Ngoài ra, đề tài còn đưa ra cơ sở lý thuyết và mang ý nghĩa ứng dụng thực tiễn cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc tận dụng các tác động tích cực, đồng thời tìm cách hạn chế, khắc p
Trang 1ĐỀ ÁN MÔN HỌC
Đề tài: Tìm hiểu và đánh giá tác động đối với ngành dệt may
Việt Nam nếu TPP được ký kết
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
GVHD: TS NGUYỂN THỊ THỦY SINH VIÊN THỰC HIỆN
1 LÊ GIA BẢO KHUÊ
2 TÔN NỮ DIỆU NGÂN
Trang 2MỤC LỤC
I GIỚI THIỆU: 3
A CHỦ ĐỀ 3
B Ý NGHĨA 3
C PHƯƠNG PHÁP THU THẬP DỮ LIỆU 3
D KẾT CẤU ĐỀ TÀI 4
E ĐÓNG GÓP VÀ HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 4
1 Đóng góp: 4
2 Hạn chế: 4
II SƠ LƯỢC VỀ HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG 4
A Nguồn gốc và diễn biến đàm phán hiệp định TPP 4
B Nội dung hiệp định TPP 6
C Ảnh hưởng của TPP đến nền kinh tế Việt Nam 6
III BỐI CẢNH CHUNG CỦA NỀN CÔNG NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM 6
A Định nghĩa ngành dệt may 7
B Những con số của ngành dệt may Việt Nam 7
C Chuỗi giá trị ngành dệt may Việt Nam 8
1 Các yếu tố sản xuất: 9
2 Hoạt động sản xuất: 10
3 Hoạt động xuất khẩu, phân phối và marketing 10
IV TÁC DỘNG CỦA TPP ĐỐI VỚI NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM 11
A BỐI CẢNH 1 11
B BỐI CẢNH 2 12
V KẾT LUẬN 15
Hướng phát triển của đề tài trong tương lai 16
Trang 3I GIỚI THIỆU:
A CHỦ ĐỀ
Được coi là thỏa thuận thương mại tự do lớn nhất trong lịch sử Việt Nam, hiệp định thương mại tự do xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã phải mất 5 năm với 19 vòng đàm phán chính thức để các nước có thể đi đến thống nhất Khi quá trình đàm phán hoàn tất hôm 05/10/2015, TPP được ca ngợi là sẽ đem lại vô số các lợi ích kinh tế - xã hội chung cho 12 quốc gia thành viên Hiệp định bao gồm 30 chương điều chỉnh thương mại và các vấn đề liên quan đến thương mại Trong đó, dệt may – ngành công nghiệp đóng vai trò quan trọng vào tăng trưởng kinh tế tại thị trường Việt Nam – là một trong những ngành sẽ chịu tác động lớn nhất bởi thỏa thuận này
Đề tài này hướng đến việc tìm hiểu và đánh giá các ảnh hưởng đối với ngành dệt may Việt nam nếu hiệp định TPP được ký kết
B Ý NGHĨA
Bài viết cung cấp những kiến thức tổng quát về TPP và ngành dệt may Việt Nam Ngoài ra, đề tài còn đưa ra cơ sở lý thuyết và mang ý nghĩa ứng dụng thực tiễn cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc tận dụng các tác động tích cực, đồng thời tìm cách hạn chế, khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của hiệp định đối với ngành công nghiệp dệt may trong nước Đây cũng là một công cụ giúp doanh nghiệp nhận thức được tầm quan trọng của việc bước chân vào một thị trường hoàn toàn mới – thị trường điều chỉnh bởi TPP, từ đó triển khai những chiến lược kinh doanh phù hợp
Bên cạnh đó, bài viết sẽ mang đến cho Chính Phủ một cái nhìn toàn diện về tác động của TPP lên ngành dệt may Việt Nam để có thể định hướng các hoạt động hỗ trợ hoặc bảo
vệ doanh nghiệp trong ngành hiệu quả
C PHƯƠNG PHÁP THU THẬP DỮ LIỆU
Người viết sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp:
Tìm kiếm thông tin thứ cấp chủ yếu dựa vào tài liệu trên Internet
Thông tin tham khảo các báo cáo về tình hình công nghiệp dệt may Việt Nam
đã được công bố, các bài báo phân tích về TPP cũng như những tác động của hiệp định này lên nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là đối với ngành dệt may,…
Việc tìm kiếm dữ liệu thứ cấp thông qua công cụ tìm kiếm Google với những
từ khóa như: hiệp định TPP, ngành công nghiệp dệt may Việt Nam, TPP và dệt
may Việt Nam, Kết quả nhóm tìm kiếm được một số bài như: “Dệt may Việt
Nam có thực sự hưởng lợi từ TPP?” theo trang http://www.cafef.vn, Kênh
thông tin Kinh Tế - Tài Chính Việt Nam; “Hiệp định TPP liệu có ưu ái với
ngành dệt may Việt Nam” theo trang http://vietbao.vn, Việt Báo; “TPP – Được
và Mất của dệt may Việt Nam” theo trang http://www.trungtamwto.vn/, WTO
và các vấn đề về hội nhập kinh tế quốc tế;…
Trang 4D KẾT CẤU ĐỀ TÀI
Đề tài được chia thành năm phần:
Phần I giới thiệu tổng quát về đề tài
Phần II và III trình bày sơ lược về Hiệp Định thương mại tự do xuyên Thái Bình Dương (TPP) và bối cảnh chung của ngành công nghiệp dệt may Việt Nam
Phần IV phân tích và đánh giá những tác động của TPP đối với ngành dệt may trong nước
Phần V đưa ra kết luận, tóm tắt những điểm chính của bài viết và đề xuất hướng phát triển của đề tài
E ĐÓNG GÓP VÀ HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI
Xác định được các ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của TPP lên ngành dệt may Việt Nam
Cung cấp cái nhìn tổng quát và xu hướng phát triển của ngành công nghiệp dệt may sau khi Việt Nam ký kết hiệp định
Trở thành tư liệu thứ cấp cho các nghiên cứu sau này
Không trình bày được ảnh hưởng của TPP lên mối quan hệ của dệt may và các ngành công nghiệp khác
Không tham khảo được các báo cáo chính thống với đề tài tương tự bởi TPP chưa được ký kết
Không tiếp cận được với những báo cáo chuyên ngành để cập nhật số liệu mới nhất
II SƠ LƯỢC VỀ HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG
Phần II sẽ giới thiệu sơ lược về Hiệp định TPP để cung cấp cho người đọc cái nhìn tổng quan về Hiệp định, bao gồm nguồn gốc, các thành viên tham gia, quá trình đàm phán, nội dung, tiềm năng của TPP và ảnh hưởng của Hiệp định đến nền kinh tế Việt Nam
A NGUỒN GỐC VÀ DIỄN BIẾN ĐÀM PHÁN HIỆP ĐỊNH TPP
Hiệp định đối tác Xuyên Thái Bình Dương TPP (viết tắt của cụm Trans-Pacific Partnership) có nguồn gốc từ Hiệp định hợp tác Kinh tế chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement – còn gọi là P4) - một Hiệp định thương mại tự do được ký kết ngày 03/06/2005 và có hiệu lực từ ngày 28/05/2006 giữa 4 quốc gia Singapore, Chile, New Zealand và Brunei Năm 2007, các nước thành viên P4 quyết định mở rộng phạm vi đàm phán của Hiệp định này ra các vấn
đề khác, với sự tham gia/bày tỏ quan tâm từ các nước khác, trong đó có Hoa Kỳ
Trang 5Tháng 12/2009, sau thông báo của USTR về sự tham gia của Hoa Kỳ, đàm phán với tên gọi chính thức Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương TPP mới được chính thức khởi động Vòng đàm phán TPP đầu tiên được tiến hành tại Melbourn - Úc vào tháng 03/2010 với 07 thành viên Các thành viên khác tiếp tục tham gia vào đàm phán TPP trong thời gian sau đó, đầu tiên là Nhật Bản – bắt đầu tham gia vào tháng 07/2013 Tính tới thời điểm tháng 05/2015, đàm phán TPP có 12 thành viên, bao gồm New Zealand, Brunei, Chile, Singapore, Australia, Peru, Hoa Kỳ, Malaysia, Việt Nam, Canada, Mexico và Nhật Bản Một số nước khác cũng tỏ ý định tham gia đàm phán TPP (ví dụ Hàn Quốc, Thái Lan, thậm chí cả Trung Quốc)
Từ năm 2011, các nước TPP đã nhiều lần đặt ra các thời hạn mục tiêu để kết thúc đàm phán (cuối 2011, cuối 2012, cuối 2013, nửa đầu năm 2014, cuối 2014) nhưng đều không thành công Những điều này cho thấy tính chất phức tạp của các vấn đề trong đàm phán cũng như khoảng cách khác nhau giữa các nước trong nhiều lĩnh vực thuộc đàm phán TPP.1
Ngày 05/10/2015, các Bộ trưởng phụ trách thương mại của các nước tham gia đàm phán TPP họp tại Atlanta (Hoa Kỳ) đã đạt được đồng thuận về tất cả các vấn đề tồn tại và
ra tuyên bố chính thức về việc kết thúc đàm phán Hiệp định TPP Các nước sẽ tiến hành các thủ tục rà soát pháp lý, trình các cơ quan có thẩm quyền phê chuẩn Hiệp định và dành thời gian cho người dân, doanh nghiệp nghiên cứu về Hiệp định trước khi đi đến kí kết chính thức Quá trình này thông thường kéo dài từ 18 đến 24 tháng Khi đó, TPP sẽ hình thành một khu vực mậu dịch tự do chiếm tới 40% GDP thế giới và 30% thương mại toàn cầu, và hiệp định được dự báo sẽ bổ sung cho GDP thế giới thêm gần 300 tỷ USD mỗi năm.2
1 WTO và các vấn đề về hội nhập kinh tế quốc tế, Cập nhật tình hình đàm phán chung TPP đến tháng 5/2015 tại
http://www.trungtamwto.vn/tpp/cap-nhat-tinh-hinh-dam-phan-chung-tpp-den-thang-52015 , truy cập ngày 23/10/2015
2 Báo điện tử Đài truyền hình Việt nam, Việt Nam chưa tiến hành kí kết Hiệp định TPP tại http://vtv.vn/kinh-te/viet-nam-chua-tien-hanh-ky-ket-hiep-dinh-tpp-20151009165345525.htm , truy cập ngày 23/10/2015
Trang 6B NỘI DUNG HIỆP ĐỊNH TPP
Thỏa thuận TPP bao gồm 30 chương, trong đó chỉ có 5 chương điều chỉnh thương mại là trực tiếp liên quan đến vấn đề trao đổi hàng hóa, dịch vụ, các chương còn lại đề cập đến các vấn đề liên quan đến thương mại như các chuẩn mực, tiêu chuẩn khác nhau về môi trường, chất lượng lao động, luật lệ tài chính, thực phẩm và thuốc men,…
Bộ Công Thương đánh giá có 5 đặc điểm chính làm TPP trở thành một hiệp định mang tính bước ngoặc của thế kỷ 21, tạo ra một tiêu chuẩn mới cho thương mại toàn cầu trong khi vẫn đề cập tới các vấn đề mang tính thế hệ mới, bao gồm: tiếp cận thị trường một cách toàn diện; tiếp cận mang tính khu vực trong việc đưa ra các cam kết; giải quyết các thách thức mới đối với thương mại; bao hàm toàn bộ các yếu tố liên quan đến thương mại và là nền tảng cho hội nhập khu vực.3
C ẢNH HƯỞNG CỦA TPP ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
Theo nghiên cứu của Viện Kinh tế Quốc tế Peterson (PIIE), sau khi TPP được ký kết, Việt Nam có thể là quốc gia hưởng lợi nhiều nhất từ Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương, TPP sẽ giúp GDP của Việt Nam tăng thêm 23,5 tỷ USD vào năm 2020 và 33,5 tỷ USD vào năm 2025 Xuất khẩu sẽ tăng thêm được 68 tỷ USD vào năm 2025 Đáng chú ý là việc các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản và Canada giảm thuế nhập khẩu về 0% sẽ giúp tạo ra “cú hích” lớn đối với hoạt động xuất khẩu của nước ta Các ngành xuất khẩu quan trọng, như: dệt may, giày dép, thủy sản nhiều khả năng sẽ có bước phát triển vượt bậc về kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường này.4
III BỐI CẢNH CHUNG CỦA NỀN CÔNG NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM
Chương III sẽ cung cấp cho người đọc những thông tin về đối tượng chính của đề án: Ngành dệt may Việt Nam, bao gồm lịch sử phát triển, quy mô doanh nghiệp, kim ngạch xuất nhập khẩu và chuỗi giá trị ngành dệt may Việt Nam Việc nắm rõ những kiến thức này sẽ giúp cho người đọc dễ dàng nhận ra và hiểu rõ hơn những tác động của TPP đến ngành dệt may
A ĐỊNH NGHĨA NGÀNH DỆT MAY
Ngành dệt may là một trong những ngành chủ đạo của công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, liên quan đến việc sản xuất sợi, dệt nhuộm, vải, thiết kế sản phẩm, hoàn tất hàng may mặc và cuối cùng là phân phối hàng may mặc đến tay người tiêu dùng Ngành dệt may góp phần đảm bảo nhu cầu tiêu dùng, cần thiết cho hầu hết các ngành nghề và sinh hoạt; là một
3 VietNamNet, Công bố tóm tắt nội dung Hiệp định TPP tại http://vietnamnet.vn/vn/kinh-te/266064/cong-bo-tom-tat-noi-dung-hiep-dinh-tpp.html , truy cập ngày 23/10/2015
4 Nguyễn Tấn Dũng: Uỷ viên Bộ Chính Trị - Thủ tướng Chính phủ, Fitch dự báo gì về tác động từ TPP đối với kinh tế Việt Nam tại http://nguyentandung.org/fitch-du-bao-gi-ve-tac-dong-tu-tpp-doi-voi-kinh-te-viet-nam.html , truy cập ngày 23/10/2015
Trang 7ngành đem lại thặng dư xuất khẩu cho nền kinh tế; góp phần giải quyết việc làm; tăng phúc lợi xã hội
B NHỮNG CON SỐ CỦA NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM
Ngành Dệt may Việt Nam sau hơn 20 năm liên tục phát triển với tỷ lệ tăng trưởng bình quân 15%/năm đã vươn lên trở thành một trong những ngành kinh tế hàng đầu cả nước, với kim ngạch xuất khẩu đóng góp từ 10%-15% GDP hàng năm.5 Theo số liệu của Tổng cục Hải Quan, giá trị xuất khẩu hàng dệt may năm 2014 đạt 20,95 tỷ USD; tăng 16,8% so với năm trước và chiếm 14% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá cả năm Đặc biệt, trong tất cả các tháng năm 2014, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam đều đạt giá trị trên 1 tỷ USD Những đối tác nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất của Việt Nam là Hoa Kì, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc.6
(Nguồn: Tổng Cục Hải Quan)
Xuất khẩu hàng dệt may của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đạt kim ngạch cao hơn so với các doanh nghiệp trong nước Năm 2005, xuất khẩu dệt may của doanh nghiệp FDI chỉ đạt 2,14 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 44% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may cả nước Nhưng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của doanh nghiệp FDI liên tục tăng và chính thức vượt doanh nghiệp trong nước kể từ năm 2007 Năm 2013, kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp FDI đạt 10,7 tỷ USD, tăng 18,5% so với cùng kỳ và
5 Nguyệt A Vũ (04/2014) Ngành Dệt may Việt Nam Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Công thương
VietinBankSc.
6 Hải Quan Việt Nam, Sơ bộ tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá của việt nam tháng 12 và 12 tháng năm
2014 tại http://customs.gov.vn/Lists/ThongKeHaiQuan/ViewDetails.aspx?ID=795&Category=Tin%20v
%E1%BA%AFn%20th%E1%BB%91ng%20k%C3%AA&Group=Ph%C3%A2n%20t%C3%Adch , truy cập ngày 25/10/2015.
Trang 8chiếm tỷ trọng 59,4% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may Giá trị xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước đạt 7,3 tỷ USD, thấp hơn 3,4 tỷ USD so với doanh nghiệp FDI
C CHUỖI GIÁ TRỊ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM
Theo số liệu năm 2014, ngành dệt may cả nước hiện sử dụng khoảng 600 nghìn tấn bông tự nhiên, 400 nghìn tấn xơ các loại mỗi năm Tuy nhiên, Việt Nam phải nhập
Trang 9khẩu 589 nghìn tấn bông, chiếm 99% tổng nhu cầu bông; bông sản xuất trong nước chỉ đáp ứng 2%, tương đương 12 nghìn tấn Về xơ các loại thì nhập khẩu 220 nghìn tấn, chiếm 54% tổng nhu cầu về xơ Nguyên nhân chính dẫn tới sự kém phát triển của ngành bông, xơ ở Việt Nam là do nước ta không có lợi thế cạnh tranh tự nhiên và chưa chú trọng và có biện pháp đầu tư hiệu quả trong việc trồng bông và sản xuất xơ
Năm 2012, cả nước có 100 nhà máy kéo sợi với tổng công suất 680 nghìn tấn sợi bông nhân tạo Tuy nhiên, do đa số sợi đều có chất lượng không đảm bảo và do cung và cầu trong nước chưa phù hợp với nhau về số lượng và chất lượng sợi nên sợi chủ yếu được sử dụng để xuất khẩu, sản xuất khăn hoặc các sản phẩm phụ Vì vậy, ngành dệt may nước ta vẫn phải phụ thuộc vào nguồn sợi nhập khẩu Năm 2013, nước
ta nhập khẩu 380 nghìn tấn sợi để phục vụ nhu cầu sản xuất
Vai trò của ngành dệt đối với ngành may nói riêng và tổng thể ngành dệt may là rất lớn vì vải là yếu tố quan trọng quyết định đến chi phí và chất lượng cuối cùng của một sản phẩm may mặc Mặc dù có vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguyên liệu tại chỗ cho ngành may nhưng trên thực tế, ngành dệt Việt Nam chưa phát triển như kỳ vọng Bên cạnh yếu tố chất lượng không đảm bảo thì sản lượng ngành dệt cũng không đáp ứng nhu cầu của ngành may Năm 2012, ngành may có nhu cầu sử dụng khoảng 7 tỷ mét vải trong khi tổng lượng vải sản xuất trong nước chỉ đạt khoảng
1 tỷ mét, nước ta phải nhập khẩu 6 tỷ mét vải, tương đương 86% tổng nhu cầu Nước
ta có khả năng nhuộm và hoàn tất 80.000 tấn vải đan và 700 triệu mét vải dệt mỗi năm Tuy nhiên, chỉ khoảng 20-25% lượng vải dệt này đủ chất lượng để sản xuất thành phẩm xuất khẩu, trong khi vải đan hầu hết không đủ tiêu chuẩn để xuất khẩu và chỉ được dùng cho thị trường nội địa
Ngành may xuất khẩu Việt Nam đã phát triển nhanh chóng kể từ cuối những năm 80 và đầu những năm 90, đặc biệt Hiệp định thương mại song phương với Hoa
Kỳ có hiệu lực vào năm 2001 đã thúc đẩy ngành dệt may Việt Nam mở rộng thị
Trang 10trường xuất khẩu đáng kể Hiện nay, cả nước có khoảng 6.000 doanh nghiệp dệt may, thu hút hơn 2,5 triệu lao động, chiếm 25% lao động của khu vực kinh tế công nghiệp nhưng phần lớn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, sản xuất khá manh mún, nhỏ lẻ, trong khi việc liên kết để tạo ra năng lực cạnh tranh lớn hơn thì chưa thực sự mạnh
mẽ.Các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm may mặc của Việt Nam hiện nay vẫn đang sản xuất theo phương thức gia công đơn giản Theo thống kê của VITAS, tỷ lệ xuất khẩu hàng may mặc theo phương thức gia công CMT vẫn chiếm chủ yếu (khoảng 85%), xuất khẩu theo phương thức FOB chỉ khoảng 13% và chỉ 2% xuất khẩu theo phương thức ODM Các doanh nghiệp Việt Nam xuất hàng theo FOB cũng chỉ chủ yếu ở mức FOB I nên giá trị gia tăng của ngành còn thấp Tỷ lệ xuất khẩu các sản phẩm may mặc theo phương thức FOB, ODM, OBM vẫn thấp do ngành dệt may của Việt Nam không chủ động được nguồn nguyên liệu, khả năng quản lý, huy động vốn nên vẫn chưa khai thác hết các lợi thế để thu lợi nhuận tối đa ở khâu này Đặc biệt, ngành may mặc Việt Nam đang rất yếu ở mảng thiết kế sản phẩm vì thiếu các nhà thiết kế giỏi, khó tiếp cận và thiếu thông tin về nhu cầu khách hàng, xa thị trường tiêu dùng cuối cùng Nếu so sánh mắt xích sản xuất ngành dệt may Việt Nam so với thế giới, có thể thấy trong khi mắt xích sản xuất của ngành dệt may Việt Nam đang ở mức may gia công là chủ yếu thì các nhà sản xuất trên thế giới đang cạnh tranh bằng cách dịch chuyển lên phương thức sản xuất ODM hay OBM nhằm đáp ứng những thay đổi quan trọng trên thị trường
Hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam hiện phụ thuộc vào các nhà buôn nước ngoài Các nhà buôn đóng vai trò rất quan trọng là trung gian trong chuỗi cung ứng hàng dệt may của Việt Nam ra thế giới Các nhà buôn trong khu vực thường từ Hồng Kông, Đài Loan và Hàn Quốc Những doanh nghiệp bán lẻ, đa số thuộc thị trường EU, Nhật và Hoa Kỳ, sở hữu những thương hiệu hàng đầu quốc tế, những siêu thị, cửa hàng bán sỉ và bán lẻ Các doanh nghiệp bán lẻ lớn tin cậy vào các nhà buôn để phát triển mạng lưới cung ứng của họ ở Việt Nam nhằm giảm chi phí giao dịch Các doanh nghiệp đầu tư may mặc nước ngoài thường liên hệ trực tiếp với các nhà buôn tại Hồng Kông, Đài Loan hay Hàn Quốc Do vậy, các doanh nghiệp Việt Nam (đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ) phụ thuộc rất lớn vào các nhà buôn nhỏ trong khu vực Nói cách khác, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam vẫn rất thiếu liên kết với những người tiêu dùng sản phẩm cuối cùng mà chỉ thực hiện các hợp đồng gia công lại cho các nhà sản xuất khu vực Hoạt động marketing và phân phối đang là khâu yếu của ngành dệt may Việt Nam Điều này chủ yếu do chúng ta thực hiện các đơn hàng gia công ở mức CMT và FOB cấp I nên Việt Nam ít có các sản phẩm mang thương hiệu riêng của mình để tiếp cận với các nhà bán lẻ trên toàn cầu Bà Đặng Phương Dung, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), cho rằng: “Vai trò của dệt may Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu gần như không có”.7
7 Bùi Văn Tốt (04/2014) Báo cáo ngành dệt may Công ty chứng khoán FPT.