TỔNG QUAN VỀ THỰC VẬT SINH METHYL EUGENOL PHÂN BỐ TẠI VIỆT NAM VÀ SỰ TƯƠNG TÁC VỚI RUỒI ĐỤC HẠI QUẢ HỌ TEPHRITIDAE Nguyễn Việt Quốc Tóm tắt Dựa trên các tài liệu về thực vật của Việt Nam
Trang 1TỔNG QUAN VỀ THỰC VẬT SINH METHYL EUGENOL PHÂN BỐ TẠI VIỆT NAM VÀ SỰ TƯƠNG TÁC VỚI RUỒI ĐỤC HẠI QUẢ HỌ TEPHRITIDAE
Nguyễn Việt Quốc Tóm tắt
Dựa trên các tài liệu về thực vật của Việt Nam và các tài liệu mô tả về các loài thực vật có chứa Methyl eugenol (ME), bài viết này nhằm tìm kiếm và ước lượng số loài thực vật phân
bố tại Việt Nam sinh methyl eugenol, chất dẫn dụ đối với loài ruồi đục hại quả họ Tephritidae
và sự tương tác của chất này với các loài ruồi đục hại quả Kết quả so sánh các tài liệu cho thấy ở Việt Nam hiện có hơn 31 loài thực vật có chứa ME trong hoa và hơn 66 loài thực vật
có chứa ME trong thân, lá, rễ với các nồng độ khác nhau từ dạng vết cho đến 92,7% Qua các tài liệu thu thập được cũng như khảo sát thực địa nhận thấy có một số lượng lớn loài thực vật
ở Việt Nam thu hút các quần thể ruồi đục hại quả về các bộ phận có chứa ME và giúp tăng khả năng sinh sản của ruồi đục hại quả, tuy nhiên cần có một nghiên cứu thực nghiệm để khảo sát thống kê số lượng thực tế và không gian phân bố của các loài trên vì đa số các loài này được trồng để làm cảnh và làm gia vị Việc kiểm kê số lượng các loài trên ngoài mục đích giúp cho hoạt động trồng trọt diễn ra hợp lý mà còn giúp sử dụng nguồn tài nguyên thực vật chứa ME như là một chất dẫn dụ để phòng trừ ruồi đục hại quả
1 Giới thiệu
Thực vật sản sinh một lượng lớn các chất hoá học, khoảng 10.000 chất, dùng để tự vệ chống lại động vật ăn thực vật và mầm bệnh cũng như hương thơm để dẫn dụ các loài giúp cho quá trình thụ phấn Trong số các chất của nhóm phenolics có phenylpropanoids, là một phức hợp với nhiều chức năng như là thành phần cấu tạo, sinh trưởng, tham gia vào hoạt động sinh hoá sinh sản, sinh lý, những tương tác hoá học- sinh thái với vi khuẩn, động vật (đặc biệt là côn trùng) và các thực vật xung quanh [1] Methyl Eugenol (ME) là một phenylpropanoid thường xuất hiện trong nhiều loài thực vật đặc biệt là thực vật mùi và gia vị, chất này hiện nay đã được tổng hợp và thương mại như là mồi nhử ruồi đực (male lures-parapheromone) ruồi đục hại quả (fruit flies)
Theo Tan và Nishida hiện nay, có khoảng trên 450 loài thực vật thuộc 80 họ của 48
bộ có chứa ME ME này phân bố trong nhiều cơ quan khác nhau của thực vật, sự phân bố này cũng rất thất thường trong cùng một loài và từng giai đoạn của thực vật [1] Ở Việt Nam cũng
có nhiều loài thực vật nằm trong danh mục trên tuy nhiên theo thông tin tìm hiểu thì số lượng, phân bố và các tương tác với loài ruồi đục hại quả chưa được công bố Do vậy, việc tìm kiếm các loài này và xem xét sự tương tác với các loài ruồi đục hại quả là cần thiết để có những giải pháp canh tác hợp lý cũng như sử dụng nguồn tài nguyên ME tự nhiên này
2 Methyl Eugenol
Methyl eugenol (ME) CAS No.93-15-12 là một phenylpropanoid với nhiều tên gọi đồng nghĩa: : 4-allylveratrole; 4-allyl-dimethoxybenzene; eugenyl methyl ether; 1,2-dimethoxy-4-(2-propenyl)benzene; 3,4-dimethoxy-allylbenzene; 3-(3,4-dimethoxyphenyl)prop-l-ene; Omethyleugenol;and methyl eugenol ether ME có nguồn gốc
Trang 2trực tiếp từ eugenol một chất được sản sinh từ phenylalanine cùng với caffeic acid và ferulic acid thông qua chu trình shikimate ME là một phenylpropanoid thường thấy ở nhiều loài thực vật đặc biệt là cây gia vị và cây dược liệu ME tổng hợp được sử dụng rộng rãi trong nhiều trường hợp: chất tạo mùi trong nhiều quy trinh sản xuất thực phẩm, nước uống, xúc xích; nước hoa; tinh dầu trị liệu;Chất dẫn dụ côn trùng ME tổng hợp đã thành công khi đưa vào sử dụng để chống lại ruồi đục hại quả: giám sát; kiểm dịch; ước lượng quần thể tự nhiên; nghiên cứu động học quần thể; tầm soát ruồi đục quả giữa 2 hệ sinh thái; kiểm soát ruồi đục hại trái thông qua kỹ thuật MAT (male annihilation technique) bằng cách bẫy sinh khối [1] Dựa vào phương thức tổng hợp có thể chia mồi nhử ruồi đực làm 2 loại: do con người tổng hợp (CL, trimelure (TML), fluorinated methyl eugenol analogs, raspberry ketone-format (RKF) và từ thực vật (., α-copaene, ME, RK, and zingerone) [2] Hầu như các ME hiện nay dùng để phòng trừ ruồi đục hại quả có nguồn gốc từ tổng hợp hoá học là chính
ME được sản xuất hiện nay bằng cách methyl hoá eugenol Lượng ME sản xuất tại hoa kỳ
1990 là 11,4 tấn Hiện nay, có 22 công ty của Mỹ, 6 công ty của Trung Quốc, 2 của Đức, 1 của Pháp, Ấn Độ, Indonesia, Nhật và Vương quốc Anh [3] Methyleugenol cũng được mô tả như là một chất gây độc gen và gây ung thư Do ngưỡng phơi nhiễm chưa được đánh giá nên chưa có được ngưỡng phơi nhiễm giới hạn trên người Những thử nghiệm trên chuột cho thấy
ở liều 37 mg/kg thể trọng/ ngày gây ra ung thư Do vậy cần hạn chế phơi nhiễm và sử dụng liều thấp hơn 37 mg/kg thể trọng/ ngày [4]
3 Ruồi đục hại quả
Ruồi đục hại quả thuộc họ ruồi Tephritidae là một trong những họ lớn nhất của bộ ruồi Ditepra với khoảng hơn 4300 loài đã được định danh [5] Loài ruồi này có phổ phân bố rộng khắp thế giới từ vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và vùng ôn đới Hiện nay, có khoảng 200 loài ruồi quả là loài gây thiệt hại về kinh tế và phá hoại không chỉ cây ăn trái mà cả nhiều loại rau, quả khác [6] Họ Tephritidae bao gồm các nhóm chính là Anastrepha, Bactrocera, Ceratitis, Dacus, Rhagoletis và Toxotrypana, một số loài là của các nhóm này là côn trùng gây hại chính trên cây ăn trái và rau màu [2]
Mỗi nhóm ruồi đục hại quả có khuynh hướng thích nghi sống ở một số vùng nhất định Do khoảng thích nghi nhiệt độ và cách biệt địa lý giữa các vùng Tuỳ theo điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng mà mỗi nhóm ruồi đục quả có sự phân bố đặc trưng theo các châu lục được thể hiện theo bảng sau [7]:
Bảng 1 phân bố của một số nhóm ruồi đục quả quan trọng
Khu vực Anastrepha sp Bactrocera sp Ceratitis sp Rhagoletis sp.
Trang 3Việt Nam có khoảng 36 loài ruồi đục quả (Diptera: Tephritidae) đã được phát hiện ở Việt Nam từ 2001 – 2012 trong đó giống Bactrocera chiếm số lượng lớn nhất và là nhóm gây hại trên nhiều loại cây trồng nhất Trong 36 loài ruồi đục quả thu thập có 31 loài từ các bẫy có
chứa ME nhân tạo, 2 loài từ bẫy trái và 3 không dùng bẫy [8].
Theo Lê Đức Khánh và cộng sự ở Việt Nam Ruồi đục hại quả là một trong những đối tượng gây hại nguy hiểm nhất đối với cây ăn quả và các loại rau ăn quả, mức độ tổn thất lên đến 100% mùa vụ, gây tổn thất lớn cho người trồng các loại cây như ổi, gioi, hồng, xoài, thanh long, …[9]
Sự gây hại của Ruồi đục quả có thể là trực tiếp do nhiễm vào trong trái hoặc gián tiếp do giảm giá trị của sản phẩm xuất khẩu do các tiêu chuẩn kiểm dịch và lây nhiễm các loài vi sinh gây bệnh Gây hại trực tiếp bắt đầu khi ruồi cái đục vỏ trái và đẻ trứng vào phần thịt trái Trứng được ấp trong phần thịt trái trở thành ấu trùng và ăn phần thịt của trái Trong phần thịt trái, ấu trùng lột xác 2 lần và sau đó đục vỏ trái thoát ra ngoài, chui vào đất Ấu trùng chui vào đất để diễn ra giai đoạn hoá nhộng Con trưởng thành sẽ bò lên khỏi mặt đất và tìm kiếm thức ăn Carbohydrate, protein, các chất khoáng, Vitamin và nước là nhưng chất thiết yếu cho
sự sống còn và cũng cần thiết cho sự thành thục [2]
Mặc dù con đực và con cái đều bị thu hút bởi protein và ammonium có nguồn gốc từ thức
ăn và các sản phẩm lên men, con đực còn bị thu hút bởi pheromones và parapheromones Parapheromone là những hợp chất thường có nguồn gốc từ thực vật và có tác dụng thu hút những con thành thục và do vậy các chất này sử dụng để dẫn dụ con đực gọi bằng tên mồi nhử con đực (male lures) Các parapheromone thông dụng nhất đối với họ Tephritidae là Trimelure (TML), methyl eugenol (ME) và Cuelure (CUE) TML có khả năng thu hút các loài giống Ceratitis trong khi đó ME và CUE có khả năng thu hút những loài của giống Bactrocera Những chất dẫn dụ ruồi đục quả ( bao gồm những sản phẩm lên men và parapheromone) kết hợp với các chất độc đã được sử dụng để quản lý ruồi đục quả từ lâu Ruồi đực trưởng thành bị thu hút bởi các sản phẩm lên men nhằm hấp thu các chất sinh năng lượng để sinh trưởng và thành thục giới tính Tuy nhiên tại sao con đực lại bị thu hút bởi các các hất hoá học có nguồn gốc thực vật đến nay cũng chưa được hiểu rõ ràng Mặc dù các thí nghiệm nuôi con đực bằng parapheromone sẽ kích thích sự cạnh tranh sinh sản
Mỗi nhóm ruồi đục hại quả bị thu hút bởi các loại parapheromones khác nhau như [2]: Bactrocera: Là nhóm có đáp ứng mạnh với các chất dẫn dụ Gần 200 loài đáp ứng với lại CL/RK và 81 loài đối với ME, khoảng 15 loài không bị dẫn dụ bởi CL/RK hay ME Không
có loài nào của Bactrocera vừa đáp ứng với CL/RK vừa với ME;
Dacus: Giống này khoảng 300 loài, một số là những loại gây hại, hơn 40 loài có đáp ứng với CL trong khi đó chỉ có 2 loài đáp ứng với ME;
Ceratitis: α-copaene và tinh dầu từ thiên nhiên, trimedlure (TML) cải tiến đã được dùng như chất dẫn dụ;
Rhagoletis: Chưa tìm được chất dẫn dụ cho các loài giống này;
Trang 4Toxotrypana: Nghiên cứu về parapheromone hoặc kairome để phòng trừ các loài của nhóm này đến nay chưa được công bố;
Anastrepha: Chưa tìm được chất dẫn dụ cho bất kỳ loài nào trong nhóm này
Ruồi đục hại quả cái khi sinh sản có thể giao phối với nhiều ruồi đực khác nhau, ME được cho là chất giúp tăng sự lựa chọn của con cái đối với con đực được nuôi trong môi trường có ME Điều này đã được Todd E.Shelly và công sự chứng minh bằng cách nuôi
những con ruồi đực của loài B dorsarlis trong môi trường có chứa ME trong 1, 2, 3, 4, 5, 6
tuần, sau đó những ruồi này được thả chung với những ruồi đực không được nuôi trong môi trường có ME, kết quả là những ruồi đực được nuôi trong môi trường có ME có xác suất bắt cặp được nhiều hơn với con cái đã giao phối qua lần đầu [10]
4 Thực vật có chứa ME, nồng độ ME, phân bố tại Việt Nam
Theo Tan KH và Nishida R (2012) hiện nay, có khoảng trên 450 loài thực vật thuộc 80 họ của 48 bộ có chứa ME ME này phân bố trong nhiều cơ quan khác nhau của thực vật, sự phân
bố này cũng rất thất thường trong cùng một loài, và từng giai đoạn của thực vật Ở Việt Nam cũng có nhiều loài thực vật nằm trong danh mục trên [1] Các loài thực vật có sinh ME của Việt Nam được xác định bằng phương pháp so sánh đối chiếu giữa danh mục hơn 450 loài thực vật có chứa ME do Tan KH và Nishida công bố với các tài liệu về thực vật của Việt Nam như:
Phạm Hoàng Hộ Cây cỏ Việt Nam, Quyển I,Khuyếtthựcvật, Loãtử, Hoa-cánh-rời đến họ Đậu Nhà xuất bản trẻ,1999 [10]
Phạm Hoàng Hộ Cây cỏ Việt Nam, Quyển II, Từ Eleagnaceae…Apiaceae… Daphniphyllaceae…Fabaceae…Apocynaceae…đến Serophulariaceae (in lần thứ 2) Nhà xuất bản trẻ [12]
Phạm Hoàng Hộ.Cây cỏ Việt Nam, Quyển III, Từ Smilacaceae…Cyperaceae…Poaceae đến Orchidaceae (in lần thứ 2) Nhà xuất bản trẻ [13]
Đỗ Tất Lợi Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam.Nhà xuất bản y học,2004 [14]
Nguyễn Tiến Bân Thực vật chí Việt Nam Tập 1- Họ Na- Annonaceae Juss Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật, 2000 [15]
Vũ Xuân Phương Họ bạc hà-Lamiaceae Lindl (họ moa môi-Labiatae Juss.) Thực vật chí Việt Nam Tập 2, Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật, 2000 [16]
Nguyễn Khắc Khôi Họ có-Cyperaceae Juss Thực vật chí Việt Nam Tập 3 Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật, 2002 [17]
Trần Thị Kim Liên Họ đơn nem-Myrsinaceae R Br Thực vật chí Việt Nam Tập 4 Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật, 2002 [18]
Trang 5Trần Đình Lí Họ Trúc Đào - Apocynaceae Juss Thực vật chí Việt Nam Tập 5 Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật, 2007 [19]
Vũ Xuân Phương Họ cỏ Roi Ngựa - Verbenaceae Jaume Thực vật chí Việt Nam Tập 6 Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật, 2007 [20]
Lê Kim Biên Họ Cúc - Asteraceae Dumort Thực vật chí Việt Nam Tập 7 Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật, 2007 [21]
Nguyễn Thị Đỏ Bộ Hoa Loa Kèn - Liliales Perleb Thực vật chí Việt Nam Tập 8 Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật, 2007 [22]
Dương Đức Huyến Họ Lan - Orchidaceae Juss., Chi Hoàng Thảo - Dendrobium Sw Thực vật chí Việt Nam Tập 9 Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật, 2007 [23]
Kết quả của việc so sánh này đã xác định được 31 loài thực vật có chứa ME ở hoa và 67 loài thực vật có chứa ME ở thân, lá , rễ Lượng ME của các loài trên có hàm lượng từ dạng vết cho đến rất cao 92,7% tinh dầu (EO, essential oil) của cây Giối răng Clausena anisata Trong 31 loài có chứa ME ở hoa có một số loài có khả năng dẫn dụ ruồi đục quả về hoa
đã được các nghiên cứu khác ghi nhận [2] như : Môn nước Colocasia esculenta là loài cây trồng lấy củ phổ biến, ME và eugenol, trong hoa mo và lá bắc Loài Cánh buồm trắng Spathiphyllum cannaefolium có 20% ME trong tinh dầu hoa, đây là ngoại lai, được nhập vào Việt Nam để trồng làm cảnh Loài Táo Zizyphus mauritiana được trồng phổ biến, ME chiếm 0,4%, hoa của loài này cũng dẫn dụ nhiều loài ruồi đục quả Bên cạnh đó có nhiều loài được trồng phổ biến có hàm lượng ME trong hoa cao nhưng chưa có tài liệu nào trong nước thông báo có hay không khả năng dẫn dụ của các loài như: Hương nhu tía Ocimum sanctum 66-74%, Sả dịu Cymbopogon flexuosus 32,6-34,2%, Đước chằng Rhizophora stylosa ME và eugenol chiếm 6,8% và 27,2% EO, Vạn thọ Tagetes erecta 12,3%, Húng quế Ocimum basilicum 3-11% , Đinh hương Syzygium aromaticum (Eugenia caryophyllus) 310-340 ppm Hầu như các loài có chứa ME ở hoa được dùng để trồng làm cảnh hay làm gia vị
Trong 66 loài thực vật chứa ME ở thân, lá, rễ một số loài đã ghi nhận có khả năng dẫn dụ
ruồi đục hại quả từ các nghiên cứu khác như: Cam địa Boesenbergia sp có 17% ME trong dầu bay hơi và là cây dẫn dụ ruồi đục quả phương đông É lớn tròng Hyptis suaveolens là cỏ
dại dẫn dụ ruồi đục quả phương đông có ME chiếm 1,2%EO Xuân tiết bụng Justicia ventricosa loài này dẫn dụ được ruồi đục quả phương đông và chứa 8,0% ME trong tinh dầu
É tía Ocimum sanctum ME và eugenol thay đổi theo giai đoạn sinh trưởng và phát triển, ME
chiếm 78-81% ở EO lá, 72,5%, 75,3%, 83,7% và 65,2% trong tinh dầu của cây, lá, thân và chồi hoa Ngải hùm Proiphys amboinesis Lá xanh có chứa ME, nhưng khi lá chuyển sang nâu, hoặc những phần lá vàng và nâu thì lượng ME này khoảng 0,1 và 0,2-0,3 µg/mg, được
trồng làm cảnh, gốc Úc châu Bàng biển Terminalia catappa ME trong chất bay hơi trong
trái Bên cạnh đó có nhiều loài có hàm lượng ME cao nhưng chưa nhận thấy tài liệu khẳng
định khả năng dẫn dụ như: Giối răng Clausena anisata 92,7%, Hương nhu trắng Ocimum gratissimum Eugenol chiếm 68,8% và ME 13,21% ở EO lá Sả quản Cymbopogon tortilis 55%ME Thanh cao rồng Artermisia dracunculus ME có nồng độ 280 ±95,8ppm trong tinh
dầu của cây trồng, chiếm 35,8% tinh dầu của cây và lá…
Trang 6Bảng 2 Các loài thực vật có chứa ME trong hoa, hàm lượng, phân bố của loài
STT Loài (đồng danh) [tên thông thường] Hàm lượng Methyl eugenol (ME) Phân bố của loài
1 Achillea millefolium [Vạn diệp, Dương
Đàlạt
2 Cananga odorata [cây Công chúa, Ngọc
3 Colocasia esculenta [Môn nước] Hoa có chứa ME và eugenol, trong
hoa mo và lá bắc Được trồng lấy củhay mọc hoang
4 Couroupita guianensis [Cây đầu lân] Dạng vết Được trồng làm cảnh
5 Cuminum cyminum [Cumin] EO hoa chứa 0,08%ME và 0,79%
eugenol
Được trồng
6 Cycas revolute[Thiên tuế uốn, Vạn tuế] Lượng nhỏ ME Được trồng làm cảnh
10 Dracaena fragrant [Phất dụ thơm] 0,015-0,002% Được trồng làm cảnh,
gốc Tây Phi
vị
15 Ocimum basilicum [É, Húng quế, Húng
giổi]
vị
16 Ocimum sanctum (Ocimum tenuiflorum)
[É tía, É đỏ, Hương nhu tía]
hoang
18 Paeonia lactiflora (P.albiflora) [Bạch
19 Pandanus odoratissimus 0,1% ME trong hoa tươi Mọc hoang
Mexico
25 Rhizophora stylosa [Đước chằng] ME và eugenol chiếm 6,8% và
27,2% EO
27 Vachellia farnesiana (Acacia farnesiana)
28 Vicia faba (Faba sativa) [Tầu kê, đậu răng
ngựa]
29 Spathiphyllum cannaefolium [Cánh buồm
trắng]
trồng làm cảnh ( Việt Nam có loài
Spathiphyllum patinii [Bạch phiến]
Trang 7Theo phạm Hoàng Hộ)
30 Syzygium aromaticum (Eugenia
caryophyllus) [Đinh hương] 310-340 ppm Được trồng làm giavị
31 Zizyphus mauritiana [Táo] Dẫn dụ nhiều loài ruồi hại quả, ME
chiếm 0,4%
Được trồng
Bảng 3 Các loài thực vật có chứa ME, hàm lượng, phân bố của loài STT Loài (đồng danh) [tên thông thường] Hàm lượng và cơ quan chứa Phân bố của loài
1 Acorus gramineus [Bồ Bồ nhỏ, Thạch
xương bồ nhỏ] Chứa 0,64% ME trong tinh dầu từrễ Trồng ở Hòn non,gốc Trung Quốc
2 Achillea millefolium [Vạn diệp- Dương
Ky]
Mẫu từ 2 của 14 địa điểm ở Lithuania chứa ME (0,07-0,14%) trong lá
Sapa, Đà Lạt, mọc hoang, vùng núi cao
3 Agastache rugosa[Phú vĩ nhám, Bắc
Thao ] ME trong lá và phát hoa tăng từ28,6 đến 41% sau 17 ngày lưu
trữ,ME chiếm 0,5-1,48% tinh dầu lá
Sapa, Nghệ Tĩnh
4 Ageratum conyzoides [Cỏ cứt heo] ME chiếm 1,8% EO thực vật ,
không bao gồm rễ
Cỏ dại thông thường, mọc khắp nơi đặc biệt nhiều ở
độ cao 900-1000m
5 Alpinia galangal (Languas galang)
[Riềng]
ME chiếm 0,9% EO rễ Được trồng làm gia
vị
6 Alpinia officinarum [Riềng thuốc, Lương
khương, Cao lương khương]
EO Rễ tươi và khô chứa 1 và 3,3%
ME
Được trồng
7 Aloysia tripphylla [Thơm chanh] Lá khô chứa eugenol và ME lần
lượt 0,6-0,6% và 0,3-1,2%
Được trồng
8 Annona glabra [Bình Bát nước] ME có trong chất bay hơi từ trái Trồng hoặc mọc
hoang dựa bờ rạch nơi có nước lợ
9 Artermisia annua [Thanh cao, thảo cao,
chè nội]
2CVs- 1 CVs có ME và eugenol chiếm 0,2 và 0,3% tinh dầu
Cao lạng, Quảng Ninh
10 Artermisia capillaris [Thanh cao chỉ,
Nhải lá kim]
Những chồi sinh trưởng có chứa ME
Trồng làm gia vị, rau
11 Artermisia dracunculus [Thanh cao rồng] ME có nồng độ 280 ±95,8ppm
trong tinh dầu của cây trồng, chiếm 35,8% tinh dầu của cây và lá
Trồng làm gia vị
12 Artermisia scoparia [Ngải cứu chổi] ME chiếm 27,5% tinh dầu của thân
và lá
Tìm thấy ở phía Bắc Việt Nam
13 Artermisia subdigitata [Thanh cao tay] ME chứa ở lá chiếm 9,4%, 11,2%
eugenol và 9,0% camphor
14 Artermisia vulgaris [Ngải cứu, thuốc
cứu]
ME chứa trong cây, chồi hoa và giai đoạn ra hoa lần lượt là 5,4- 6,8
và 1%
Trồng phổ biến, làm thuốc
15 Boesenbergia sp (species unknown)
[Cam địa]
17% ME trong dầu bay hơi và là cây dẫn dụ ruồi đục quả phương
(Boesenbergia
Trang 8đông rotunda)
16 Bupleurum chinensis (Bupleurum
falcatum) [Bắc Sài Hồ].
Trong tinh dầu của rễ khô chứa 0,1% ME và 0,9% eugenol
Trồng để ăn ở Trung Quốc, Nhật
17 Camellia sinensis [Trà] ME chiếm 0,053-0,814% EO Được trồng, lấy lá
(C.glaucescens) [Rè hương, Rè mốc]
ME chiếm 45% EO và trong trái chiếm 0,6%EO
Nghệ An, Quảng Trị
19 Cinnamomum loureiri [Quế thanh, Quế
quỳ, Nhục quế]
ME đã được xác định từ rễ, vỏ, lõi Trường Sơn, trồng
từ Thanh hoá vào nam
20 Citrus aurantium var myrtifolia [Quýt
tàu]
Được trồng
21 Clausena anisata [Giối răng] 92,7% ME trong EO lá
22 Clausena excavate [Dâu gia xoan, Giối
lõm]
12,95 % ME trong EO lá Mọc từ bình đến
trung nguyên, Nha Trang, Đà Nẵng
23 Clausena indica [Dương tùng, Cù Khỉ] Vò trái chiếm 0,43%ME Mọc ở núi đá vôi
24 Cuminum cyminum [Cumin] Tinh dầu từ rễ chứa 1,52% ME,
tinh dầu lá và thân chứa 1,22%
ME
Gốc địa trung Hải, trồng nhiều làm gia vị
25 Curcuma angustifolia (Maranta
arundinaceae) [Nghệ lá hẹp]
EO Rễ có 10,5%ME
27 Cymbopogon nardus [Sả] ME 4,1% là thành phần chính của
Mê Thuột
29 Daucus carota [cà rốt] Tinh dầu của cây chứa 1,23% ME,
trong lá chứa 0,2% ME có vai trò như chất kháng khuẩn với vai trò của (E) –methyl-isoeugenol;
subsp.sativus var Flakker chứa từ 1,2-2,1% ME trong tinh dầu lá, trong tinh dầu trái subsp maxiumus chứa 1,97% và 37,2%
ME và isoeugenol
Được trồng nhiều nơi
30 Diospyros malabarica (Diospyros
embryopteris) [Thị đầu heo, Cườm thị]
ME chiếm 1,3%, một vài phenylpropanoids chiếm 36,7%
Mọc hoang
31 Elattaria cadamomum [Tiểu đậu khấu] EO cây chứa 0,1% ME Được trồng
32 Foeniculum vulgare [tiểu hồi] ME và methyl isoeugenol chiếm
0,07% và 0,12% tinh dầu lá Ơ trái 0,18% và 0,52% ME từ trái và lá 0,9%
Trồng làm gia vị
33 Illicium simonsii Tinh dầu trái chứa 8,9% ME và
1,8% elemicin
Núi Bạch Mã, Bà
Nà
34 Illicium verum [đại hồi thật, Mác-hồi] Tinh dầu trái chứa 90,11%
trans-anethole và 0,43% ME
Trồng ở Cao Bằng – Lạng Sơn, không mọc hoang
35 Hyptis suaveolens [É lớn tròng] Cỏ dại dẫn dụ ruồi đục quả Mọc hoang
Trang 9phương đông có ME chiếm 1,2%EO
36 Laurus nobolis [Bay; Bay laurel; Laurel
tree] ME được cho chiếm 8,1%. Trồng làm gia vị,gốc Đông Âu
37 Limnophila geoffrayi (Limnophila
racemosa) [Om Geoffray]
0,33% của EO thân và lá Mọc dựa rạch,
ruộng , nơi đất ẩm, Đồng Nai, Sài Gòn
38 Justicia ventricosa [xuân tiết bụng] Loài này dẫn dụ được ruồi đục quả
phương đông và chứa 8,0% ME trong tinh dầu
Mọc ở rừng Lạng Sơn, Hà Nam Ninh, Quảng trị, Đồng Xoài
39 Mangifera indica [Xoài tượng] ME chứa trong tinh dầu lá, tinh
dầu của 10 trái từ 20 mẫu trái được phân tích
Được trồng lấy trái
40 Magnolia demudata (M.heptapeta) [Lily
tree, Yulan magnolia, tulip tree]
EO Chồi khô chứa 0,01-0,1% ME Được trồng làm
cảnh, gốc Trung Quốc
41 Magnolia lilifora [Lily nagnolia] EO chồi khô chứa 0,22%ME Được trồng làm
cảnh (Magnolia quinquebeta)
42 Michelia alba [Sứ Champaca, Ngọc lan
trắng] EO lá chứa 0,22% ME và 0,1%estragole Được trồng làmcảnh, đồng bằng
nam bộ
43 Moschosma (Ocimum) polystachya [ ME chiếm 39,3% Mọc ở đất hoang,
Huế, Cần Thơ
44 Mosla scabra 45 chất bay hơi trong tinh dầu ME
là một trong 5 chất có thành phần chính
Mọc vùng cao 1500m, Sapa
45 Murraya exotica [Nguyệt quới] 0,1% ME của EO lá Trồng làm cảnh
46 Musa acuminate [Chuối hoang nhọn] ME phân bố ở những trái chuối
chín, ME-glycoside chiếm 0,66-1,07%
Thường moc hoang, hoặc trồng do lai tạo loài này với các loài chuối khác
47 Myristica fragrans [Đậu khấu] ME chiếm 0.1-17% EO hạt, và
tăng 7,8-15% khi rụng và lưu trữ
48 giờ
Được trồng làm hương liệu, thuốc
48 Ocimum basillicum [É, Húng quế, Húng
giổi]
ME (0,9-4,2%) EO theo Ranriamiharisoa, 1986 24,7%
theo Brophy và Jogia 1986
Trồng phổ biến
49 Ocimum gratissimum [É lớn lá, Hương
nhu trắng]
Eugenol chiếm 68,8% và ME 13,21% ở EO lá EO từ Lá và hoa chứa 1,7% ME, 1 trong 3 loại của Brasil có ME lên đến 46,8%
Được trồng
50 Ocimum sanctum (O ternuiflorum) [É
tía, É đỏ, É rừng, Hương nhu tía]
ME và eugenol thay đổi theo giai đoạn sinh trưởng và phát triển ME chiếm 78-81% ở EO lá 72,5%, 75,3%, 83,7% và 65,2% trong tinh dầu của cây, lá, thân và chồi hoa
Được trồng
51 Orthosiphon stamineus [Râu mèo] ME chiếm 3% và eugenol 8,3% Được trồng làm
Trang 10trong lá khô thuốc chữa bệnh
52 Persea americana [Bơ] EO Lá chứa 78,12% estragole và
3,37% ME
Được trồng
53 Petroselinum crispum (Apium
petroselinum)
ME và eugenol từ trái và lá chiếm 3,8% và 0,7% tinh dầu
Trồng làm gia vị
54 Piper nigrum [Hồ tiêu] Quả mọng chứa 0,92% ME Được trồng làm gia
vị
55 Phyllanthus emblica (Emblica officinalis)
[Chùm ruột núi]
Zhao, 2007 ME chiếm 1,25%EO, Liu 2009 chiếm 3,34%
Mọc ở rừng dầy
56 Populus nigra ME trong chồi tươi và khô là 0,3
57 Proiphys amboinesis (Eurycles
amboinensis) [Ngải hùm] Lá xanh có chứa ME, nhưng khi láchuyển sang nâu, hoặc những phần
lá vàng và nâu thì lượng ME này khoảng 0,1 và 0,2-0,3 µg/mg
Trồng làm cảnh, gốc
Úc châu
núi cao, Đà Lạt
60 Rheum palmatum [Đại hoàng chưởng
diệp]
Trung Quốc
61 Rhododendron simii [đỗ Quy ên] ME chiếm 1% trong lá, không xác
định ME trong hoa
Bạch Mã, Quảng Trị, Kontum
62 Rubia cordifolia [Ruột gà tím, Thiên căn] 1,2% EO rễ Mọc ở các trảng,
vùng núi cao, Sapa
63 Terminalia catappa [Bàng biển] Chất bay hơi trong trái chứa 31±1
và 6±2% khi sử dụng 2 phương pháp SPME và Porapak Q
Trồng, dựa biển
64 Thuja orientalis (Biota orientalis) [Trắc
bá diệp]
ME chiếm 2,1 và 1,3% tinh dầu của rễ và thân
Trồng làm cảnh, ít
có hoa ở khí hậu nước ta
65 Scutellaria barbata [Thuẫn râu, Hoàng
cầm rau]
ME chiếm 5,6% thân và lá MườngThôn, Hoà
Bình
66 Zingiber officinale [Gừng] 0,5% trong EO rễ Được trồng lấy căn
hành làm gia vị, mứt
5 Sự tương tác giữa thực vật có chứa ME ở Việt Nam và ruồi đục hại quả
Nghiên cứu khả năng dẫn dụ ruồi đục hại quả của hoa loài khoai môn nước Colocasia
esculenta đã được Cục nông nghiệp của Thái Lan thực hiện vào năm 1985, kết quả của thí
nghiệm chỉ ra khả năng dẫn dụ cao và chất dẫn dụ được chứa trong mo hoa và lá bắc [24]
Tuy nhiên, loài này được trồng khá phổ biến ở Việt Nam theo Mộng Hùng, 1966 Colocasia
esculenta đã được trồng quanh năm, thích nghi với vùng đất ẩm ướt và được sử dụng như
một loại thực phẩm và là thức ăn chăn nuôi [25]
Trong mo hoa của Spathiphyllum cannaefolium (Hình 1), loài dùng để trồng cành rất phổ
biến tại Việt Nam, đã xác định được 4 chất mới có khả năng dẫn dụ ruồi đục hại quả
Bactrocera carambolae là dimethoxycinnamyl alcohol, trans-3,4-dimethoxycinnamyl
acetate, p-methoxybenzyl alcohol và 3,4-dimethoxybenzyl alcohol, cùng với các chất dẫn dụ