Từ thực tế nghiên cứu khoa học sinh viên và công việc đào tạo chuyên ngành Lý luận và lịch sử mỹ thuật ở Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam, bài viết này bước đầu tổng kết hoạt động nghiên
Trang 1ĐÀO TẠO
KẾT HỢP VỚI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Bùi Thị Thanh Mai
Mỹ thuật Giáo dục
Trang 2Hệ thống giáo dục hiện đại chú trọng đến nghiên cứu khoa học, ứng dụng các kiến thức để
giải quyết vấn đề đáp ứng với các tình huống không ngừng biến động của hoàn cảnh thay thế cho hệ thống giáo dục truyền thống theo kiểu từ chương, thi thố tài năng tầm chương trích cú bằng việc thuộc lòng những kiến thức sách vở uyên thâm Ngày nay, người tài không chỉ là người “thông kim bác cổ”, hiểu biết “thiên kinh vạn quyển” mà còn phải là người có năng lực sáng tạo, có tư duy phản biện, hoài nghi và có khả năng giải quyết được các vấn đề bằng phương pháp Ý thức được tầm quan trọng của việc bồi dưỡng năng lực và phương pháp cho sinh viên, những năm gần đây Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam đã triển khai và đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học Tuy nhiên, cho đến nay chưa có nghiên cứu đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên để rút ra các kết luận đóng góp cho việc nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học trong nhà trường Từ thực tế nghiên cứu khoa học sinh viên và công việc đào tạo chuyên ngành Lý luận và lịch sử mỹ thuật ở Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam, bài viết này bước đầu tổng kết hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên từ năm 2009 đến nay, đề xuất việc gắn kết đào tạo với nghiên cứu khoa học, khẳng định vai trò của giảng viên trong việc truyền đạt kỹ năng và phương pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên
Nghiên cứu khoa học của sinh viên ở Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam
Trong chương trình hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên các trường khối ngành mỹ thuật Toàn quốc lần thứ nhất, năm 2009 nghiên cứu khoa học của sinh viên bắt đầu được thực hiện ở Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam Từ đó đến nay hoạt động này đã lôi cuốn được nhiều sinh viên các khoa tham dự Thực tế cho thấy hoạt động nghiên cứu khoa học đóng vai trò quan trọng trong quá trình đổi mới đào tạo ở Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam
Nghiên cứu khoa học sinh viên năm học 2009-2010
Năm học 2009-2010, toàn trường có năm đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên Thứ nhất là đề tài “Cấu trúc đường nét từ học cơ bản đến sáng tác tranh đồ họa” của sinh viên Vũ Văn Quyền, giảng viên hướng dẫn ThS Vũ Đình Tuấn Thứ hai là đề tài “Khảo cứu thị trường tranh in qua một số gallery tại Hà Nội hiện nay” của sinh viên Đặng Minh Thư, giảng viên hướng dẫn TS Nguyễn Nghĩa Phương Thứ ba, đề tài “Yếu tố Nho giáo trong tượng người ở lăng mộ thời Lê sơ tại Lam Kinh, Thanh Hóa” của sinh viên Triệu Thanh Tú, giảng viên hướng dẫn ThS Trang Thanh Hiền Thứ tư, đề tài “Nghệ thuật chạm gỗ đình Đô Quan, Ý Yên, Nam Định” của sinh viên Vũ Thị Hằng, giảng viên hướng dẫn ThS Trang Thanh Hiền Thứ năm, đề tài “Xây dựng cơ sở lý thuyết về nghệ thuật cộng đồng; phản biện tính cộng đồng của dự án nghệ thuật Con đường gốm sứ ven sông Hồng” của nhóm sinh viên Lý luận và lịch sử mỹ thuật K13, giảng viên hướng dẫn ThS Phạm Diệu Hương Trong đó, Vũ Văn Quyền và Đặng Minh Thư là sinh viên khoa Đồ họa Số còn lại là sinh viên khoa Lý luận và lịch sử mỹ thuật Như vậy, ngay từ lần đầu tiên tổ chức nghiên cứu khoa học sinh viên thì Khoa Lý luận đã tỏ rõ là lực lượng quan trọng với thế mạnh được đào tạo về chuyên ngành nghiên cứu mỹ thuật
Nghiên cứu khoa học của sinh viên Khoa Đồ họa bám sát các vấn đề liên quan đến chuyên ngành được đào tạo, chẳng hạn như đề tài “Khảo cứu thị trường tranh in qua một số gallery tại Hà Nội hiện nay” hay đề tài “Cấu trúc đường nét từ học cơ bản đến sáng tác tranh đồ họa” Đề tài “Khảo cứu thị trường tranh in qua một số gallery tại Hà Nọi hiện nay” đã chỉ ra sự trống vắng của thị trường tranh in tại Hà Nội nói riêng và ở Việt Nam nói chung Thực trạng thị trường tranh in được khảo sát qua một số gallery lớn như Art Vietnam, Hanoi Studio, Maison Des Art, Bui, Apricot, Green Palm và Thanh Mai… Trên cơ sở đó, đề tài nghiên cứu nguyên nhân chủ quan và khách quan chi phối thị trường tranh in, góp phần tìm ra giải pháp cho sự phát triển tranh in Nghiên cứu khoa học của sinh viên Khoa Lý luận hướng tới những nghiên cứu về phong cách, giá trị của các di tích mỹ thuật cổ hoặc phản biện hoạt động nghệ thuật đương đại Bước đầu thực hành nghiên cứu khoa học nên các đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên còn có những hạn chế nhất định Nghiên cứu khoa học sinh viên năm học 2009-2010 không có giải nhất mà chỉ có giải Nhì, giải
Ba và giải Khuyến khích ở cả cấp trường và Hội nghị khoa học sinh viên khối ngành Mỹ thuật Tòan quốc lần thứ nhất năm 2010 Tựu chung, thành công của nghiên cứu khoa học sinh viên năm học 2009-2010 ở Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam không phải ở giải thưởng mà là nhà trường đã khởi động hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên, một trong những hình thức giáo dục đại học chủ yếu góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
NGHIÊN CỨU MỸ THUẬT SỐ 2 THÁNG 6 / 2012 67
Phù điêu trang trí đình Ngọc Canh, Vĩnh Phúc.
Ảnh: Lê Văn Sửu
Trang 3Nghiên cứu khoa học sinh viên năm học
2010-2011
Nghiệm thu nghiên cứu khoa học sinh viên
năm học 2010-2011 có bốn đề tài Cả bốn đề
tài đều đạt giải thưởng, trong đó có hai Giải
Nhất và hai Giải Nhì Giải Nhất: 1 “Những dấu
ấn phong cách tạo hình đặc trưng ba pho
tượng Tam thế đá chùa Ngọc Khám” của sinh
viên Đào Xuân Ngọc, giảng viên hướng dẫn
ThS Nguyễn Hải Phong (giải nhất); 2 “Những
gợi ý cho thiết kế đồ lưu niệm ở Văn Miếu từ
họa tiết chim và hoa trên bia tiến sỹ ở Văn
Miếu, Quốc Tử Giám, Hà Nội” của nhóm sinh
viên khoa Đồ họa1, giảng viên hướng dẫn ThS
Trần Hậu Yên Thế, ThS Vương Trọng Đức Giải
Nhì: 1 “Bước đầu tìm hiểu tranh in độc bản ở
Việt Nam” của sinh viên Nguyễn Thị Diệu Linh,
giảng viên hướng dẫn TS Nguyễn Nghĩa
Phương; 2 “Nghiên cứu về nghệ thuật trang trí
ở tay chống cột mái và đầu cột của chùa
Sisaket - Viêng Chăn, Lào” Cả hai Giải Nhất
đều được Hội đồng khoa học nhà trường đánh
giá cao về những yếu tố mới trong nghiên cứu
Đặt vấn đề nghiên cứu bắt đầu từ vai trò của
ký ức thị giác trong lĩnh vực thiết kế đồ lưu
niệm, nhóm sinh viên khoa Đồ họa quan niệm
rằng, một đồ vật khi được thiết kế và sáng tạo
có chủ đích sẽ mang đến cho người xem những hình ảnh liên tưởng, thông tin được ghi nhớ từ ký ức thị giác và việc thiết kế đồ vật sẽ giúp truyền đạt thông điệp, ý nghĩa về bản sắc văn hóa Trong bối cảnh các mặt hàng Trung Quốc tràn lan trên thị trường với giá thành rẻ, phong phú về chủng loại… làm lấn át nhiều mặt hàng nội địa, đề tài “Những gợi ý cho thiết kế đồ lưu niệm ở Văn Miếu từ họa tiết chim và hoa trên bia tiến sỹ ở Văn Miếu, Quốc Tử Giám, Hà Nội” nghiên cứu sự kết hợp tinh tế giữa các họa tiết chim và hoa lá trên bia tiến sỹ ở Văn Miếu, Quốc Tử Giám, Hà Nội và đưa ra một số gợi ý về thiết kế đồ lưu niệm hấp dẫn mang đậm bản sắc dân tộc và giá thành hợp lý là nghiên cứu có giá trị ứng dụng rất thiết thực, nếu thực hiện được sẽ đem lại hiệu quả cho xã hội, đồng thời gợi ý về những việc bảo tồn và phát huy những giá trị di sản văn hóa dân tộc Đề tài “Những dấu ấn phong cách tạo hình đặc trưng ba pho tượng Tam thế đá chùa Ngọc Khám” khảo cứu ba pho tượng chùa Ngọc Khám đã đưa ra một số kiến giải mới như: về kết cấu tổng thể, thấy rõ sự bảo lưu mạnh mẽ của dạng thức bệ tượng Phật thời Lý; bộ tượng nguyên bản (1613) mang dấu ấn phong cách tạo tượng thời Mạc (phong cách
chuyển tiếp tượng Phật thế kỷ 16 sang đầu thế kỷ 17); pho tượng ở vị trí thứ hai, mang dấu ấn phong cách tạo tượng thời Hậu Lê (khoảng đầu thế kỷ 18) Bộ tượng Tam thế Phật chùa Ngọc Khám từng là chủ đề cho nhiều tranh luận về phong cách và niên đại của các nhà nghiên cứu mỹ thuật, nhưng sinh viên vẫn mạnh dạn đưa ra những nhận định riêng của mình Kết quả nghiên cứu của hai đề tài đạt Giải Nhất được phản ánh trong bài viết “Thực trạng đồ lưu niệm hiện nay và những gợi ý về thiết kế đồ lưu niệm Văn Miếu - Quốc Tử Giám - Hà Nội” trên Đặc san Nghiên cứu mỹ thuật số 3 (39) tháng 9 năm 2011 và “Những khảo cứu mới về phong cách và niên đại của ba pho tượng Tam thế Phật chùa Ngọc Khám” trên Đặc san Nghiên cứu mỹ thuật số 4 (40) tháng 12 năm
2011 Sự mạnh dạn của sinh viên trong việc đưa ra cách nhìn mới về những đề tài cũ hay chú trọng đến giá trị ứng dụng trong nghiên cứu là những nhân tố tích cực của nghiên cứu khoa học sinh viên năm học 2010 - 2011
Nghiên cứu khoa học sinh viên năm học 2011-2012
Năm 2012, có sáu đề tài đạt giải thưởng trong tổng số bảy đề tài gửi tham dự nghiên cứu khoa học sinh viên cấp trường Đáng chú ý là
Nghệ thuật chạm khắc đình Trùng Hạ, xã Gia Tân, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình
Trang 4năm đề tài đạt các Giải Nhất, Nhì, và Ba đều
thuộc về sinh viên lớp Lý luận và lịch sử K12
Giải Nhất: đề tài “Nghệ thuật trang trí cổng
làng Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX” của sinh viên
Lê Thị Liễu, giảng viên hướng dẫn TS Bùi Thị
Thanh Mai Giải Nhì: 1 “Nghệ thuật trang trí
chân đèn gốm thời Mạc” của sinh viên Nguyễn
Văn Thư, giảng viên hướng dẫn TS Lê Văn
Sửu; 2 “Nghệ thuật trang trí mang phong cách
mỹ thuật thời Mạc trên bờ mái chùa Mui” của
sinh viên Nguyễn Xuân Toàn, giảng viên hướng
dẫn ThS Trần Hậu Yên Thế; 3 “Nghệ thuật
tạo hình đèn đồng Đông Sơn” của sinh viên Vũ
Thị Hằng, giảng viên hướng dẫn ThS Trang
Thanh Hiền Giải ba: “Nghiên cứu tạo hình
tranh biếm họa Việt Nam (Mười năm đầu thế
kỷ XXI) của sinh viên Vũ Thị Trang, người
hướng dẫn TS Bùi Thị Thanh Mai Giải Khuyến
khích “Dịch và hiệu đính cuốn sách Hoa văn
truyền thống của Lào/ BunLơng Vơnvilavông”,
giảng viên hướng dẫn ThS Trần Hậu Yên Thế
Trong đó, đề tài “Nghệ thuật trang trí cổng
làng Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX” đã được nhà trường lựa chọn gửi tham gia xét Giải thưởng
“Tài năng khoa học trẻ Việt Nam” năm 2012
do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức
Xét chung, các đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên năm 2012 thể hiện khá sát với qui cách về trình bày và nội dung nghiên cứu khoa học đạt kết quả tốt Đơn cử đề tài “Nghệ thuật trang trí cổng làng Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX”
là đề tài nghiên cứu mở đầu hệ thống về nghệ thuật trang trí cổng làng Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX Đề tài tổng kết các kiểu thức cổng làng Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX như dạng kiểu thức cổng trán cao, kiểu thức cổng thượng gia hạ môn, kiểu thức cổng không có trán, đồng thời hệ thống các họa tiết trang trí, các dạng đồ án trang trí Những kiến giải trong đề tài góp phần nêu bật giá trị nghệ thuật trang trí cổng làng Hà Nội đầu thế kỷ XX trong tương quan nghệ thuật trang trí cổng làng đồng bằng Bắc Bộ Các đề tài khác như “Nghệ thuật trang trí chân đèn gốm thời Mạc”, “Nghệ thuật trang trí
mang phong cách mỹ thuật thời Mạc trên bờ mái chùa Mui”, “Nghệ thuật tạo hình đèn đồng Đông Sơn”, “Nghiên cứu tạo hình tranh biếm họa Việt Nam (Mười năm đầu thế kỷ XXI) đều có những cố gắng trong việc đưa ra kiến giải riêng Đáng chú ý là sinh viên Syvilay Saypasert người Lào từng đạt Giải Nhì với đề tài “Nghiên cứu về nghệ thuật trang trí ở tay chống mái và đầu cột của chùa Sisaket-Viêng Chăn, Lào” năm học 2010-2011, đã tiếp tục tham gia nghiên cứu khoa học với đề tài “Dịch và hiệu đính cuốn sách Hoa văn truyền thống của Lào/ BunLơng Vơnvilavông Tuy đạt Giải Khuyến khích, song đề tài có ý nghĩa đóng góp nguồn tài liệu tham khảo quí giá về nghệ thuật trang trí truyền thống Lào trong việc giảng dạy và học tập về nghệ thuật Đông Nam Á Qua nghiên cứu các đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên các năm học 2009-2010,
2010-2011 và 2010-2011-2012, có thể thấy tỉ lệ sinh viên Khoa Lý luận và Lịch sử mỹ thuật tham gia và đạt giải thưởng khá cao Điều này xuất phát từ
NGHIÊN CỨU MỸ THUẬT SỐ 2 THÁNG 6 / 2012 69
Học viên lớp Bổ sung kiến thức đang làm bản rập
họa tiết tại đền Đa Giá Hạ, Ninh Bình, tháng 10
năm 2011
Trang 5Mỹ thuật Giáo dục
đặc thù về chuyên ngành đào tạo của khoa Lý
luận và lịch sử mỹ thuật Tuy nhiên, để sinh
viên khoa Lý luận và lịch sử mỹ thuật có thể
phát huy hơn nữa thế mạnh của mình và đóng
vai trò hạt nhân trong các hoạt động nghiên
cứu khoa học sinh viên, dưới đây xin đề xuất
một số gợi ý trong việc rèn luyện kỹ năng và
phương pháp nghiên cứu mỹ thuật cho sinh
viên Khoa Lý luận và lịch sử mỹ thuật
Đề xuất việc gắn kết đào tạo với nghiên cứu
khoa học
Khoa Lý luận và lịch sử mỹ thuật có mục tiêu
đào tạo người làm công tác nghiên cứu mỹ
thuật, do đặc thù này nên khoa Lý luận và lịch
sử mỹ thuật cần tỏ rõ được vị thế của mình
trong hoạt động nghiên cứu khoa học sinh
viên Để tạo điều kiện cho sinh viên rèn luyện
các kỹ năng nghề nghiệp, Khoa Lý luận và lịch
sử mỹ thuật cần xây dựng chương trình giảng
dạy và học tập có sự kết hợp với chương trình
nghiên cứu của giảng viên và của cán bộ
nghiên cứu Viện Mỹ thuật Chúng ta cần có sự
phối hợp chặt chẽ giữa đào tạo và nghiên cứu khoa học, giữa Khoa Lý luận và lịch sử mỹ thuật với các Khoa Hội họa, Đồ họa, Điêu khắc, Phòng Quản lý khoa học và Viện Mỹ thuật Sự kết hợp này không chỉ để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học đưa nhà trường và Viện Mỹ thuật lớn mạnh mà còn để sinh viên có cơ hội trao đổi nâng cao kiến thức, học các kinh nghiệm quý báu và tiếp thu thành quả nghiên cứu theo tính chất kế thừa, chuyển giao giữa các thế hệ Dưới đây xin đề xuất một số gợi ý đối với việc rèn luyện kỹ năng và phương pháp cho sinh viên Khoa Lý luận và lịch sử mỹ thuật:
Sinh viên năm thứ nhất và năm thứ hai có thể đến Viện Mỹ thuật thực tập làm các thư mục
tư liệu theo các chủ đề mỹ thuật cổ của người Việt, mỹ thuật Chăm pa, mỹ thuật Phù Nam -Chân Lạp, mỹ thuật Tây Nguyên Trong thư mục về mỹ thuật cổ Việt cũng có thể chia làm các thư mục nhỏ như thư mục các tài liệu về đình làng xứ Bắc, thư mục các tài liệu về chùa
Việt, thư mục các tài liệu về đền, đình, lăng mộ, hay nghệ thuật trang trí truyền thống… Bên cạnh, thư mục theo loại hình nghệ thuật, sinh viên cũng có thể làm thư mục các tài liệu chia theo niên đại lịch sử như thư mục các tài liệu về mỹ thuật thời Lý, thư mục các tài liệu về mỹ thuật thời Trần, thư mục các tài liệu về mỹ thuật thời Lê, thư mục các tài liệu về mỹ thuật thời Mạc, thư mục các tài liệu mỹ thuật giai đoạn Lê Trung Hưng, thư mục mỹ thuật thời Nguyễn Đối với mỹ thuật Việt Nam hiện đại có thể giao cho sinh viên làm thư mục các tài liệu về mỹ thuật giai đoạn Đông Dương, thư mục các tài liệu mỹ thuật giai đoạn kháng chiến chống Pháp, thư mục các tài liệu mỹ thuật về giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, thư mục các tài liệu về mỹ thuật giai đoạn sau
1975, thư mục các tài liệu về mỹ thuật giai đoạn Đổi mới và thư mục các tài liệu về mỹ thuật giai đoạn Hậu Đổi mới, hoặc các thư mục nhỏ chia theo các vấn đề mỹ thuật, thể loại tranh, chất liệu v.v… Công việc lập thư mục có
Trang 6NGHIÊN CỨU MỸ THUẬT SỐ 2 THÁNG 6 / 2012 71
ý nghĩa quan trọng đối với sinh viên Lý luận
và lịch sử mỹ thuật Về mặt kiến thức, sinh
viên nắm được các nghiên cứu chủ yếu của
từng giai đoạn, hay những nghiên cứu chủ yếu
về các loại hình nghệ thuật, nhận biết được
khoảng trống trong nghiên cứu mỹ thuật,
những vấn đề cần tiếp tục bổ sung thông tin
tư liệu và nghiên cứu Về mặt kỹ năng, sinh
viên nắm được phương pháp phân loại thông
tin, hệ thống tư liệu, khả năng lập thư mục cho
các đề tài nghiên cứu Về mặt thái độ đạo đức
nghề nghiệp, sinh viên ý thức được vai trò của
công việc nghiên cứu mỹ thuật dân tộc Thông
qua việc xây dựng các thư mục tài liệu mỹ
thuật, sinh viên có hệ thống tư liệu tốt phục vụ
cho việc học tập và nghiên cứu, đồng thời sinh
viên cũng hiểu được vai trò của tư liệu cơ sở
đầu tiên cho các nghiên cứu ra đời
Sinh viên năm thứ hai, năm thứ ba và năm thứ
tư có thể kết hợp với các chuyến đi thực tế sưu
tầm thông tin tư liệu tại di tích các địa phương
với cán bộ Viện Mỹ thuật để học kỹ năng làm
bản rập, đo đạc, vẽ, khảo tả di tích, sưu tầm
tài liệu viết, tài liệu ảnh về di tích và các hiện vật Sau mỗi đợt thực tập, tổ chức các buổi báo cáo kết quả, phương pháp nghiên cứu, điền dã, thảo luận về vấn đề nảy sinh trong quá trình thực tập Sinh viên năm thứ ba và năm thứ tư có thể chia thành các nhóm tùy theo niềm đam mê, sở trường và nhu cầu thực tập kết hợp với chương trình nghiên cứu của Ban Mỹ thuật cổ, Ban Mỹ thuật hiện đại, Ban Mỹ thuật Ứng dụng để học phương pháp, kỹ năng nghiên cứu, làm quen dần với công việc thực tế của một nhà nghiên cứu Đối với những sinh viên giỏi, có khả năng có thể giao cho các em những nghiên cứu nhỏ vừa sức trong những đề tài của cán bộ nghiên cứu hay giảng viên Thực hành nghề nghiệp kết hợp với chương trình của Viện Mỹ thuật sẽ giúp người học tiếp thu những kinh nghiệm, thành quả nghiên cứu từ các cán bộ nghiên cứu; đồng thời, cán bộ Viện Mỹ thuật sẽ có một đội ngũ trợ lý nghiên cứu trong quá trình triển khai các đề tài nghiên cứu
Để giúp sinh viên bắt đầu với nghiên cứu mỹ thuật, Khoa Lý luận và lịch sử mỹ thuật nên
xây dựng chương trình đi thực tế gắn với định hướng phương pháp nghiên cứu cho sinh viên Đối với nghiên cứu mỹ thuật cổ, công việc điền dã cung cấp cho người học các kỹ năng nghiên cứu cơ bản: thu thập thông tin, xử lý thông tin, thực hiện báo cáo điền dã Đối với nghiên cứu nghệ thuật đương đại, cần gắn liền chương trình học tập của sinh viên với các triển lãm, hoạt động sáng tác đương đại như: khảo sát, nghiên cứu tác phẩm, tọa đàm, trao đổi với nghệ sỹ… Qua thực tế triển khai trong khuôn khổ môn học Lý luận mỹ thuật lớp Lý luận và lịch sử mỹ thuật khóa 12 năm học 2011-2012 có thể thấy những ích lợi của việc học nghiên cứu mỹ thuật cổ gắn với các chuyến đi điền dã của Viện Mỹ thuật; nghiên cứu nghệ thuật đương đại gắn với khảo sát thực tế triển lãm và trao đổi với nghệ sỹ
Tháng 5 năm 2011, lớp Lý luận và lịch sử mỹ thuật khóa 12 đã có chuyến đi thực tế một số đình làng thuộc tỉnh Vĩnh Phúc kết hợp với chuyến công tác của cán bộ Viện Mỹ thuật Đây là chuyến đi hết sức bổ ích đối với sinh
Sinh viên Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật học về nghiên cứu mỹ thuật cổ trong chuyến đi kết hợp với cán bộ Viện Mỹ thuật khảo sát một số đình làng ở tỉnh Vĩnh Phúc, tháng 5 năm 2011
Trang 7viên trong việc thực hành nghề nghiệp Sinh
viên được học các phương pháp khảo sát, sưu
tầm tư liệu mỹ thuật cổ qua những bài học trực
quan, sinh động từ công việc khảo sát, sưu tầm
tư liệu đình làng tỉnh Vĩnh Phúc của các cán
bộ ban Tư liệu Viện Mỹ thuật Trước buổi đi
thực tế này, sinh viên đã được anh Nguyễn Đức
Bình, cán bộ Viện Mỹ thuật hướng dẫn các
phương pháp sưu tầm thông tin tư liệu Sau đó,
mỗi sinh viên được phát một phiếu Tư liệu hiện
vật mỹ thuật cổ, trong đó yêu cầu tìm hiểu các
thông tin cụ thể về mỗi di tích hay hiện vật
(1.Tên hiện vật 2 Thuộc di tích 3 Tên gọi
khác của di tích nếu có 4 Địa danh: thôn, xã,
huyện tỉnh 5 Vị trí tồn tại/ Lưu giữ/ Bảo quản
6 Chất liệu 7 Kích thước 8 Niên đại theo thư
tịch/ truyền thuyết 9 Niên đại hiện tồn theo
thư tịch 10 Niên đại sửa chữa 11 Niên đại
tương đối tính theo thế kỷ 12 Năm sửa chữa
13 Thời gian sưu tầm 14 Người sưu tầm 15
Thông tin, mô tả 16 Nhận xét) Sinh viên vừa
chụp ảnh tư liệu, vừa làm phiếu tư liệu, vừa học
phương pháp khảo sát sưu tầm tư liệu qua quan
sát công việc của cán bộ Viện Mỹ thuật
Những chuyến đi điền dã kết hợp với Viện Mỹ
thuật giúp sinh viên hiểu được những công việc
cụ thể của quá trình sưu tầm thông tin tư liệu,
một trong những bước quan trọng chuẩn bị cho
một nghiên cứu hay một dự án nghiên cứu
Ngoài việc nắm bắt được những bước cơ bản
trong công tác sưu tầm tư liệu, thực tế khảo sát
di tích sẽ cung cấp cho người học những kinh nghiệm thực tiễn, đồng thời giúp sinh viên nhận thức về vai trò của sưu tầm tư liệu Quan trọng hơn qua cách khảo sát chi tiết các di tích đình Hương Canh, đình Ngọc Canh và đình Tiên Canh, sinh viên được học hỏi kinh nghiệm từ các trao đổi giữa cán bộ ban Tư liệu với PGS TS Trần Lâm Biền góp phần nâng cao kiến thức và phương pháp nghiên cứu mỹ thuật cổ Các trao đổi, thảo luận xung quanh các vấn đề phong cách, niên đại, hiện vật và di tích là những bài học sống động đối với mỗi người học Kết quả của chuyến đi thực tế được phản ánh qua 02 Phiếu điều tra sinh viên: một là,
“Phiếu điều tra sinh viên về chuyến đi thực tế
di tích đình làng ở Vĩnh Phúc”; hai là, “Phiếu điều tra nguyện vọng sinh viên về việc tham gia vào các đề tài nghiên cứu của giảng viên và cán bộ nghiên cứu”
Nhận xét về hiệu quả chuyến đi thực tế với tổng số phiếu phát ra là 11, kết quả như sau:
9/11 sinh viên đánh giá hiệu quả chuyến đi thực tế “Nâng cao kỹ năng điền dã”, 8/11 sinh viên đánh giá “Giúp ích cho học phần Nghiên cứu mỹ thuật cổ”, 7/11 sinh viên đánh giá
“Nâng cao kiến thức về mỹ thuật cổ”, 9/11 lựa chọn phương án “50% giờ học lý thuyết + 50
% giờ học thực hành”, 1/11 sinh viên lựa chọn
“70 % giờ học lý thuyết và 30 % giờ học thực hành”, 1/11 chọn phương án “30% giờ học lý thuyết và 70 % giờ học thực hành” 11/11 sinh
viên đều có mong muốn tiếp tục được tham gia các chuyến đi thực tế kết hợp với các chuyến
đi công tác của cán bộ Viện Mỹ thuật Với 12 phiếu điều tra về nguyện vọng tham gia nghiên cứu các đề tài của giảng viên và cán bộ nghiên cứu, kết quả là 11/12 sinh viên đều có nguyện vọng được tham gia vào đề tài nghiên cứu của giảng viên và cán bộ nghiên cứu của Viện Mỹ thuật Qua thống kê trên cho thấy, hầu hết sinh viên đều nhận thức được tầm quan trọng của việc thực hành kỹ năng nghiên cứu và có nguyện vọng tham gia vào các đề tài nghiên cứu khoa học của giảng viên và cán bộ nghiên cứu Thiết nghĩ, để nâng cao hiệu quả đào tạo và góp phần đánh giá đúng thực trạng giảng dạy và học tập, cần xem xét cả phản ứng của người học đối với quá trình học tập, mức độ kiến thức và kỹ năng đạt được trong quá trình học tập tại khoa Lý luận và lịch sử mỹ thuật Nhằm đo lường nhận thức và phản ứng của người học, giảng viên có thể thực hiện các phiếu điều tra, đánh giá ở từng học phần, học kỳ, hay cả năm học và toàn khóa học Nếu chương trình đào tạo không đáp ứng nhu cầu của người học thì việc điều tra sẽ xác định được lỗi nằm ở thiết kế của chương trình đào tạo hay phương pháp giảng dạy trên cơ sở đó, sẽ nghiên cứu điều chỉnh lại cho phù hợp với thực tế giảng dạy và học tập
Bên cạnh việc hướng dẫn sinh viên thực hiện các bước chuẩn bị cho một nghiên cứu như: sưu tầm tư liệu hình ảnh (chụp ảnh, bản vẽ kết cấu, trang trí kiến trúc, mặt bằng kiến trúc, quay video kỹ các chi tiết, tổng thể kiến trúc và cảnh quan…), sưu tầm tư liệu ghi chép (văn bản hay các ghi chép từ thực địa, phỏng vấn…), phương pháp viết nghiên cứu mỹ thuật (viết bài giới thiệu, phê bình, nghiên cứu mỹ thuật…) thì khoa Lý luận và lịch sử mỹ thuật cũng rất cần tổ chức các buổi thảo luận chuyên đề về mỹ thuật cổ cũng như mỹ thuật Việt Nam hiện đại và đương đại Ngay từ những năm 80, Khoa Lý luận và lịch sử mỹ thuật đã đưa các chuyên đề ngoại khóa vào trong chương trình đào tạo Bên cạnh chương trình chính khóa, các chuyên đề ngoại khóa được tổ chức nhằm cung cấp kiến thức bổ sung cho các bài học chuyên ngành Lịch sử mỹ thuật Việt Nam và thế giới như “Lịch sử của “Lịch sử mỹ thuật”, “Những khoa học anh em với “Lịch sử mỹ thuật”, “Những nguồn thư tịch (sách báo, nhà xuất bản), “Các bảo tàng mỹ thuật trên thế giới”, “Vị trí của lịch sử mỹ thuật Việt
Tặng thưởng Quỹ Phạm Huy Thông cho Giải Ba đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu tạo hình tranh
biếm họa Việt Nam (Giai đoạn 2000 - 2010) của sinh viên Vũ Thị Trang
Mỹ thuật Giáo dục
Trang 8NGHIÊN CỨU MỸ THUẬT SỐ 2 THÁNG 6 / 2012 73
Nam hiện nay”, “Vị trí của mỹ thuật Việt Nam
hiện nay”, “Các phương pháp ghi chép ứng
dụng tại di tích”, “Làm lược đồ kiến trúc”…1
Tuy nhiên, những năm 90 các chuyên đề ngoại
khóa này không thấy thực hiện ở Khoa Lý luận
và lịch sử mỹ thuật Ngoài ra, Khoa Lý luận và
lịch sử mỹ thuật cũng cần tổ chức các buổi nói
chuyện chuyên đề thường xuyên, định kỳ trong
khoa và có sự kết hợp trao đổi giao lưu giữa
sinh viên các lớp Lý luận và lịch sử mỹ thuật,
Hội họa, Đồ họa, Điêu khắc và Sư phạm mỹ
thuật, giữa các giảng viên trong khoa, hoặc
giữa Khoa Lý luận và lịch sử mỹ thuật với
phòng Quản lý khoa học và các khoa khác
trong nhà trường, giữa khoa và các ban của
Viện Mỹ thuật Các chuyên đề không nhất thiết
phải cố định mà tùy thuộc vào thực tế cũng
như nhu cầu của giảng viên và sinh viên Đại
học là môi trường đào tạo kích thích nghiên
cứu khoa học, do đấy mỗi chuyên đề trước hết
phải là một nghiên cứu khoa học gắn với nhu
cầu và thực tiễn sáng tác và nghiên cứu mỹ
thuật Những nhà nghiên cứu có các công trình
khoa học cần được mời đến tọa đàm, thuyết
trình, hoặc giảng dạy trong nhà trường
Vai trò của giảng viên trong việc truyền đạt kỹ năng và phương pháp nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học là hoạt động hết sức quan trọng nhằm rèn luyện cho sinh viên bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học Bên cạnh việc học cách làm việc và suy nghĩ độc lập, rèn luyện về phương pháp thu thập thông tin, phương pháp nghiên cứu tài liệu, việc thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học còn mang đến cho sinh viên cơ hội trau dồi kiến thức chuyên sâu về một chủ đề, đề tài
Song song với việc trang bị kiến thức và phương pháp nghiên cứu, các giảng viên có thể xây dựng đề tài nghiên cứu khoa học với sự tham gia của sinh viên như những trợ lý nghiên cứu Thực chất, đây là một hình thức đào tạo qua công việc, giúp sinh viên có cơ hội áp dụng ngay kiến thức đã học vào thực tiễn, có cơ hội làm quen với nghiên cứu khoa học
Tùy theo năng lực và trình độ, sinh viên có thể được giao thực hiện một phần trong nghiên cứu khoa học của giảng viên Thông qua cách làm việc này, giảng viên truyền đạt những kinh nghiệm trong lĩnh vực đang nghiên cứu và
đồng thời gợi mở hướng nghiên cứu cho sinh viên Sinh viên có thể thảo luận hoặc tranh luận, chứ không chỉ thụ động chờ sự hướng dẫn thuần túy của giảng viên Những ý tưởng khám phá của sinh viên nảy sinh trong quá trình làm việc cần được khích lệ và giúp đỡ từ giảng viên
Thực tế cho thấy, kinh nghiệm từ việc thực hiện nghiên cứu khoa học đã giúp trang bị cho sinh viên các kỹ năng như: sưu tầm tư liệu, xử lý tư liệu, triển khai đề cương, viết và thuyết trình Bởi lẽ, quá trình thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học thực chất là quá trình sinh viên học phương pháp và rèn luyện khả năng làm việc độc lập Trong khi triển khai một đề tài nghiên cứu khoa học, sinh viên sẽ được giảng viên hướng dẫn các phương pháp
cơ bản như phát hiện vấn đề nghiên cứu, đặt giả thuyết nghiên cứu, phương pháp thu thập thông tin với các phương pháp chủ yếu như: nghiên cứu tài liệu hoặc phỏng vấn, tiến hành quan sát trên đối tượng khảo sát, xây dựng luận cứ lý thuyết và luận cứ thực tiễn, phân tích, bàn luận kết quả Ngay trong tiếp cận thông tin, sinh viên sẽ rèn luyện và thực hành
Hội nghị Nghiên cứu khoa học sinh viên lần thứ I, năm học 2009 - 2010, Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam
Trang 9các cách tiếp cận như tiếp cận hệ thống, tiếp
cận định tính và định lượng, tiếp cận lịch sử và
logic, tiếp cận cá biệt và so sánh, tiếp cận phân
tích và tổng hợp Như vậy, nghiên cứu khoa học
không chỉ giúp sinh viên nâng cao kiến thức,
mà còn đem đến cơ hội thực hành các lý thuyết
và phương pháp nghiên cứu mỹ thuật
Điều kiện cần thiết để giảng viên có thể hỗ trợ
sinh viên trong nghiên cứu khoa học đó là
giảng viên phải có phương pháp nghiên cứu
chuẩn mực và là chủ nhiệm một đề tài nghiên
cứu Mô hình chuẩn về giảng viên đại học và
cán bộ nghiên cứu là phải có sự kết hợp giữa
giảng dạy và nghiên cứu Có nghĩa, giảng viên
không chỉ có giảng dạy mà còn phải tham gia
nghiên cứu khoa học và cán bộ nghiên cứu
không chỉ có nghiên cứu mà còn tham gia
giảng dạy để truyền đạt kinh nghiệm nghiên
cứu Trong cuốn Đột phá sức sáng tạo 2,
Michael Michalko đã cung cấp một ví dụ về vai
trò của người thầy trong việc đào tạo những
nhà nghiên cứu khoa học: “Vào năm 1977, nhà
xã hội học Harriet Zuckerman3đã công bố một
nghiên cứu khá thú vị về những người đoạt giải
Nobel đang sống tại Mỹ Bà phát hiện ra sáu
học trò của Enrico Fermi4đã được trao giải
Ernest Lawrence5và Niels Bohr6mỗi người có
4 học trò được giải thưởng này J.J Thomson7
và Ernest Rutherford8cùng đào tạo 17 người
dành giải Nobel.” Điều này không phải là sự
trùng hợp một cách tình cờ Nó minh chứng
rằng người thầy khi là một nhà khoa học giỏi sẽ truyền đạt được kỹ năng, tư duy sáng tạo và phương pháp nghiên cứu khoa học cho người học
Thay lời kết
Nghiên cứu khoa học sinh viên liên quan mật thiết đến công việc rèn luyện phương pháp nghiên cứu khoa học, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường Do đấy, việc nghiên cứu và xây dựng chương trình đào tạo gắn kết với nghiên cứu khoa học là hết sức cần thiết Để phát triển nghiên cứu khoa học của sinh viên và giảng viên, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa đào tạo và nghiên cứu khoa học, giữa Khoa Lý luận và lịch sử mỹ thuật với các Khoa Hội họa, Đồ Họa, Điêu khắc, Sư Phạm Mỹ thuật, Phòng Quản lý khoa học và Viện Mỹ thuật Bản chất của ngôi trường đại học là môi trường kích thích sự nghiên cứu và sáng tạo, vì thế, người giảng viên cần ý thức được vị thế, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình trong nghiên cứu khoa học và trang bị phương pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên Mỗi giảng viên đại học trước hết phải là nhà nghiên cứu tham gia tích cực vào các hội thảo nghiên cứu khoa học, cũng như các công trình nghiên cứu khoa học cấp quốc gia và quốc tế
B.T.T.M Chú thích:
1 Bộ Văn hóa Thông tin (1981), Chương trình Khoa Lý luận Mỹ thuật
2 Michael Michalko (2009), Đột phá sức sáng tạo,
Bí mật của những thiên tài sáng tạo, người dịch Mai
Hạnh, Quỳnh Chi, NXB Tri thức, Hà Nội.
3 Harriet Zuckerman (sinh năm 1937) nhà xã hội học người Mỹ, tác giả cuốn Scientific Elite: Nobel Laureates in the United States (Khoa học tinh hoa Những người được giải Nobel tại nước Mỹ Công trình là nghiên cứu về khoa học tinh hoa, hiện tượng của những khám phá sáng tạo trong khoa học và công nghệ
4 Enrico Fermi (1901 - 1954), nhà vật lý người Ý Fermi đoạt giải thưởng Nobel vật lý năm 1938 từ nghiên cứu về các yếu tố gây ra tính phóng xạ.
5 Ernest Lawrence (1901-1958), nhà vật lý người Mỹ Ông đạt Nobel năm 1939 cho việc phát minh ra cyclotron và phát triển các ứng dụng của nó
6 Niels Bohr (1885 - 1962), nhà vật lý người Đan Mạch Ông đã nhận giải Nobel vật lý năm 1922 vì những đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu cấu trúc của nguyên tử và trong cơ học lượng tử.
7 J.J Thomson (1856 - 1940), nhà vật lý người Anh Ông được trao giải thưởng Nobel vật lý năm
1906 cho công trình khám phá ra điện tử.
8 Ernest Rutherford (1871 - 1937), nhà vật lý người New Zealand Năm 1908, ông được tặng giải thưởng Nobel hóa học cho các công trình chứng minh rằng các nguyên tử bị phân rã trong hiện tượng phóng xạ
Tài liệu tham khảo:
1 Bộ Văn hóa Thông tin (1981), Chương trình Khoa Lý luận Mỹ thuật
2 Michael Michalko (2009), Đột phá sức sáng tạo,
Bí mật của những thiên tài sáng tạo, người dịch Mai
Hạnh, Quỳnh Chi, NXB Tri thức, Hà Nội.
3 Các đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên từ năm học 2009-2010 đến 2011-2012.
Mỹ thuật Giáo dục
Trang 10NGHIÊN CỨU MỸ THUẬT SỐ 2 THÁNG 6 / 2012 75
Ảnh trang 74: Võ Ngọc Huế, Chuyện của mẹ, trình diễn, Triển lãm Phập phồng, tháng 12 năm 2011, Viện Goethe, Hà Nội.