Trong khoảng giữa nầy thì các vị đệ tử phải: 1 thiết lập mối tương quan thầy trò, giữa mình và bậc Đạo sư 2 học tập các pháp của Hiển Giáo 3 phát Bồ Đề Tâm 4 có chánh kiến về Tánh Khô
Trang 1NĂM MƯƠI (50) BÀI KỆ
VỀ BẬC ĐẠO SƯ (GURUPANCHASHIKA)
Aśvaghoṣa (? 80 -? 150 CE)
Nguyễn Pram
Trang 2LỜI TỰA
NĂM MƯƠI BÀI KỆ VỀ BẬC ĐẠO SƯ (GURUPANCHASHIKA) còn được biết dưới nhan đề là SỰ SƯ PHÁP NGỦ THẬP TỤNG được viết ra vào đầu thế kỷ thứ sáu sau khi Phật thị hiện nhập Niết Bàn, tức là vào thế kỷ thứ nhứt của công nguyên, bởi ngài Ashvaghosha (Mã Minh)
Ngài Ashvaghosha (người Trung Hoa dịch trại âm là Phọc-Lũ-Sa) là người Thiên Trúc (tức Ấn Độ ngày nay), nước Ba- la-nại, thuộc dòng Bà-la-môn Ngài sanh ra vào cuối thế kỷ thứ năm, sau khi Phật thị hiện Niết Bàn, không rõ là họ gì, chỉ biết Ngài có liên hệ với Vua Ca-Nị-Sắc-Ca (Kanisshka) thuộc triều đại Kushan, nhưng không có tài liệu nào ghi chép đầy đủ cả Thiên Trúc là một xứ rất rộng lớn, nhưng lại thiếu các sử gia Người Thiên trúc rất làm biếng viết chép những chuyện thuộc về lịch sử vì họ có truyền thống kể truyện, và ngâm vịnh, cho nên, việc viết lách ít ai chú ý đến, ngoại trừ Hoàng tộc Vì thuộc nhà dòng dõi hào quí, lúc chưa theo Phật giáo, ngài Ashvaghosha (Mã Minh) cũng đã có tài hùng biện, danh tiếng không chỉ vang dội trong xứ Ba-la-nại mà còn lan rộng đến các nước Người ta còn biết ngài dưới nhiều danh hiệu khác nhau như thi sĩ Matricheta, Matichitra, Patricheta, Bhavideva, và Aryashura
Thấp-Danh hiệu Mã Minh có ba thuyết để giải thích:
Trang 31) Khi ngài vừa chào đời thì các con ngựa trong xứ đều hý ré lên Cha Mẹ dựa theo hiện tượng lạ thường đó mà đặt tên là Mã Minh (Ngựa Hý)
2) Ngoài tài biện luận siêu quần toát chúng, ngài còn giỏi đánh đàn.Khi ngài khảy đàn, tất cả ngựa quanh vùng đều hý lên Từ đó mọi người gọi ngài là Mã Minh 3) Khi ngài thuyết pháp, những con ngựa trong các chuồng đều lặng lẽ lắng nghe không chịu ăn uống Ngại ngựa gầy còm,kiệt sức người ta bỏ cỏ cho chúng, nhưng ngựa vẫn không chịu ăn, cho đến khi ngài xuống đàn, chấm dứt thuyết pháp thì các con ngựa đều hý vang, rồi mới ăn uống trở lại Bởi thế, nên ngài có danh hiệu là Mã Minh
Ngài Ashvaghosha là một bậc Thiền Tổ của Ấn Độ, một Đại Pháp Sư, một nhà thuyết pháp lỗi lạc, là đấng đã có đại công trong việc khởi đầu thắp sáng ngọn đuốc giáo Pháp Vị Tha Quảng Đại của hệ Phật Giáo Bắc truyền (ngày nay gọi là Đại Thừa) Tất cả những tà pháp tà thuyết của ngoại Đạo đều bị ngài chiết phục Vì ngài có nhiều công đức sâu rộng thù thắng nên còn được tôn xưng tên hiệu là Công Thắng
Đức Bổn Sư Thích Ca Mưu Ni Phật (Shakyamuni Buddha) thị hiện giáng sanh vào khoảng bốn thế kỷ trước ngài Ashvaghosha Mục đích duy nhứt của đức Bổn sư là đưa chúng sanh đến cảnh giới Giác Ngộ và Giải Thoát Viên Mãn
Trang 4Đức Từ-Phụ Bổn-Sư Thích-Ca Mưu-Ni Phật (Buddha Shakyamuni)
Trang 5Kinh Pháp Hoa (Saddarma-pundarika Sutra) gọi là “Khai thị ngộ nhập Phật tri kiến” Bởi vậy, giáo pháp của Phật chỉ có một
vị đó là vị Giải Thoát Giáo pháp của Phật tùy căn cơ, trình độ, hoàn cảnh của chúng sanh mà có nhiều pháp môn
Sau khi Phật nhập Niết Bàn, theo quan điểm của các môn đồ, giáo pháp được chia ra làm hai hệ là Thượng Tọa Bộ và Đại Chúng Bộ, dần hồi thành Nam truyền và Bắc truyền
Nam truyền theo kinh điển Pali
Bắc truyền theo kinh điển Sanskrit
Nam hệ nhờ các quốc gia hết lòng ủng hộ mà được lớn mạnh ở các nước phương Nam
Còn Bắc hệ mãi đến cuối thế kỷ thứ năm, sau Phật thị hiện nhập Niết Bàn, nhờ ngài Mã Minh khởi sự xương minh mới có đà cao sâu, rộng lớn ở phương Bắc, khiến cho mặt trời trí tuệ ló dạng
Sau truyền pháp cho ngài Ca Tỳ Ma La (Kapimala) làm nối thạnh Phật chủng đến muôn đời
Trang 6Đệ tử của ngài Ca Tỳ Ma La, cũng tức là đồ tôn của ngài, là đức Nagarjuna (Long Thọ) đã làm cho phong trào được lớn mạnh, mặt trời trí tuệ lên đỉnh cao, ánh sáng tỏa chiếu rực rỡ với những đệ tử tài ba lỗi lạc như Aryadeva (Thánh Thiên), Nagabodhi (Long Trí), Buddhagupta (Phật-Đà-Cúc-Đa: Phật Mật), Chandrakirti (Nguyệt Xứng), Buddhaguhya, v.v nói không hết, kể không xuể
đức Nagarjuna (Long Thọ)
Khi đức Bổn Sư thị hiện trong hình tướng của ngài Vajrasattva (Kim Cang Tát Đỏa), hoặc Vajradhara (Chấp Kim Cang) thì ngài tuyên thuyết Mahamudra (Đại Thủ Ấn) và các kinh văn Mật Tông (ngày nay được biết dưới danh từ “Tantra”), những phương pháp đặc biệt giúp chúng sanh, nhứt là các hàng tại gia cư sĩ, Trưởng Giả, Vua, Quan khiến cho họ mau chóng ngộ nhập Phật tri kiến, đạt Giác Ngộ và Giải Thoát Viên Mãn Tuy nhiên, con đường nầy có rất
Trang 7nhiều cam go, nguy hiểm, chớ không phải như con đường bằng phẳng, nhưng dài lâu, của Thượng Tọa Bộ
Vajrasattva Vajradhara (Kim-Cang Tát-Đỏa) (Chấp Kim-Cang)
Con đường của Thượng Tọa Bộ là con đường xuất tục, phải tuyệt đối LY DỤC , phải giữ gìn Phạm hạnh cho thật tinh sạch, vì đó là đầu mối của Giải Thoát Có giữ Giới cho tinh sạch thì Định mới có cơ hội phát sanh, Định phát sanh rồi thì Huệ cũng theo đó mà ứng hiệp
Con đường của Đại Chúng Bộ, nhứt là Mật Tông (thường dùng dưới danh từ Vajrayana, tức Kim Cang Thừa) rất nguy hiễm vì người tu hằng ngày phải đương đầu với sáu thứ độc Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Kiến, chớ không phải đè nén chúng như Thượng Tọa Bộ
Trang 8chủ trương, mà phải dùng đủ mọi phương tiện để chuyễn hóa chúng, nếu không khéo dụng tâm ắt rước họa vào thân mau như tên bắn !
Tất cả chúng sanh đều có những thứ độc nầy, biết sử dụng chúng hay không mới là vấn đề Lấy một ví dụ, trong sáu độc thì Tham đứng đầu, tại sao không phải là Si (Vô minh) vậy ? Lý do là lúc ban sơ khi bất giác khởi thì đó chính là vô minh, nhưng đến khi ngã pháp đã hiện hành thì chúng sanh hầu như “chấp ngã” nhiều hơn “chấp pháp” Từ sự chấp ngã lại nẩy sanh ra ngã ái Vì thế nên hể cái gì thuận mình thì vui thích, cái gì nghịch lại mình thì chán ghét
Hành Bồ Tát Hạnh (Bodhisattvacharyavatara) có đoạn:
Tất cả khổ đau trên thế gian Đều bắt nguồn từ sự mong muốn Thỏa mãn ái dục của xác thân Bất cứ sợ hãi khổ đau nào Đều bắt nguồn từ ngã ái ra Sao tôi cố giữ con ma nầy?
Ngã ái là tên đồ tể đã giết những cơ hội khiến chúng ta không thể sanh vào những cảnnh giới thù thắng hoặc giải thoát
Ngã ái giống như tên cướp mang trên lưng một bao đầy ba chất độc (tham sâm si), và trộm hết mùa gặt công đức của mình
Ngã ái như người gieo những hạt giống ác nghiệp trong thuở ruộng vô minh để gặt lấy mùa gặt sanh tử
Trang 9Ngã ái như người tìm vinh quang không màng tên nhọn, gươm giáo, súng đạn, giữa trận mạc với hy vọng được vài lợi lộc của cá nhân
Ngã ái như tên liều lĩnh, bất nghĩa, bỏ lại sư phụ, cha mẹ khi hoạn nạn
Ngã ái là tên khốn nạn chẳng làm nên một đức hạnh tốt nào cả Ngã ái làm cho chúng ta hy vọng, hoặc sợ hãi về những điều không đáng
Ngã ái làm cho chúng ta ganh ghét người trên trước, cạnh tranh với người ngang hàng, khinh bỉ người cô thế, kiêu căng khi được ca tụng, và tức gận khi bị chỉ trích
Ngã ái là một hình thức tế nhị của tham lam, nhứt là tham sống Trong tham có rất nhiều loại, nhưng không ra ngoài ba thứ danh, lợi, tình Danh có thể bỏ, lợi có thể dẹp, lửa tình tuy không nóng như lửa thế gian, nhưng rất khó mà dập tắt nó !
Chúng sanh tiếp nối trong sanh tử, tóm lại, cũng vì một chữ
TÌNH (DÂM/DỤC) Trong muôn ngàn điều ác thì dâm cũng đứng đầu! Muốn đánh rắn cực độc thì phải đánh trúng đầu nó; muốn nhổ cây lớn, cành lá xum xuê, thì phải chặt gốc rễ của nó; muốn binh nghịch tan rã thì phải chém tướng, binh tan thì thế như núi đổ, vì vậy, CÁCH HAY NHỨT ĐỂ CHUYỄN HÓA CỘI GỐC SANH TỬ LÀ PHẢI TRỰC TIẾP CHUYỄN HÓA TÌNH (DÂM/DỤC), PHẢI SỐNG VỚI NÓ, NHẬN RA BẢN CHẤT NHƯ HUYỄN CỦA NÓ ! Nếu có thể nhận ra bản chất như huyễn của tình (dâm/dục) thì sẽ ly ngã chấp, ngã sở, ngã
Trang 10kiến; đồng thời, thân chứng được cảnh giới NHƯ HUYỄN TAM MUỘI Chứng được Như Huyễn Tam Muội thì lập tức nhận ra tánh Niết Bàn và tánh Sanh Tử xưa nay vốn bình đẳng, vô nhị, biết mình và chúng sanh xưa nay vốn là Phật Đây là mục đích của Mật Tông
Bằng trái lại, nếu cứ chấp ngã thì ắt sẽ bị tình lụy, nếu bị tình lụy thì dục tâm sẽ trói buộc làm mờ trí sáng, ắt khó có ngày được giải thoát! Đánh không trúng đầu rắn độc ắt sẽ bị rắn cắn lại; rễ không chết ắt cây to sẽ mọc cành, nẩy chồi khác, tướng không chết thì binh nghịch sẽ họp lại, muốn an ổn thử có được không? Đây chỉ là một thí dụ trong muôn ngàn phương tiện thiện xảo của Mật Tông
Nói nghe rất dễ, tuy nhiên, nếu không có một bậc Đạo sư thì phương tiện không thể hiển bày Không phương tiện thì sẽ bị đắm chìm trong ưu hoạn, như kẻ muốn qua sông mà không cần cầu đò,v.v mà bản thân mình cũng không biết bơi lội, thì thử hỏi bao giờ kẻ ấy có thể sang sông? Mạt Nhân còn biết viết gì thêm ở đây, bởi vì tất cả những gì muốn nói đã được ngài Ashvaghosha (Mã Minh) nói cách đây hơn hai ngàn năm rồi
kiệt tác phẩm, là tinh hoa được rút kết từ các Mật điển để tóm thâu tiêu đề là “làm thế nào để phụng sự bậc Đạo sư”, đây là quyển sách gối đầu nằm cho những ai thực sự muốn Giác Ngộ và đạt đến cảnh giới Giải Thoát Viên Mãn
Điều đáng chú ý nhứt là hầu hết những người tu Thiền ngày nay đều cố gắng phủ nhận tinh thần của Mật Tông trong tuyền thống của
Trang 11họ ! Vì thế càng ngày họ càng đi xa ý Thánh, lời Tổ giáo huấn Họ tuy chấp nhận có các vị Tổ như ngài Mã Minh, Ca Tỳ Ma La, Long Thọ (trứ tác Bồ Đề Tâm Luận với Nguyệt Luân Quán của Mật Tông, v.v hiển Nguyệt Luân Tam Muội để nhiếp hóa ngài Ca-Na-Đề-Bà (Kanaseva), cũng chính là ngài Aryadeva (Thánh Thiên):
Bồ Tát Long Thọ liền vì nói pháp Từ trên pháp
tòa, Bồ Tát hóa hiện một một vừng trăng tròn biểu
thị Phật tánh sáng rỡ Hội chúng nghe âm thanh,
thấy trăng tròn, không thấy hình Bồ Tát và vẫn
không biết Bồ Tát muốn nói gì Riêng Ca Na Đề Bà
liền ngộ được ý chỉ, nói với môn đệ rằng:
Bồ Tát biểu thị Phật tánh như vành trăng tròn, cũng biểu thị pháp vốn không thanh sắc
đệ tử nối pháp là ngài La-Hầu-La-Đa (Rahulata), cũng thiền quán Ngũ Như Lai (Mật Pháp) Chính truyền thống Thiền cũng có nói về điều nầy
Trang 12Sau khi được truyền tâm ấn, La Hầu La Đa du hóa khắp nơi, thống nhiếp đồ chúng rất đông Về sau, chẳng bao lâu, vào một buổi sáng, khi đến phía nam thành Thất La Phiệt, gặp sông Kim Thủy, La-Hầu-La-Đa nói với chúng rằng:
Các ngươi có thấy gì không ? Ta vừa thấy giữa dòng sông có 5 đức Phật hiển hiện
Trang 131) Guhyasamaya 2) Kalachakra 3) Chakrasamvara 4) Vajradakini 5) Vajra-hrdayalamkara
Như thế, các kinh điển của Mật Tông đã được sử dụng rộng rãi vào thời của ngài Mã Minh Nghĩa là cách đây ít nhứt là 2000 năm Mật Tông đã được thịnh hành, chớ không phải cho đến thế kỷ thứ 7 hay thứ 8 như nhiều học giả (xuất gia cũng như tại gia) phỏng đoán một cách sai lầm
Quyển sách NĂM MƯƠI BÀI KỆ VỀ BẬC ĐẠO SƯ
cho họ các pháp Quán Đảnh Trong khoảng giữa nầy thì các vị đệ tử phải:
1) thiết lập mối tương quan thầy trò, giữa mình và bậc
Đạo sư 2) học tập các pháp của Hiển Giáo 3) phát Bồ Đề Tâm
4) có chánh kiến về Tánh Không (Sunyata) Sau đó, nếu xét thấy đệ tử đã có sự chuẩn bị chu đáo, bậc Đạo
sư sẽ ban các pháp Quán Đảnh, hoặc ngài sẽ hướng dẫn môn đệ tu tập lần hồi theo các giai đoạn mà kinh điển Mật Tông đã chỉ định tùy thuộc vào sự dâng hiến trọn vẹn hay không Dâng hiến những gì?
Trang 141) Tuyệt đối phục vụ Đạo sư, tôn kính ngài như Phật, như
đấng Vajrasattva, hoặc như đấng Vajradhara, không khởi nhị tâm, không lòng phân biệt
2) Chí cầu Giác Ngộ và Giải Thoát hoàn toàn để có thể
cứu độ tất cả chúng sanh tận bờ mé vị lai 3) Hoằng dương Chánh Pháp chẳng tiếc thân mạng
Đấng Đạo sư không bị hình tướng bề ngoài hạn chế, không nhứt thiết phải là nam hay nữ, cũng không buộc phải là bậc xuất gia hay hàng tại gia cư sĩ, cũng không phân biệt thành phần xã hội Đệ tử cũng vậy
Có thể nói, hầu hết các pháp tu của Mật Tông chỉ được thực hiện một cách bí mật do các vị Vua Chúa, Vương Tôn, Công Tử, Hoàng thân Quốc thích, Cận Thần, các hàng Trưởng Lão, Cư Sĩ chớ không phổ biến ra cho quảng đại quần chúng
Ngoài tác phẩm NĂM MƯƠI BÀI KỆ VỀ BẬC ĐẠO SƯ
để lại rất nhiều trứ tác khác, nhưng nổi tiếng nhứt là Đại Thừa Khởi Tín Luận, và Đại Tông Địa Huyền Văn Bản Luận
Nguyện ai cầm được quyển sách nầy trong tay thì có cơ duyên gặp được Đạo sư tối thượng, hoặc bậc thâm hạnh A-xà-lê truyền trao Mật Pháp, một thời đầy đủ các pháp quán đảnh, nếu không biếng trễ thì không quá 16 đời quyết định sẽ thành Phật Đạo Trái lại, nếu ai coi, xem sách nầy mà buông lời phỉ báng thì nguyện cho họ không bị
Trang 15đọa vào Ba Đường Dữ, và nhờ nhân duyên phỉ báng cũng gặp được bậc Đạo sư chỉ đường dẫn lối khiến mau được giải thoát !
Kinh Đại Nhựt có nêu lên một công thức cho toàn bộ tiến trình tu tập của một Phật tử đó là:
Bồ Đề Tâm làm nhân Đại Bi làm gốc rễ Phương tiện làm cứu cánh Như thật tri tự tâm ! Tuy nhiên, những người
1) chưa phát Tâm Bồ Đề (Bodhicitta), 2) chưa có lý giải minh bạch về Tánh Không (Sunyata)
và Lục Đại Duyên Khởi, 2) chưa khởi được Phổ Hiền Hạnh Nguyện, thì công thức bốn câu ở trên khó mà lãnh hội được
Để kết thúc, Mạt Nhân xin mượn lời khuyên của ngài Lozang Dragpa (tức Je Tsongkhapa) ban cho Ngawang Dragpa, một quan chức nhỏ ở tỉnh Tsako để quí ngài tham tường
Trang 16BA NÒNG CỐT CỦA ĐẠO LỘ
Kính lễ chư Đại Đạo sư Con sẽ cố hết sức giảng giải Tinh túy của tất cả kinh điển Đạo lộ mà các đấng Chiến Thắng (Phật)
Và chư Bồ Tát đã ngợi khen Cổng vào cho những người may mắn Khát khao giải thoát mình người
Những người không màng đến Danh lợi của thế gian Muốn tìm một ý nghĩa cho cuộc sống Sẽ theo đạo lộ khiến chư Phật hoan hĩ
Hỡi người diễm phúc ! Hãy tịnh tâm lắng nghe ! 1) Nếu không có sự từ bỏ thuần khiết Thì không cách gì để lắng dịu Nỗi khát khao với quả báo tốt Trong biển sanh tử luân hồi nầy;
Và vì tất cả hữu tình có thân Đều khao khát được hiện hữu, Nên họ hoàn toàn bị trói buộc
Bởi vậy, ngay từ đầu, Hãy tìm sự từ bỏ thuần khiết ! Thân người rất khó được,
Trang 17Mạng sống không kéo dài;
Tâm thường nghĩ như vậy,
Lãng quên chuyện đời nầy Quán sát thật sâu xa Luật nhân quả không dối Quán nỗi khổ luân hồi Hết màng chuyện đời sau
Khi quán chiếu như vậy Đến mức bạn không còn Dù chỉ một sát na Ước ao trong sanh tử, Đến mức tư tưởng bạn Ngày cũng như đêm đến Đều khao khát giải thoát Thế là sự từ bỏ
Trong bạn đã phát sanh
2) Nhưng từ bỏ mà không
Đi đôi với sự phát tâm Vô Thượng Bồ Đề thuần khiết
Thì ngay cả từ bỏ Cũng không làm được nhân
Đưa đến Đạo Bồ Đề
Bởi thế người khéo phân biệt
Sẽ phát Tâm Bồ Đề
Bị cuốn phăng bởi bốn dòng thác mạnh
(sanh lão bệnh tử)
Bị trói buộc vì xiềng xích của nghiệp khó dừng,
Trang 18Bị tóm bẫy trong lưới chấp thủ kiên cố
Bị ngộp thở trong luồng khói ám vô minh, Hữu tình không ngừng sanh rồi tái sanh Để liên tục bị hành hạ bởi ba khổ Hãy quán sát cảnh giới nầy
Để phát Tâm Vô Thượng Bồ Đề 3) Song nếu không có trí tuệ
Hiễu rõ cách tồn tại của các pháp Thì bạn cũng không nhổ được gốc rễ khổ Vậy hãy nỗ lực trong các phương tiện Để thực chứng pháp duyên sanh Người nào thấy rằng với tất cả pháp Thuộc sanh tử hay niết bàn
Luật nhân quả là tất yếu
Thì đạt được chánh kiến
Kẻ ấy đang đi trên đạo lộ
Khiến chư Phật hoan hỉ
Tướng các pháp duyên sanh
Không phải là một ảo cảnh
Nhưng có người hiểu rằng
Tánh Không là một cái gì
Độc lập với duyên sanh
Thì bạn không bao giờ
Hiểu được ý của đức Như Lai
Phải biết Tánh Không tức Duyên Khởi Chúng không phải thay thế nhau Lý duyên sanh là chân thật
Trang 19Chẳng rời tự Tánh Không Thông đạt được lý nầy Sẽ phá hũy tất cả chấp thủ Như thế bạn được diệu quán Nếu bạn hiểu Tánh Không Xuất hiện thành nhân quả Thì những quan điểm cực đoan Không ảnh hưởng đến bạn
Khi hiểu đúng những điểm nầy Về Ba Nồng Cốt của Đạo Lộ Thì hãy độc cư và phát triển Sức mạnh của tinh tấn Không bao lâu bạn sẽ Đạt đến chân hạnh phúc
Trang 20NĂM MƯƠI (50) BÀI KỆ
VỀ BẬC ĐẠO SƯ (GURUPANCHASHIKA)
Nguyên tác:Tổ sư Ashvaghosha (Mã Minh)
Còn được biết dưới bút hiệu là: Aryashura
Dịch và chú giải ra Anh ngữ: Geshe Ngawang Dhargyey Dịch ra Việt ngữ và chú giải rộng thêm: Nguyễn Pram, (Pháp danh: Thiện Thọ, Pháp hiệu: Pháp Định) _
Trang 21NĂM MƯƠI (50) BÀI KỆ
VỀ BẬC ĐẠO SƯ (GURUPANCHASHIKA)
Nguyên tác:Tổ sư Ashvaghosha (Mã Minh)
Còn được biết dưới bút hiệu là: Aryashura
Dịch ra Anh ngữ: Geshe Ngawang Dhargyey
Việt dịch: Nguyễn Pram, (Pháp danh: Thiện Thọ, Pháp hiệu: Pháp Định)
Namah Bhagavan Vajrasattva
(Con xin qui mạng về đức Kim-Cang Tát-Đỏa Thế Tôn)
Trang 22(1)
Cung kính đảnh lễ dưới chân liên hoa của bậc Đạo sư (guru), đấng có khả năng khiến tôi đạt đến cảnh giới vinh quang của đức Vajrasattva, tôi sẽ tóm thâu và giải thích tổng quát những điều đã được tuyên thuyết trong các bản kinh văn vô cấu của Mật Tông, về lòng thành kính phục vụ bậc Đạo sư Hãy chú ý lắng nghe
(2) Thập phương chư Phật trong ba thời thường lễ bái chư Đạo sư của Mật Tông, vì từ chư Đạo sư mà chư Phật đã nhận lãnh những lễ quán đảnh tối cao (chúng ta có nên làm theo chư Phật không?)
(3) Chúng ta phải lễ bái, phục vụ bậc Đạo sư với sự thành khẩn và biết ơn tận đáy lòng, vì ngài đã ban cho chúng ta giáo lý của Mật Tông Ngày ba thời, chắp tay thành kính, dâng lên bậc Đạo sư mạn-đà-la cũng như dâng hiến các thứ hoa thơm đẹp và lạy chân ngài
(4) Đối với những người xuất gia, nếu bậc Đạo sư là người tại gia, cư sĩ, khi lễ bái ngài nơi công cộng thì nên hướng mặt về các mật điển để khỏi bị người đời nói lời xằng bậy.Nhưng, trong thâm tâm nên lễ bái bậc Đạo sư
(5)
Trang 23Khi thấy bậc Đạo sư đến phải đứng dậy tiếp chào, phải vâng lời chỉ bảo của ngài Tuy nhiên, đối với những người xuất gia mà bậc Đạo sư của mình là người tại gia, cư sĩ, thì không cần phải lễ bái (nơi công cộng) và làm những hành vi không chánh đáng (chẳng hạn như rửa chân ngài) để tỏ lòng thành kính đối với ngài
(6) Để cho những lời tán dương đấng Đạo sư, hoặc lời xưng tán của mình không bị bôi nhọ, thì cần có sự thử thách trước để xem coi quan hệ thầy trò có đúng nghĩa của nó hay không
(7) Người tu Đạo không nên chấp nhận bậc Đạo sư của mình nếu xét ra người nầy không có lòng từ bi, hoặc là kẻ nóng giận, độc ác, cộc cằn, hoặc không giữ giới luật, hoặc là kẻ khoe khoang, khoác lác về tài trí của mình
(8) Bậc Đạo sư là người có cử chỉ điềm đạm, lời nói thận trọng, khôn ngoan, trầm tỉnh, nhẫn nại và thành thật Ngài là bậc không che đậy sự yếu kém của mình, cũng không phải là người giả bộ như mình có đầy đủ những khả năng mà mình thực sự không có Ngài là bậc thông đạt lý thú của các Mật điển, và thông thạo về các thứ lễ nghi trừ chướng, cũng như biết về các thứ y dược Đồng thời, ngài cũng phải có lòng từ bi và sự thấu hiểu tận tường về các thánh điển của Mật Tông
Trang 24(9) Ngài là bậc thông đạt về mười môn, có khả năng vẽ, hoặc tạo dựng các mạn-đà-la, có đầy đủ trí tuệ để giải thích các tôn kinh của Mật Tông, có tâm thuần tịnh cao cả và là bậc có khả năng làm chủ các giác quan của mình
(10) Khi đã trở thành môn hạ của một bậc Đạo sư như vậy, mà mình đem lòng bất kính, phỉ báng thì sẽ phải chịu thống khổ triền miên như tự thân phỉ báng thập phương ba đời chư Phật Thế Tôn
(11) Nếu ngu xuẩn đến độ bất kính, nhục mạ bậc Đạo sư của mình thì kẻ làm đệ tử kia sẽ chiêu cảm các thứ bệnh hoạn truyền nhiễm do các ác quỉ thần tạo ra Hắn ta sẽ chết bởi tai nạn khủng khiếp do quỉ thần gây ra, hoặc do bệnh dịch truyền nhiễm, hoặc bị đầu độc mà mất mạng
(12) Nhục mạ bậc Đạo sư, kẻ ngu như vậy sẽ bị ác Vương tru diệt, hoặc bị nạn lửa dữ, rắn độc cắn mổ, nước to cuốn trôi, các ác phù thủy, hoặc đảng cướp, hoặc các thứ yêu tinh hãm hại, và sau khi mạng chung sẽ sanh về Địa Ngục
(13) Chớ bao giờ dại dột làm phật ý bậc Đạo sư Nếu mù quáng làm như vậy, Địa Ngục dầu sôi chịu khổ hình
Trang 25(14) Những kẻ chê bai bậc Đạo sư của mình sẽ phải chịu đọa vào những thứ Địa Ngục kinh hồn, chẳng hạn như A-tỳ (Avici: vô gián), và phải chịu thống khổ trong đó một thời gian rất lâu dài
(15)
Vì vậy, phải hết lòng thành kính tôn thờ bậc Đạo sư của mình, đừng bao giờ làm giãm giá trị của bậc Đạo sư của Mật Tông khi mà ngài không bộc lộ đại trí tuệ và đại công đức của ngài ra
(16) Nếu vì vô tình mà tỏ ra bất kính đối với bậc Đạo sư thì hãy cúng dường và thành tâm tỏ bày, sám hối cùng ngài, cầu xin ngài tha thứ cho tội lỗi kia Làm như vậy thì đời sau những điều bất tường như dịch bệnh sẽ không đổ ụp lên mình của người đệ tử
(17) Kinh luận của Mật Tông đã từng nói rằng đối với một bậc Đạo sư mà mình đã phát thệ tôn thờ (quán tưởng ngài tức là đức Bổn Tôn) thì mình cũng phải sẳn sàng hy sinh vợ đẹp, con yêu và ngay cả tánh mạng của mình cho ngài, mặc dù những việc làm nầy không phải là dễ dàng thực hiện Có cần phải nói đến việc dâng hiến tất cả tài sản của mình cho ngài không?
(18) Sự tu tập hạnh xả như vậy, có thể đem đến quả vị Phật viên mãn cho người đệ tử tinh tấn dũng mãnh ấy ngay trong đời hiện tại; trái lại (nếu còn có tâm chấp trước nơi ngã, pháp, chúng sanh, thọ mạng),
Trang 26có thể trong vô lượng kiếp tu tập cũng khó mà thành tựu Phật quả viên mãn được
(19) Thường phải luôn giữ gìn lời nói chân thật, thành tín Thường phải năng tu tập pháp cúng dường lên chư Giác giả Đồng thời phải thường năng cúng dường lên bậc Đạo sư, bình đẳng cũng như cúng dường lên chư Phật không có tâm phân biệt
(20) Những ai muốn thành tựu cảnh giới của Phật Trí Thân (Buddhajna- kaya) nên dâng hiến lên bậc Đạo sư những gì có thể khiến cho ngài vừa lòng đẹp ý nhứt
(21) Dâng hiến lên bậc Đạo sư thì cũng như sự thường xuyên cúng dường lên chư Phật Do sự cúng dường rộng rãi như vậy nên chiêu cảm được những tiềm năng tích cực vĩ đại Đó chính là sự thực chứng tối cao (Phật quả viên mãn)
(22)
Vì vậy, người đệ tử nào có những đức tánh cao quí như có tâm từ bi, có tấm lòng đại lượng, khéo hay trì giới, và thường hành hạnh nhẫn nhục sẽ không bao giờ khởi tâm phân biệt cho rằng bậc Đạo sư của mình khác với đức Chấp Kim Cang Phật (Buddha Vajradhara)
(23)
Trang 27Nếu mình dẫm đạp lên hình bóng của bậc Đạo sư thì hậu quả tai hại cũng giống như mình phá hũy một cái tháp (stupa), có cần phải nói đến những hậu quả của việc dẫm lên, hay đạp phải chân của bậc tôn
sư, hoặc ngồi lên chỗ ngồi của ngài, hay ngồi lên yên ngựa, voi mà ngài thường cỡi hay không ?
(24) Đệ tử có căn khí lanh lợi phải hết sức hoan hỹ và phấn chấn vâng lời chỉ dạy của bậc Đạo sư Nếu mình thiếu khả năng, hoặc trí tuệ yếu kém không thể thực hiện lời ngài dạy thì nên nhã nhặn trình bày lý do tại sao\mình không thể
(25)
Do nơi bậc Đạo sư mà mình có thể sanh lên các cỏi cao, thành tựu được đạo quả nhiệm mầu, hưỡng được trí lạc Vì vậy, phải hết lòng tinh tấn thực hiện lời chỉ bảo của ngài
(26) Canh giữ những thứ thuộc về bậc Đạo sư như chính thân mạng của mình Cung kính đối với quyến thuộc của ngài như mình cung kính đối với ngài Đối với những bậc thân cận với ngài thì phải tôn kính chư vị như những người có liên hệ huyết tộc của ngài Trong tất cả mọi thời, hãy nhứt tâm tư duy điều nầy
(27) Đừng bao giờ ngồi chung giường, hoặc chung ngôi của bậc Đạo sư, cũng không được đi ở trước ngài Khi nghe giáo lý không được búi tóc,
Trang 28(kể cả đội nón, mang giày, hoặc đem theo binh khí) Không bao giờ chạm vào chỗ mà tôn sư sẽ an tọa, ngay cả chỗ đất mà ngài có thể ngồi Chớ để tay của mình lên hai bắp đùi một cách kiêu hảnh, hoặc bắt chặc tay, siết tay, vặn tay ngài
(28) Chớ bao giờ ngồi, hoặc ngã lưng khi Đạo sư đứng (cũng không được nằm khi ngài ngồi) Luôn luôn đứng thẳng người trong tư thể sẳn sàng phục vụ ngài một cách tốt đẹp nhứt
(29) Trước sự hiện diện của Đạo sư đừng bao giờ tằng hắng, ho hen mà không che mặt lại Không bao giờ duỗi thẳng cẳng ra khi ngồi, cũng không nên đi tới đi lui một cách vô cớ trước mặt ngài Và đừng bao giờ cải vả với ngài
(30) Đừng bao giờ chà bóp tứ chi Chớ có ca hát, nhảy múa hoặc chơi các thứ nhạc cụ (ngoại trừ lúc hành lễ) Và đừng bao giờ nói chuyện hý luận, hoặc nói quá nhiều (quá lớn) trong phạm vi mà bậc Đạo sư có thể nghe được
(31) (Khi Đạo sư đi vào phòng) hãy đứng thẳng người và cúi đầu xuống một chút Khi có sự hiện diện của ngài thì phải ngồi một cách kính cẩn trang nghiêm Lúc đêm tối, hay ở các con sông to, sóng lớn, hoặc
Trang 29những con đường nguy hiểm, được sự cho phép (của Đạo sư) thì mình nên đi trước (để mở đường, dẫn lối)
(32) Trong tầm mắt của Đạo sư, người đệ tử lợi căn, chớ nên, ngồi mà thân hình cứ uốn cong, cũng không được dựa lưng vào gối, Đừng bao giờ kéo, bẻ các ngón tay, (cũng như dùng các ngón tay để đùa giởn, hoặc chùi rửa các móng tay)
(33) Khi rửa chân Đạo sư, hoặc tắm rửa thân, lau chùi, đấm bóp, hoặc cạo râu cho ngài, trước hết phải đảnh lễ Đạo sư ba lần, khi làm xong mọi việc, lại đảnh lễ ngài ba lần nữa Sau đó, tự mình hãy tắm rửa, v.v
(34) Nếu thấy cần phải nói tên của Đạo sư ra thì nên thêm phía trước tôn danh của ngài là “Trước sự hiện diện của đức .” Để khiến cho những người khác phát lòng tin tưởng nơi ngài, thì nên để thêm các tôn hiệu khác (như Hòa Thượng, Phương Trượng trụ trì, Tôn giả, hoặc A-xà-lê, v.v )
(35) Khi thỉnh cầu Đạo sư về việc gì (đầu tiên phải nói tại sao mình đến) Tay chắp lại để ngay ngực, lắng nghe những gì ngài nói chớ để tâm
Trang 30vào việc khác Sau (khi ngài nói) thì \mình nên lên tiếng: “Con sẽ làm y như lời tôn sư chỉ dạy.”
(36) Sau khi thực hiện (lời ngài dạy), hãy đến trình bày với lời lẽ ôn hòa, nhã nhặn và lịch sự Nếu bị ho hoặc cười (tằng hắng, hoặc ngáp trước sự hiện diện của Đạo sư), hãy lấy tay che miệng lại
(37) Nếu mình muốn nhận lãnh một thứ giáo lý nào, thì hãy thỉnh cầu Đạo
sư ba lần bằng cách quì gối phải xuống, hai tay chắp lại trước mặt ngài Khi ngài giảng dạy giáo lý,hãy ngồi xuống một cách khiêm tốn, tỏ lòng cung kính, và mặc quần áo cho thích nghi, tươm tất (sạch sẽ, không nên mang trang sức, hoặc đồ trang điểm)
(38) Khi phục vụ Đạo sư phải hết lòng cung kính, chớ đem lòng xấc xược ra làm Đáng ra, người đệ tử phải có cử chỉ như người con gái mới xuất giá, rụt rè, e ngại và rất dịu dàng
(39) Khi có sự hiện diện của bậc Đạo sư, hãy đình chỉ tất cả những hành vi làm dáng làm vẽ, gian dối Cũng như các hành vi bất xứng khác, hãy tự mình phân tích và từ bỏ (điều sai quấy)
Trang 31(40) Nếu người muốn thỉnh cầu mình ban phép quán đảnh (sơ bộ cho phép vào) mandala, hoặc làm phép hộ ma (homa), hoặc triệu tập các đệ tử lại để thuyết pháp, chớ nên làm như vậy khi Đạo sư của mình đang lưu ngụ ở trong vùng đó, trừ phi mình được sự cho phép của ngài trước khi thực hiện
(41) Bất cứ phẩm vật nào được dâng hiến cho mình khi thực hiện những phép chẳng hạn như (lễ quán đảnh) Mở Ngũ Nhãn, thì mình phải dâng hết lên Đạo sư [của mình] Khi ngài nhận lãnh một phần, thì phần còn lại mình được quyền sử dụng tùy thích
(42) Dưới sự hiện diện của Đạo sư thì người đệ tử không cần phải làm (Đạo sư) cho môn đệ của mình, và chúng cũng không được tùy tiện xem ngài như Đạo sư của chúng Vì vậy, (trước đấng Đạo sư, mình) phải ngăn chặn (đệ tử của mình) chớ để cho chúng tỏ lòng tôn kính, chẳng hạn như đứng lên đón chào mình (khi mình bước đến) và đảnh lễ mình
(43) Khi mình dâng cúng lên Đạo sư, hoặc khi Đạo sư ban cho mình bất cứ thứ gì, thì người đệ tử phải hai tay cung kính (dâng lên và) nhận lãnh, và đầu phải hơi cúi xuống một chút
Trang 32(44) Trong tất cả mọi hành động, hãy làm với lòng kiên nhẫn, tỉnh thức, và không bao giờ quên những lời tán thán Nếu các người cùng học với mình bị sa ngã thì nên dùng tình bạn chân thành mà khuyên nhũ
(45) Nếu vì lý do sức khỏe, hoặc tàn tật, không thể quì trước Đạo sư để đảnh lễ, thì nên làm theo cách thức mà ngày thường bị cấm kỵ, ngay cả nếu không có sự cho phép của ngài thì hậu quả cũng không nguy hại, nếu mình có tâm thành tín, và tôn trọng ngài
(46) Có thể nói nhiều hơn nữa Hãy làm bất cứ điều gì có thể khiến Đạo sư vui lòng đẹp dạ, và hãy tránh những điều khiến cho ngài không được vui thích Hãy kiên nhẫn trong hai trường hợp nầy
(47)
“Thực chứng sẽ đem lại từ việc thi hành những gì mà bậc Đạo sư thích.” Đây là lời tuyên bố của đức Vajradhara.Hiểu biết được điều nầy, và làm vui lòng đẹp dạ Đạo sư bằng tất cả hành động của thân tâm mình
(48) Sau khi người đệ tử qui y Tam Bảo và phát Bồ Đề Tâm, thì hãy ban cho nó quyển sách nầy để nó trì tụng hằng ngày (làm thế nào để từ bỏ bản ngã xấc xược của nó và) hướng theo dấu chân của bậc Đạo sư
Trang 33(49) (Bằng cách thực hiện bước chuẩn bị, với sự quyết tâm theo học với bậc Đạo sư và con đường tu tập theo cả hai môn Hiển Mật), ngươi sẽ trở thành một pháp khí để tiếp nhận Tịnh Pháp (Dharma) Tiếp theo, ngươi sẽ được ban cho các giáo lý chẳng hạn như giáo lý bí mật của Mật Tông Sau khi nhận lãnh các chi phần quán đảnh đứng đắn, hãy đọc lớn 14 thệ nguyện gốc và hãy nhớ nằm lòng những thệ nguyện nầy
(50) Khi ta viết quyển sách nầy, nếu không vi phạm phải một lỗi lầm nào, thì nguyện quyển sách nầy sẽ làm đại lợi ích cho tất cả những ai muốn tôn thờ một bậc Đạo sư trên bước đường tu tập Do công đức vô lượng nầy, nguyện tất cả chúng sanh mau chóng viên mãn quả vị Phật
- Hết -
Trang 34Ẩn nghĩa của “Vajrasattva” có thể được hiểu theo nghĩa chiết tự
“Vajra” có nghĩa là “bất-khả-hoại kim-cương sấm chớp” Ở đây, Vajra có nghĩa trí rắn chắc như kim cương, sự vô nhị giữa Tánh Không (Sunyata) và Đại Lạc (Maha Sukha) “Sattva” có nghĩa là hữu tình Chữ nầy còn mang một ý nghĩa là một người nào đó đã từ bỏ bản
ngã, vô minh, những mong cầu, vọng tưởng, điên đảo, lại có cái tâm của một bậc đại nhân, tâm đó là khắp làm lợi ích cho tất cả chúng
Mạt Nhân xin nói thêm, như thế, Bahgavan Vajrasattva chỉ cho cảnh giới nội chứng của đức Phật Thế Tôn Kim Cang Thừa (Vajrayana)của Tây Tạng rất ít khi đề cập đến ngài Chư Phật tử Tây Tạng, chủ trương rằng đức Vajradhara (Chấp Kim Cang) là một sắc thân của Phật được dùng để tuyên thuyết lý thú bí mật và đặt để đức Vajradhara lên làm hàng thủ lãnh của Ngũ Trí Như Lai Điều nầy không phù hợp với chủ trương của Mật Giáo lúc ban sơ, vốn phát xuất từ Ấn Độ, và vẫn còn lưu truyền ở các nước Nam Dương, Nhựt Bản, Triều Tiên,
Trang 35Trung Hoa, Việt Nam, thì đức Vajrasattva tức là Phật Tánh của mỗi chúng sanh, là Bồ Đề Tâm Thanh Tịnh Bản Nguyên của mỗi chúng sanh, là Trí Tuệ Bát Nhã Ba-la-mật nơi Phật không tăng, nơi chúng sanh không giãm dù cho chúng sanh có bị trôi lăn vào các đường sanh tử luân hồi cũng vẫn y nguyên, là đấng Bí Mật Chủ, và cũng chính là thủ lãnh của nội quyến thuộc của chư Phật [chúng hội Vajradhara (Chấp Kim Cang)]; đứng trên mặt Hiển Giáo thì ngài Vajrasattva tức là đức Mahabodhisattva Mahasattva Samantabhadra (Đại Bồ Tát Ma-ha-tát Phổ Hiền) là một trong những bậc thượng thủ trong chúng hội ngoại quyến thuộc của đức Bổn Sư Thích Ca Mưu Ni (tức là chư Sơ Phát Tâm Bồ Tát cho đến chư Đẳng Giác, Nhứt Sanh Bổ Xứ Đại Bồ Tát Ma-ha- tát]
Vajrasattva còn một ý nghĩa đặc biệt nữa là khi người hành trì Mật Pháp đã tiếp nhận trọn vẹn các pháp quán đảnh, tiếp nhận được sức gia trì của chư Phật Bồ Tát, khéo an trụ nơi Bồ Đề Tâm kiên cố, biết phát ra các hạnh nguyện phù hợp với đức Bổn Tôn thì bản thân người tu trở thành một với đức Vajrasattva, đây chính là mục đích tối cao của Mật Tông
Đức Vajrasattva chính là đối tượng của sự tu tập, và cũng là kết quả của sự tu tập, nơi đó người tu và pháp tu hoàn toàn hiệp nhứt trong một thể bất khả phân: “ngã nhập, nhập ngã”, đây là ý nghĩa cực kỳ thù thắng của Phật gia
Người tìm cầu Đạo Vô Thượng Bồ Đề phải hết lòng tôn kính và phục vụ bậc Đạo sư (vì ngài tức là đức Vajrasattva) vì hành động khôn ngoan
Trang 36đó chính là con đường đưa đến cảnh giới Giác Ngộ (Bodhi), đấng Đại Đạo sư Ashvaghosha (Mã Minh) bắt đầu tác phẩm của mình bằng cách xưng tán đức Thế Tôn Vajrasattva cũng chính vì những lý do nầy
(1) Cung kính đảnh lễ dưới chân liên hoa của bậc Đạo sư (guru),
đấng có khả năng khiến tôi đạt đến cảnh giới vinh quang của
đức Vajrasattva, tôi sẽ tóm thâu và giải thích tổng quát những
điều đã được tuyên thuyết trong các bản kinh văn vô cấu của
Mật Tông, về lòng thành kính phục vụ bậc Đạo sư Hãy chú ý
lắng nghe
(2) Thập phương chư Phật trong ba thời thường lễ bái chư Đạo sư
của Mật Tông, vì từ chư Đạo sư mà chư Phật đã nhận lãnh
những lễ quán đảnh tối cao (Chúng ta có nên làm theo chư
Phật không?)
Nói chung, có ba thứ quán đảnh (abhiseka)- nhân, đạo và quả Nhân quán đảnh là khiến cho dòng tâm thức của người thọ pháp được chín mùi; loại quán đảnh thứ hai là con đường tu tập thật sự nhờ đó mà hành giả Giác ngộ; và quả quán đảnh là loại quán đảnh thứ ba, thứ quán đảnh nầy khiến cho hành giả trực tiếp chứng nhập cảnh giới giải thoát của Phật quả viên mãn.Bất cứ vị nào đã được, hoặc sẽ được quả Giác Ngộ cũng phải trải qua những giai đoạn đó nhờ tiếp nhận những loại quán đảnh tối
Trang 37cao từ các bậc Đạo sư của Mật Tông Để tỏ lòng biết ơn, hành giả phải đảnh lễ đấng Đạo sư của mình mỗi ngày ba lần, đảnh lễ thân, khẩu, và ý giác ngộ của ngài
(3) Chúng ta phải lễ bái, phục vụ bậc Đạo sư với sự thành khẩn và
biết ơn tận đáy lòng, vì ngài đã ban cho chúng ta giáo lý của
Mật Tông Ngày ba thời, chắp tay thành kính, dâng lên bậc
Đạo sư mạn-đà-la cũng như dâng hiến các thứ hoa thơm đẹp
và lạy chân ngài
Là một người đệ tử trong dòng pháp, hành giả phải đối xử với bậc Đạo sư của mình như một bậc Giác Ngộ Ngay cả, khi ngài khiêm tốn cho rằng mình vẫn chưa đạt được cảnh giới Giác Ngộ, và ngay khi chính mình đã đạt được Phật quả viên mãn trước ngài, thì mình vẫn phải tỏ lòng cung kính và đảnh lễ ngài Cho một thí dụ, đức Bodhisattva Mahasattva Maitreya (Di-Lặc/Vô-Năng-Thắng Bồ Tát Ma-hatát) đức Phật thứ năm, và cũng là đức Phật kế tiếp trong 1000 Phật ở Hiền Kiếp (kiếp mà chúng ta đang sống), hiện nay đang hiện thân ở Tushita-Buddhaksetra (Đâu Suất Phật-độ/Tịnh-độ), đã thành Đạo Giác Ngộ trước Đạo sư của ngài, tức là đức Bổn sư Shakyamuni Buddha (Phật Thích Ca Mưu Ni) Để tỏ lòng tôn kính bậc Đạo sư của mình, đức Maitreya có an trí một cái tháp (stupa) ở trên đầu mình Tương tợ như vậy, đức Bodhisattva Mahasattva Avalokitesvara (Quán Tự Tại Bồ Tát Ma-ha-tát), hóa
Trang 38thân của lòng từ bi của chư Phật, và cũng là một vị cổ Phật, cũng an trí trên đảnh đầu của mình một cái đầu của đức Amitabha Buddha (Vô Lượng Thọ Phật còn gọi là A-Di-Đà Phật), đức Phật đang hiện thân thuyết pháp độ sanh ở cõi Sukhavatibuddhaksetra (Cực Lạc Phật độ), v.v
Như vậy, theo học với bậc Đạo sư không phải như việc giết chết con chồn hương để lấy xạ thơm, rồi bỏ xác của nó, không phải là hành động vắt chanh bỏ vỏ của kẻ dung tục Ngay cả khi thành Đạo Giác Ngộ, hành giả cũng phải tiếp tục tôn kính bậc Đạo sư, vì nhờ có ngài mà mình có thể viên mãn tất cả công hạnh phước trí Trong thời gian tu Bồ Tát Hạnh, nếu có chúng sanh nào vô tình hay hữu ý thí cho một vắt cơm, một bát nước, đức Bổn Sư Thích Ca Mưu Ni Phật của chúng ta còn nhớ mãi không thôi, ác như Đề-Bà-Đạt Đa (kinh Pháp Hoa) mà ngài vẫn thường nhớ ơn, vì nhờ có ác nhân Đề-Bà-Đạt-Đa (thị hiện nghịch hạnh) mà đức Bổn Sư Đại Từ Đại Bi của chúng ta mới mau thành Đạo, huống chi là bậc Đạo sư của ngài Chỉ có kẻ vong ơn bội nghĩa mới hay lãng quên ân sư của mình mà thôi, nhưng Mạt Nhân chưa từng nghe nói đến những kẻ vong ơn bội nghĩa lại có thể thành Phật
(4) Đối với những người xuất gia, nếu bậc Đạo sư là người tại gia,
cư sĩ, khi lễ bái ngài nơi công cộng thì nên hướng mặt về các
Trang 39mật điển để khỏi bị người đời nói lời xằng bậy.Nhưng, trong
thâm tâm nên lễ bái bậc Đạo sư
(5) Khi thấy bậc Đạo sư đến phải đứng dậy tiếp chào, phải vâng
lời chỉ bảo của ngài Tuy nhiên, đối với những người xuất gia
mà bậc Đạo sư của mình là người tại gia, cư sĩ, thì không cần
phải lễ bái (nơi công cộng) và làm những hành vi không chánh
đáng (chẳng hạn như rửa chân ngài) để tỏ lòng
thành kính đối với ngài
Một trong những luật nghi của người xuất gia là không được lễ bái những người tại gia cư sĩ Điều nầy có nghĩa là nơi công cộng, thì các vị tăng, cũng như ni, không nên bộc lộ sự tôn kính bậc Đạo sư, đấng mang hình tướng của một người tại gia cư sĩ, khi mà điều nầy có thể đem lại sự hiểu lầm, và khiến cho những kẻ nông cạn, ngu muội có cơ hội buông lời phỉ báng Cho nên, tốt hơn hết nên lễ bái hướng về các Thánh điển hoặc tôn tượng của Phật Bồ Tát gần ngài, trong khi đó thì nơi tự tâm nên kính lễ bậc Đạo sư của mình
Mạt Nhân xin nói thêm, Vua Mật điển Hevajra Tantra nói:
Trong đời vị lai
Trong năm ngàn năm ta sẽ Mang hình dạng những bậc Đạo sư Hãy nghĩ họ là Ta và Phát sanh lòng kính ngưỡng Trong thời gian ấy ,,,
Trang 40Vào thời đại suy đồi trong tương lai Thân tướng Ta sẽ là Thân tướng của những kẻ tiện dân
Đây là những phương tiện khác nhau mà Ta sử dụng
Ta sẽ hiện hình theo cách ấy
Thí dụ khác, các bậc đại sư như Chandragomin và Chandrakirti thường hay tranh luận cùng nhau Vị đầu là cư sĩ tại gia, còn vị thứ hai là bậc xuất gia Một hôm, Chandrakirti mời ngài Chandragomin đến thăm viếng tu viện của mình Ngài Chandrakirti muốn Tăng chúng trong tu viện dàn hàng ra để đón chào tôn sư của mình, nhưng vị Đạo sư tại gia phản đối việc nầy, viện cớ rằng những người sống quanh tu viện sẽ phải hết sức kinh ngạc khi thấy chư Tăng đón chào hàng bạch y cư sĩ Ngài Chandrakirti trả lời đại khái là, “xin tôn sư chớ có lo ngại việc nầy” Ngài an trí tôn tượng của đức Bodhisattva Mahasattva Manjusri (Mạn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma-ha-tát) nơi tòa cao nhứt, và trong đám rước nầy ngài ra lệnh cho một vị Tăng mang tôn tượng hướng thẳng về phía Đạo sư Chandragomin Mọi người đều tin tưởng rằng đám rước nầy là để tỏ lòng tôn kính đức Manjusri, hóa thân của trí tuệ của chư Phật, và như thế ngài Chandrakirti tránh được các cảm giác không hay
Mặc dù, sự nghiêm cấm không cho hành lễ với bậc Đạo sư, đấng mang hình tướng của người tại gia cư sĩ, diển ra để cho những kẻ ngu không có cơ hội buông lời xằng bậy, nhưng nơi chỗ kín đáo thì người đệ tử, cho dù