ảnh hưởng đến giá trị tiền đồng. Người ta gọi đây là hiện tượng “lạm phát nhảy múa”. Từ năm 2012, Chính phủ tiến hành thắt chặt chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát và luôn đặt mục tiêu này lên hàng đầu. Chỉ số giá tiêu dùng đã giảm về một con số, song kèm theo đó là những hệ quả như tăng trưởng tín dụng thấp, vốn đầu tư toàn xã hội suy giảm. Vậy thất bại thị trường này thể hiện như thế nào, tác động như thế nào đến phúc lợi của các đối tượng có liên quan, vai trò của chính phủ trong việc khắc phục, sửa chữa thất bại thị trường này, đánh giá về các chính sách của chính phủ và kiến nghị các giải pháp?
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
BÀI TẬP NHÓM Môn: Kinh tế công cộng
Giảng viên: Nguyễn Bích Diệp
Đề tài: Case study Phân tích thất bại thị trường – Lạm phát Việt
Nam giai đoạn 2008-2012
Hà Nội, năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3CASE STUDY: Cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu năm 2008 đã ảnh
hưởng nghiêm trọng tới kinh tế Việt Nam, gây ra những thất bại thị trường, mất cânbằng vĩ mô, trong đó phải kể đến lạm phát Đỉnh điểm của quá trình này là lạm phátnăm 2008 lên tới gần 20% và duy trì ở hai con số năm 2010 và 2011 Giai đoạn này,nhiều tổ chức quốc tế đều bày tỏ mối quan ngại lạm phát cao làm xấu đi môi trườngkinh doanh tại Việt Nam, ảnh hưởng đến giá trị tiền đồng Người ta gọi đây là hiệntượng “lạm phát nhảy múa”
Từ năm 2012, Chính phủ tiến hành thắt chặt chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát
và luôn đặt mục tiêu này lên hàng đầu Chỉ số giá tiêu dùng đã giảm về một con số,song kèm theo đó là những hệ quả như tăng trưởng tín dụng thấp, vốn đầu tư toàn xãhội suy giảm
Vậy thất bại thị trường này thể hiện như thế nào, tác động như thế nào đến phúc lợicủa các đối tượng có liên quan, vai trò của chính phủ trong việc khắc phục, sửa chữathất bại thị trường này, đánh giá về các chính sách của chính phủ và kiến nghị các giảipháp?
A Phần Mở đầu
1 Giới thiệu (tính cấp thiết)
Lịch sử đã chứng minh rằng trong quá trình phát triển kinh tế, các quốc gia đều đãtừng đối mặt với lạm phát, nhưng không phải lúc nào lạm phát cũng gây ra những tácđộng tiêu cực Trong nền kinh tế thị trường, nhiều quốc gia còn sử dụng lạm phát mộtcon số làm động lực để kích thích nền kinh tế phát triển Do ổn định vĩ mô là một vấn
đề quan trọng trong định hướng chính sách của Việt Nam, lạm phát trở thành mộttrong bốn vấn đề nổi cộm nhất liên quan đến ổn định vĩ mô Từ tháng 12 năm 2007, dotác động của tình hình phát triển kinh tế chung của hội nhập khu vực và thế giới, chỉ sốgiá tiêu dùng vẫn ở mức 2 con số, trong tám tháng đầu năm 2008, tình hình lạm pháttại Việt Nam diễn biến hết sức căng thẳng Con số lạm phát của Việt Nam năm 2008 là19,9% và duy trì ở hai con số năm 2010 và 2011 Từ đầu năm 2012, Chính phủ tiếnhành thắt chặt chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát và luôn đặt mục tiêu này lênhàng đầu Chỉ số giá tiêu dùng đã giảm về một con số Vì thế có thể nói tình hình cóphần dịu đi nhưng nền kinh tế vẫn chưa ổn định, giá cả vẫn ở mức cao và chưa trở vềmức khi chưa có lạm phát Diễn biến tình hình lạm phát của Việt Nam vẫn hết sứcphức tạp Thách thức này cần được đưa lên diễn đàn nghiên cứu khoa học để nghiêncứu về cả mặt lý luận và thực tiễn, từ đó đưa ra những giải pháp can thiệp một cáchlinh hoạt có hiệu quả, tham gia các ý kiến thực hiện các chính sách vĩ mô của nước tatrong thời kỳ hội nhập quốc tế
Bởi vậy, đó cũng chính là lý do mà nhóm đã lựa chọn đề tài này để cùng nhau trao đổi
2 Tổng quan nghiên cứu
Trang 4Đề tài nhằm mục đích hệ thống hóa các kiến thức cơ bản về lạm phát và các phạm trùliên quan đến lạm phát, đặc biệt là lý luận về các giải pháp giảm thiểu lạm phát để ổnđịnh và phát triển kinh tế của một quốc gia Đề tài đã đi vào thực tiễn về lạm phát ởViệt Nam trong giai đoạn từ năm 2008- 2012, từ đó tìm ra tính quy luật phổ biến củadiễn biến rất phức tạp của lạm phát trong một quốc gia đang phát triển như là nước ta
và các bài học kinh nghiệm, các giải pháp can thiệp về kiềm chế lạm phát trong nềnkinh tế đã có yếu tố hội nhập ở Việt Nam
3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử và các quan điểm về lạm phát của các nhàkinh tế hiện đại của nước ngoài và Việt Nam, các quan điểm, đường lối chính sách củaĐảng và Nhà Nước về kiềm chế lạm phát ở Việt Nam để phân tích, lý giải các chỉ số
và đề xuất các giải pháp can thiệp thông qua các phương pháp: Nghiên cứu tài liệu,trao đổi
4 Kết quả nghiên cứu
- Thứ nhất: Áp dụng các phương pháp luận mang tính chi phí chính thống
trong việc tìm ra bản chất của hiện tượng lạm phát
- Thứ hai: Vận dụng các quy luật kinh tế vào trong các nghiên cứu và phân
tích kinh tế thay vì việc sử dụng các mô hình kinh tế và đưa ra các địnhhướng cần thiết để giải quyết tình trạng lạm phát
- Thứ ba: Dựa trên các định hướng chung để giải quyết bài toán lạm phát và
đưa ra các giải pháp phù hợp với điều kiện của Việt Nam để kiềm chế lạmphát
Lạm phát là một phạm trù vốn có của nền kinh tế thị trường, nó xuất hiện khi các quyluật về hàng hoá không được tôn trọng, nhất là các quy luật lưu thông tiền tệ Ở đâucòn sản xuất hàng hoá, còn tồn tại những quan hệ hàng hoá tiền tệ thì ở đó còn ẩn náukhả năng lạm phát và lạm phát chỉ xuất hiện khi các quy luật của lưu thông tiền tệ bị viphạm
2 Phân loại lạm phát:
Trang 5- Lạm phát vừa phải: còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạm phát dưới 10%/1
năm Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến động tương đối Trong thời kỳ này, nềnkinh tế hoạt động bình thường, đời sống của lao động ổn định Sự ổn định đó đượcbiểu hiện: giá cả tăng lên chậm, lãi suất tiền gửi không cao, không xẩy ra với tìnhtrạng mua bán và tích trữ hàng hoá với số lượng lớn… Có thể nói lạm phát vừa phảitạo nên tâm lý an tâm cho người lao động chỉ trông chờ vào thu nhập Trong thời giannày, các hãng kinh doanh có khoản thu nhập ổn định, ít rủi ro nên sẵn sàng đầu tư chosản xuất, kinh doanh
- Lạm phát phi mã: lạm phát xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với cả tỷ lệ 2
hoặc 3 con số một năm ở mức phi mã Lạm phát làm cho giá cả chung tăng lên nhanhchóng, gây biến động lớn về kinh tế, các hợp đồng được chỉ số hoá Lúc này người dântích trữ hàng hoá, vàng bạc, bất động sản và không bao giờ cho vay tiền ở mức lãi suấtbình thường Loại này khi đã trở nên vững chắc sẽ gây ra những biến dạng kinh tếnghiêm trọng
- Siêu lạm phát: xảy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao vượt xa lạm phát
phi mã, nó như một căn bệnh chết người, tốc độ lưu thông tiền tệ tăng nhanh, giá cảtăng nhanh không ổn định, tiền lương thực tế bị giảm mạnh, tiền tệ mất giá nhanhchóng thông tin không còn chính xác, các yếu tố thị trường biến dạng và hoạt độngkinh doanh lâm vào tình trạng rối loạn Tuy nhiên, siêu lạm phát rất ít khi xảy ra.Lịch sử lạm phát cũng chỉ ra rằng: Lạm phát ở các nước đang phát triển thường diễn ratrong một thời gian dài, vì vậy hậu quả của nó thường phức tạp và trầm trọng hơn Cácnhà kinh tế học đã chia lạm phát thành 03 loại Lạm phát kinh niên kéo dài trên 3 nămvới tỷ lệ lạm phát dưới 50%/năm; lạm phát nghiêm trọng thường kéo dài trên 3 nămvới tỷ lệ lạm phát trên 50%/năm; siêu lạm phát kéo dài trên một năm với tỷ lệ lạm pháttrên 200%/năm
3 Đo lường lạm phát:
Vì sự thay đổi giá cả hàng hoá và dịch vụ không đều nhau, có mặt hàng tăng giánhanh, một số khác tăng chậm thậm chí có mặt hàng giảm giá, nên để đo lường lạmphát có thể đo lường qua các chỉ số sau:
3.1 Chỉ số giá tiêu dùng xã hội (CPI) (Consumer Price Index):
(CPI là chỉ số được sử dụng một cách phổ biến trong việc đánh giá mức độ lạm phát).CPI đo lường mức giá bình quân của một nhóm hàng hoá và dịch vụ cần cho tiêu dùngcủa các hộ gia đình trong một giai đoạn nhất định Người ta thường chọn một rổ hàngtiêu dùng có chia các nhóm: áo quần, nhà cửa, chất đốt, vận tải, y tế…và xác định mức
độ quan trọng của từng nhóm hàng trong tổng chi tiêu để làm căn cứ tính chỉ số giábình quân Vào đầu kỳ tính CPI thì các số liệu về giá cả hàng hoá, dịch vụ cần thiếtđược thu thập và sau đó chỉ số CPI được tính bằng cách so sánh giá trị hiện tại và giátrị gốc của rổ hàng hoá, dịch vụ được lựa chọn
Trang 6Trên cơ sở xác định được chỉ số giá tiêu dùng bình quân, tỷ lệ lạm phát phản ánh sựthay đổi mức giá bình quân của giai đoạn này so với giai đoạn trước và được tính theocông thức sau:
Tỷ lệ lạm phát =
3.2 Chỉ số giá cả sản xuất PPI (Producer Price Index):
Đây là chỉ số giá thành sản xuất của một số mặt hàng và dịch vụ tiêu biểu Ở Mỹ người
ta sử dụng giá của 3.400 loại hàng hoá để tính PPI Chỉ số này thường được các doanhnghiệp sử dụng, cách tính của PPI hoàn toàn giống như cách tính của CPI
4 Nguyên nhân của lạm phát:
4.1 Lạm phát theo thuyết tiền tệ:
Kinh tế đi vào lạm phát, đồng tiền mất giá…có nhiều nguyên nhân như: thời tiết khôngthuận, mất mùa, nông dân thu hoạch thấp, giá lương thực tăng cao Giá nguyên vật liệutăng làm cho giá cả hàng tiêu dùng cũng tăng lên Khi tiền lương tăng, chi phí sản xuấtcũng tăng dẫn theo các mặt hàng thiết yếu cũng tăng Tóm lại, lạm phát là hiện tượngtăng liên tục mức giá chung và có thể giải thích theo 3 cách:
- Theo lý thuyết tiền tệ: lạm phát là kết quả của việc tăng quá thừa mức cung tiền.
- Theo học thuyết Keynes: lạm phát xẩy ra do thừa cầu về hàng hoá và dịch vụ trong
nền kinh tế (do cầu kéo)
- Theo học thuyết chi phí đẩy: lạm phát sinh ra do tăng về chi phí sản xuất (chi phí
đẩy) Trên thực tế, lạm phát là kết quả của tổng thể 3 nguyên nhân trên, mỗi nguyênnhân có vai trò khác nhau ở mỗi thời điểm khác nhau Mức cung tiền là một biến sốduy nhất trong hằng đẳng thức tỷ lệ lạm phát, mà dựa vào đó ngân hàng Trung ương
đã tạo ra ảnh hưởng trực tiếp
4.2 Lạm phát theo thuyết Keynes (lạm phát do cầu kéo):
Tăng cung tiền không phải là nguyên nhân duy nhất dẫn đến tăng cầu về hàng hoá,dịch vụ Tăng tiêu dùng, chi phí công cộng và tăng dân số là những nhân tố phi tiền tệ,
sẽ dẫn đến tăng cầu Áp lực lạm phát sẽ tăng sau 1 đến 3 năm
Nếu cầu về hàng hoá vượt mức cung xong sản xuất vẫn không được mở rộng hoặc do
sử dụng máy móc với công suất tiến tới giới hạn hoặc vì nhân tố sản xuất không đápứng được gia tăng của cầu Sự mất cân đối đó sẽ được giá cả lấp đầy Lạm phát do cẩutăng lên hay lạm phát do cầu kéo được ra đời từ đó
4.3 Lạm phát theo thuyết chi phí đẩy:
Lạm phát chi phí đẩy vừa lạm phát, vừa suy giảm sản lượng tăng thêm thất nghiệp nêncòn gọi là lạm phát “đình trệ” Hình thức của lạm phát này phát sinh ra từ phía cung,
Trang 7do chi phí sản xuất cao hơn đã được chuyển sang người tiêu dùng Điều này chỉ có thểđược trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế khi người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao hơn.
Ví dụ: Nếu tiền lương chiếm một phần đáng kể trong chi phí sản xuất và dịch vụ Nếutiền lương tăng nhanh hơn năng suất lao động thì tổng chi phí sản xuất sẽ tăng lên.Nếu nhà sản xuất có thể chuyển việc tăng chi phí này cho người tiêu dùng thì giá bán
sẽ tăng lên, công nhân và các công đoàn sẽ yêu cầu tiền lương cao hơn trước để phùhợp với chi phí sinh hoạt tăng lên, điều đó tạo vòng xoáy lượng giá
5 Tác động của lạm phát
5.1 Tác động tích cực:
Lạm phát không phải bao giờ cũng gây nên những tác hại cho nền kinh tế Khi tốc độlạm phát vừa phải đó là từ 2-5% ở các nước phát triển và dưới 10% ở các nước đangphát triển sẽ mang lại một số lợi ích cho nền kinh tế như sau:
+ Kích thích tiêu dùng, vay nợ, đầu tư, giảm bớt thất nghiệp trong xã hội
+ Cho phép chính phủ có thêm khả năng lựa chọn các công cụ kích thích đầu tư vàonhững lĩnh vực kém ưu tiên thông qua mở rộng tín dụng, giúp phân phối lại thu nhập
và các nguồn lực trong xã hội theo các định hướng mục tiêu và trong khoảng thời giannhất định có chọn lọc Tuy nhiên, đây là công việc khó và đầy mạo hiểm nếu khôngchủ động thì sẽ gây nên hậu quả xấu
Tóm lại, lạm phát là căn bệnh mãn tính của nền kinh tế thị trường, nó vừa có tác hạilẫn lợi ích Khi nền kinh tế có thể duy trì, kiềm chế và điều tiết được lạm phát ở tốc độvừa phải thì nó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
5.2 Tác động tiêu cực:
- Lạm phát và lãi suất:
Lạm phát của các quốc gia trên thế giới khi xảy ra cao và triền miên có ảnh hưởng xấuđến mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị và xã hội của một quốc gia Trong đó, tácđộng đầu tiên của lạm phát là tác động lên lãi suất
Lãi suất thực = Lãi suất danh nghĩa - Tỷ lệ lạm phát
Do đó khi tỷ lệ lạm phát tăng cao, nếu muốn cho lãi suất thật ổn định và thực dươngthì lãi suất danh nghĩa phải tăng lên theo tỷ lệ lạm phát Việc tăng lãi suất danh nghĩa
sẽ dẫn đến hậu quả mà nền kinh tế phải gánh chịu là suy thoái kinh tế và thất nghiệpgia tăng
- Lạm phát và thu nhập thực tế:
Trang 8Giữa thu nhập thực tế và thu nhập danh nghĩa của người lao động có quan hệ với nhauqua tỷ lệ lạm phát Khi lạm phát tăng lên mà thu nhập danh nghĩa không thay đổi thìlàm cho thu nhập thực tế của người lao động giảm xuống.
Lạm phát không chỉ làm giảm giá trị thật của những tài sản không có lãi mà nó cònlàm hao mòn giá trị của những tài sản có lãi, tức là làm giảm thu nhập thực từ cáckhoản lãi, các khoản lợi tức Đó là do chính sách thuế của nhà nước được tính trên cơ
sở của thu nhập danh nghĩa Khi lạm phát tăng cao, những người đi vay tăng lãi suấtdanh nghĩa để bù vào tỷ lệ lạm phát tăng cao mặc dù thuế suất vẫn không tăng
Từ đó, thu nhập ròng (thực) của của người cho vay bằng thu nhập danh nghĩa trừ đi tỉ
lệ lạm phát bị giảm xuống sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế xã hội Như suy thoáikinh tế, thất nghiệp gia tăng, đời sống của người lao động trở nên khó khăn hơn sẽ làmgiảm lòng tin của dân chúng đối với Chính phủ…
- Lạm phát và phân phối thu nhập không bình đẳng:
Khi lạm phát tăng lên, giá trị của đồng tiền giảm xuống, người đi vay sẽ có lợi trongviệc vay vốn trả góp để đầu cơ kiếm lợi Do vậy càng tăng thêm nhu cầu tiền vay trongnền kinh tế, đẩy lãi suất lên cao
Lạm phát tăng cao còn khiến những người thừa tiền và giàu có, dùng tiền của mình vơvét và thu gom hàng hoá, tài sản, nạn đầu cơ xuất hiện, tình trạng này càng làm mấtcân đối nghiêm trọng quan hệ cung - cầu hàng hoá trên thị trường, giá cả hàng hoácũng lên cơn sốt cao hơn
Cuối cùng, những người dân nghèo vốn đã nghèo càng trở nên khốn khó hơn Họ thậmchí không mua nổi những hàng hoá tiêu dùng thiết yếu, trong khi đó, những kẻ đầu cơ
đã vơ vét sạch hàng hoá và trở nên càng giàu có hơn Tình trạng lạm phát như vậy sẽ
có thể gây những rối loạn trong nền kinh tế và tạo ra khoảng cách lớn về thu nhập, vềmức sống giữa người giàu và người nghèo
- Lạm phát và nợ quốc gia:
Lạm phát cao làm cho Chính phủ được lợi do thuế thu nhập đánh vào người dân,nhưng những khoản nợ nước ngoài sẽ trở nên trầm trọng hơn Chính phủ được lợitrong nước nhưng sẽ bị thiệt với nợ nước ngoài Lý do là vì: lạm phát đã làm tỷ giá giátăng và đồng tiền trong nước trở nên mất giá nhanh hơn so với đồng tiền nước ngoàitính trên cá khoản nợ
Phần II Nội dung
1 Thực trạng lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2008-2012:
1.1 Bối cảnh chung:
Trang 9Trong giai đoạn 2008-2012, một những vấn đề bất ổn vĩ mô chính là kiểm soát lạmphát, sau giai đoạn quá ưu tiên cho tăng trưởng và tình trạng thâm hụt cán cân thươngmại kéo dài Đỉnh điểm của quá trình này là lạm phát năm 2008 lên tới gần 20% vàduy trì ở hai con số năm 2010 và 2011 Giai đoạn này, nhiều tổ chức quốc tế đều bày
tỏ mối quan ngại lạm phát cao làm xấu đi môi trường kinh doanh tại Việt Nam, ảnhhưởng đến giá trị tiền đồng
Nguồn: Tổng cục Thống kê Đơn vị: %
1.2 Thực trạng lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2008-2012
Năm 2008:
Nguồn: Tổng cục Thống kê Đơn vị: %
- Theo Tổng cục thống kê, chỉ số lạm phát khởi điểm năm 2008 với mức chỉ số CPItháng 1 là 2.38% cho thấy dấu hiệu lạm phát tăng cao trong năm 2008, lạm phát bắtđầu tăng bất thường vào tháng 3/2008 tăng 2.99% (tháng 2 tăng 3,56%) Trong cácnhóm hàng hòa và dịch vụ tháng này tăng mạnh đẩy giá lên là: các nhóm hàng lươngthực tăng 10.5%; phương tiện đi lại, bưu điện tăng 5.76%; nhà ở và vật liệu xây dựngtăng 3.55%, các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác chỉ tăng ở mức 0.3-1.5%
- Chỉ số giá tiêu dùng tháng 4/2008 đã tăng thấp hơn so với mức tăng của các thángtrước nhưng vẫn còn tăng và nhiều mặt hàng đứng ở mức giá cao Giá cả thị trườngdiễn biến phức tạp Giá tiêu dùng tháng 5/2008 so với tháng trước tằng 3.59% tăng caonhất trong 5 tháng đầu năm 2008 Lạm phát thực sự bùng nổ và gây nên những bất ổn
vĩ mô vào năm 2008, đỉnh điểm là tháng 5 này
- Chỉ số giá tiêu dùng tháng 6/2008 đã tăng chậm lại, tăng 2,14% so với tháng trước, tỷ
lệ lạm phát của tháng 6 là 26.8% Giá tiêu dùng tháng 7 tăng 1.13% so với tháng 6.Thống kê chính thức ước tính tỷ lệ lạm phát của Việt Nam ở tháng 7 là 27.04% dùchưa tính đến tác động của việc tăng giá xăng Đây là mức tăng thấp nhất kể từ đầunăm
- Giá tiêu dùng tháng 9 tăng chậm lại do giá trên thị trường thế giới của 1 số mặt hànghóa nước ta nhập khẩu đã giảm, sản xuất nông nghiệp trong nước cũng được mùa,nhưng yếu tố quan trọng nhất là do các nỗ lực của các cấp ngành trong việc thực hiện
8 nhóm giải pháp của Chính phủ
- Các chính sách thắt chặt của NHNN, các biện pháp kiềm chế của chính phủ đồngthời từ tháng 9/2008 bắt đầu lan rộng ra toàn cầu làm giá cả nhiều mặt hàng giảm
Trang 10mạnh, nhờ đó lạm phát kể từ tháng 9 giảm mạnh so với những tháng trước đó Liêntiếp ba tháng 10, 11, và 12/2008 CPI đều tăng trưởng âm.
Năm 2009:
Nguồn: Tổng cục Thống kê Đơn vị: %
- Những tháng đầu năm 2009 lạm phát không còn ở mức đáng lo Trung bình trong 7tháng đầu năm lạm phát chỉ tăng 0.45%/tháng, từ tháng 12/2008 đến tháng 7/2009 lạmphát chỉ tăng 3.22%, trong đó lương thực thực phẩm giảm 0.33%
- CPI năm 2009 có mức tăng chậm hơn so với các năm trước, không có những đột biếnlớn, không bất thường về quy luật Lạm phát cả năm 2009 được công bố chính thức là6,88%
- Tháng 1/2009 CPI tăng nhẹ 0.32% chủ yếu do các yếu tố tâm lý, người tiêu dùngchấp nhận giá cao hơn trong giáp Tết Nguyên Đán Sang tháng 2, CPI tăng 1,17% dovào dịp Tết và rằm tháng Giêng kéo giá lương thực, thực phẩm và nhiều loại hàng hóadịch vụ đồng loạt lên mức cao
- Chỉ số giá USD đã tăng 10.7% trong vòng 1 năm, tính đến tháng 12/2009 gây áp lựcrất lớn lên giá hàng hóa nhập khẩu và các mặt hàng sử dụng nguyên liệu nhập khẩu
Năm 2010:
Ngày 24-12, Tổng cục Thống kê công bố mức tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trongtháng 12 là 1,98%, góp phần đưa tốc độ tăng giá cả năm 2010 lên hai con số, gần 12%.Con số 11,75% tuy không quá bất ngờ nhưng vẫn vượt so với chỉ tiêu được Quốc hội
đề ra hồi đầu năm gần 5% và cũng vượt quyết tâm của Chính phủ hồi tháng trước làkiềm chế lạm phát ở mức một con số
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong tháng 12-2010, CPI của cả nước là 1,98%,cũng là mức tăng cao nhất trong năm Đóng góp chủ yếu vào con số này là mức tănggiá ở khu vực hàng ăn và dịch vụ ăn uống, tăng 3,31% (riêng lương thực tăng tới4,67%) Cũng trong tháng này, giá nhà ở và vật liệu xây dựng cũng tăng mạnh tới2,53%
Tuy nhiên, tính chung trong cả năm 2010, giáo dục mới là nhóm tăng giá mạnh nhấttrong rổ hàng hóa tính CPI (gần 20%) Tiếp đó là hàng ăn (16,18%) và nhà ở - vật liệuxây dựng (15,74%) Bưu chính viễn thông là nhóm duy nhất giảm giá với mức giảmgần 6% trong năm 2010
Về các địa phương, việc Hà Nội và TP HCM có mức tăng giá (lần lượt là 1,83% và1,61%) thấp hơn so với trung bình cả nước trong tháng 12 là một diễn biến khá bất
Trang 11ngờ Trong khi đó, những địa phương có mức trượt giá mạnh trong tháng (khoảng 2%)
là Thái Nguyên, Hải Phòng và Gia Lai
Trong tháng 12, giá vàng và đôla Mỹ đã ổn định hơn và không tăng mạnh như nhữngtháng trước (lần lượt tăng 5,43% và 2,86%) Tuy nhiên, tính chung trong cả năm 2010,giá vàng đã tăng tới 30% trong khi mức tăng của đôla Mỹ là xấp xỉ 10%
Năm 2011:
Tổng cục Thống kê vừa công bố chỉ số giá tiêu dùng CPI tháng 12 và cả năm 2011.Theo đó, tháng 12, CPI cả nước tăng 0,53% so với tháng trước đó kéo lạm phát cả nămlên mức 18,58%
Thực phẩm nói chung và giá thịt lợn nói riêng vẫn là nhóm hàng có mức tăng mạnhnhất trong năm 2011
Đây là tháng cuối năm nên có đến 10/11 nhóm hàng trong rổ tính toán chỉ số giá tiêudùng của Tổng cục Thống kê đều có mức tăng so với tháng trước Trong đó thủ phạmchính vẫn là nhóm hàng lương thực, với mức tăng cao nhất 1,4% khiến cho chỉ số củanhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng lên 0,69% so với tháng trước
Tuy nhiên, do nhóm hàng thực phẩm và nhóm ăn uống ngoài gia đình chỉ nhích nhẹlần lượt là 0,49% và 0,57% nên nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống vẫn chỉ đứng thứ 2sau nhóm may mặc, mũ nón, giày dép Tháng này, xét theo nhóm, thì nhóm tiêu dùngnày có mức tăng cao nhất 0,86% so với tháng trước
Duy chỉ có nhóm Bưu chính viễn thông giảm 0,06%
Tháng cuối năm nhu cầu đi lại chưa nhiều nhưng cũng ghi nhận mức tăng giá so vớitháng trước với 0,16%
Nhu cầu sửa nhà và sắm sửa các vật dụng gia đình để đón Tết tăng mạnh khiến chomức giá của nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng và nhóm thiết bị và đồ dùng gia đìnhtháng này cũng tăng so với tháng trước lần lượt là 0,51% và 0,68% (đứng thứ 3 và 4trong nhóm có mức tăng mạnh nhất)
Cũng theo số liệu của Tổng cục Thống kê, so với năm 2010, chỉ số giá tiêu dùng cảnăm 2011 tăng 18,58% - cao hơn nhiều so với mục tiêu mà Chính phủ đề ra cũng nhưcác dự báo trước đó của các bộ ngành và giới phân tích
Trong đó, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, thủ phạm chính đẩy lạm phát tăng caovẫn là giá thực phẩm, lương thực tăng mạnh với mức 29,34% và 22,82%
Giao thông đi lại cũng nằm trong nhóm có mức tăng cả năm khá cao gần 16% Nhómgiáo dục được cho là bị tác động mạnh nhất bởi các yếu tố liên quan khác như giánguyên vật liệu đầu vào, trượt giá chung…nên có mức tăng đến 23,18% so với nămngoái