Vì các grandes écoles có những chương trình đào tạo trong nhiều lãnh vực khoa học ứng dụng và công nghệ nên bằng cấp do trường này cấp có tiêu chuẩn cao hơn một số licence ở Pháp và sinh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP &
PHÁT TRIỂN
TS Hồ Cao Việt Khoa Kinh tế
1 Vài nét về các hệ thống giáo dục đại học trên thế giới
1.1 Hệ thống giáo dục đại học ở Pháp & Đức
Cả hai quốc gia Pháp và Đức đều có hệ thống giáo dục đại học dựa trên nền tảng hành chánh của cơ quan nhà nước Việc nhập học của sinh viên cũng tương đồng ở 2
quốc gia này Ở Pháp, học sinh phải trải qua một đợt thi gọi là baccalauréat (tú tài) sau
năm cuối bậc học phổ thông trung học Tất cả học sinh Pháp sau khi đạt điểm trong kỳ thi này đều được bước vào dự bị cho học năm thứ nhất đại học Sau khi thành công một kỳ thi khắt khe, thí sinh mới chính thức bước vào những trường đại học khác nhau
và tiếp tục học từ 3-4 năm để tốt nghiệp bậc đại học, ở Pháp gọi là licence
Tuy nhiên, có sự khác biệt cơ bản giữa hệ thống giáo dục Pháp & Đức Hệ thống
giáo dục gọi là académies (hàn lâm) ở các quận của Pháp được trực tiếp lãnh đạo bởi
Hiệu trưởng, người được chỉ định hoặc tiến cử bởi chính phủ Chương trình học được
thống nhất trong toàn quốc nên ít tạo ra sự khác biệt giữa trường này với trường khác.
Vì thế, rất nhiều sinh viên thích học tại thủ đô Paris, vì có điều kiện lưu trú thuận lợi cũng như giao lưu văn hóa Sự khác biệt đang tồn tại ở các thể chế giáo dục đại học Pháp được biết đến là grandes écoles (trường đào tạo nghề), ở đây có thể đào tạo kỹ thuật và dạy nghề chất lượng cao Hầu hết các trường này không liên kết với các
trường đại học mặc dù các trường này đào tạo sinh viên rất tốt thông qua các kỳ thi
đầu vào khá cạnh tranh Vì các grandes écoles có những chương trình đào tạo trong
nhiều lãnh vực khoa học ứng dụng và công nghệ nên bằng cấp do trường này cấp có
tiêu chuẩn cao hơn một số licence ở Pháp và sinh viên luôn có được việc làm tốt,
lương bổng cao, được xã hội trọng dụng
Ở Đức, một quốc gia có chương trình đào tạo các ngành cơ bản rất mạnh, các đại
học vùng ở các bang đều tự chủ chương trình đào tạo dưới sự hướng dẫn bởi hiệu trưởng được bình chọn Sinh viên Đức có thể chuyển đổi nhiều trường đại học tùy theo sở thích và lợi thế của mỗi trường Trong thực tế, sinh viên có thể học ở 2, 3 hoặc thậm chí đến 4 trường đại học khác nhau ở bậc cử nhân và giáo sư đại học có thể dạy
ở 4 hoặc 5 trường đại học Điều đó cho thấy sự tự do về học thuật, chương trình đào
tạo và việc đánh giá điểm so với ở Pháp
Hệ thống đào tạo đại học của các quốc gia có ảnh hưởng lẫn nhau Hệ thống đại học Pháp được truyền bá qua các quốc gia vùng Bắc Phi và Tây Phi, Caribbean, và Viễn
Trang 2Đông từ thời kỳ thực dân Pháp Năm 1870, Nhật Bản cải cách hệ thống giáo dục đại học theo mô hình của Pháp Các trường grandes écoles được sao chép nguyên mô hình này cho các trường kỹ thuật ở Nhật Bản Người Đức có tầm ảnh hưởng về những
khái niệm triết học thông qua vai trò của các trường đại học Họ cũng nhấn mạnh tầm
quan trọng của những Viện nghiên cứu (Research Institutes) và tạo ra một cảm nhận như các biểu tượng tâm hồn dân tộc Trình độ tiến sĩ, hay còn gọi là Ph.D được phát minh ra ở Đức và ngày càng phổ biến trong hệ thống giáo dục toàn thế giới Theo báo
cáo của DAAD (Bộ Giáo dục & Nghiên cứu Liên bang Đức) năm 2017, ở quốc gia này nghiên cứu rất phát triển và hỗ trợ cho đào tạo đại học Đến năm 2013 có 605 ngàn nhân viên nghiên cứu và trong số đó 361 ngàn người là nghiên cứu viên R&D, tổng kinh phí chi cho R&D năm 2013 là 80 tỷ Euro (bằng gần ½ GDP của Việt Nam)1
1.2 Hệ thống giáo dục đại học ở Anh Quốc
Sự tự chủ của các cơ sở giáo dục bậc cao được công nhận là khá nổi bật ở Anh Các
trường đại học được hưởng quyền tự chủ gần như hoàn toàn từ chính quyền địa
phương hoặc quốc gia trong việc quản lý và xác định chương trình học, mặc dù các
trường học nhận được gần như toàn bộ nguồn tài trợ từ nhà nước Các yêu cầu tuyển
sinh cho các trường đại học ở Anh khá phức tạp Học sinh phải có Chứng chỉ Giáo dục Tổng quát (tương ứng với chương trình Baccalauréat của Pháp) qua kỳ kiểm tra cho nhiều môn học và phải nhận được điểm đậu
Khi sinh viên vượt qua các chứng chỉ "cấp độ cao cấp", thay vì chỉ nhận chứng chỉ trung học phổ thông (ở "trình độ thông thường"), thì cơ hội tốt hơn khi được chọn trường đại học Bậc tú tài kéo dài đến 13 năm và học sinh trải qua kỳ thi Tú tài quốc tế (International Bachaleaureate)
Ở Anh có một Ban tuyển sinh chuyên trách để hướng dẫn các thí sinh nhập học có thể lựa chọn các trường đại học theo thứ tự ưu tiên Sinh viên Anh hoàn thành bậc đại học chỉ trong 03 năm chứ không phải 04 năm Các chương trình học thuật của Anh có tính chuyên môn hóa cao hơn các nước châu Âu khác Hầu hết các sinh viên đại học đều theo học một chương trình "danh dự" (có bằng cấp danh dự) cho một hoặc nhiều nhất là 02 môn học, trong khi số ít sinh viên còn lại tham dự các khóa học "pass" bao gồm nhiều môn học khác nhau Mô hình giáo dục đại học của Vương quốc Anh đã được sao chép ở các mức độ khác nhau ở Canada, Úc, Ấn Độ, Nam Phi, New Zealand
và các vùng thuộc địa cũ của Anh tại châu Phi, Đông Nam Á và Thái Bình Dương
1 Federal Ministry of Education & Research, 2017 The German research landscape: Who does research in Germany? Page 8.
Trang 31.3 Hệ thống giáo dục đại học ở Hoa Kỳ
Hệ thống giáo dục đại học ở Hoa Kỳ khác ở Châu Âu một số điểm Ở Hoa Kỳ rất nhiều "trường trung học cơ sở” (junior colleges) và "trường cao đẳng cộng đồng” (community colleges) dạy 02 năm nghiên cứu đại học, ngược lại với các trường đại học và cao đẳng truyền thống, nơi đa số học sinh hoàn thành 04 năm học để lấy bằng
cử nhân và phụ thuộc vào nguồn tài chính của chính phủ Các trường đại học và cao đẳng tư nhân phụ thuộc phần lớn vào nguồn học phí của sinh viên đóng Các chính phủ tiểu bang hình thành quỹ tài trợ những cá nhân muốn học đại học
Trong hệ thống giáo dục của Hoa Kỳ, văn bằng cử nhân bốn năm hoặc bằng cử nhân không qua đợt thi cuối cùng (final exam) mà là dựa vào sự tích lũy các tín chỉ, hoặc số giờ học trên lớp Khi hoàn thành đủ một số học phần với mức điểm đạt thì sinh viên được cấp bằng tốt nghiệp cử nhân Hai năm đầu sinh viên học các học phần quy định theo từng lĩnh vực và số môn "tự chọn".Trong năm thứ ba và thứ tư, sinh viên học chuyên về một hoặc hai lĩnh vực
Một điểm đặc trưng của nền giáo dục Hoa Kỳ là xuất phát từ mô hình của Đức, nhấn mạnh vào bài giảng và kiểm tra Ở cả hai quốc gia này, sinh viên được đánh giá theo mức độ hoàn thành các học phần, các bài luận là chỉ tiêu rất quan trọng Mô hình giáo dục đại học của Hoa Kỳ đã được Philippines vận dụng và ảnh hưởng các hệ thống giáo dục Nhật Bản và Đài Loan sau Chiến tranh thế giới thứ II
1.4 Hệ thống giáo dục đại học ở Nga
Giáo dục đại học ở Nga có đặc điểm nổi bật là dưới sự quản lý nhà nước trực tiếp
và cho đến năm 1990-1991 về cơ bản là do Đảng Cộng sản kiểm soát Các trường học bậc cao hơn được chia thành các trường đại học, ngành khoa học nhân văn và khoa học thuần túy được đưa vào chương trình giảng dạy Viện nghiên cứu, cũng tham gia giảng dạy các lĩnh vực như: luật, y học, và nông nghiệp và các viện kỹ thuật đa ngành, dạy những chương trình với nền tảng khoa học rộng và sâu hơn Một khác biệt của hệ thống giáo dục Nga là mở rộng rất nhiều mạng lưới giáo dục bằng cách cung cấp một loạt các khóa học dự bị Các khóa học này được bổ túc thông qua các chương trình phát thanh và truyền hình và bởi các trung tâm nghiên cứu khu vực Nhiều sinh viên có thể học bán thời gian với ngành đã chọn và vừa đang làm việc toàn thời gian hoặc bán thời gian Học sinh được nhận vào các cơ sở giáo dục bậc cao dựa trên các kỳ thi cạnh tranh Thời gian học cho một ngành bậc đại học khoảng 4-6 năm, trung bình là 5 năm Chương trình giảng dạy bao gồm các môn bắt buộc, thay thế và tùy chọn Các ứng cử viên cho một ngành phải thi trong hai hoặc ba môn học cơ bản liên quan đến chuyên
Trang 4ngành Sau khi hoàn tất chương trình học, tất cả sinh viên đều nhận được bằng tốt nghiệp, những sinh viên có kết quả tốt nhất sẽ được trao giải "xuất sắc"
2 Giáo dục đại học Việt Nam đang theo con đường nào?
Hệ thống giáo dục đại học của Việt Nam đã bắt đầu thể hiện những bất cập từ sau thập niên 80, sau ngày thống nhất đất nước, do 2 hệ thống giáo dục khác biệt nhau của miền Bắc (theo hệ đào tạo 10 năm) & miền Nam (theo hệ đào tạo của Mỹ & Phương Tây) ở bậc phổ thông trung học (tú tài) Các nhà quản lý ngành giáo dục lúc bấy giờ khá lúng túng không biết nên theo con đường nào, và sau đó cũng thống nhất sẽ đào tạo 12 năm cho bậc trung học (tốt nghiệp tú tài), trải qua một kỳ thi tuyển sinh đại học, nếu đạt điểm số ấn định, học sinh sẽ trở thành sinh viên đại học cho hệ đào tạo cử nhân (4 năm), kỹ sư (4-5 năm), bác sĩ & nha sĩ (6 năm), dược sĩ (5 năm)
Chương trình đào tạo mất cân đối thời lượng giữa các môn học lý thuyết và thực hành, thời lượng các môn học liên quan đến thể dục, thể chất, chính trị, giáo dục công dân chiếm nhiều thời gian (30%) dẫn đến việc sinh viên bị ép phải học, học không ứng dụng vào thực tiễn Hầu như các chương trình đào tạo đều dành 1/3 thời lượng, khoảng gần 02 học kỳ để phân bổ cho các môn học không liên quan đến chuyên ngành mà sinh viên chọn Kết quả là thời lượng đào tạo niên chế 4-5 năm, nhưng thực chất sinh viên chỉ thực học 2-3 năm các môn học chuyên môn cho ngành đã chọn Đây là một sự lãng phí thời gian và tiền bạc của xã hội mà các nhà giáo dục Việt Nam nên đánh giá và nhìn nhận lại
Trong một thập niên gần đây số lượng sinh viên Việt Nam du học ở các nước phát triển tăng không ngừng (giai đoạn 2006-2012, lượng du học sinh ở Úc tăng 19,6%/năm và 24,1% ở Hoa Kỳ) Năm 2015, Việt Nam đứng đầu Châu Á có sinh viên học tại Hoa Kỳ (18.722 sinh viên, tăng 12.9% trong 2014-2015) Trong khi đó, năng lực giáo dục của Việt Nam tính đến nay có 234 trường đại học và 185 trường cao đẳng với lượng phòng học đủ cho 600 ngàn sinh viên trong tổng số 1,8 triệu ứng viên thi vào đại học cao đẳng (chiếm khoảng 30% nhu cầu) Chính vì thế, nhiều trường đại học thuê các cơ sở đào tạo một cách tạm bợ, thiếu thốn cơ sở & học cụ cần thiết, thiếu tiện nghi cho người học, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đào tạo Bộ Giáo dục và Đào tạo cấp giấy phép mở trường tràn lan, hầu như 40/63 tỉnh thành có trường đại học (chiếm 63%), có những tỉnh có đến 3 trường đại học như Bình Dương (Nguyễn Văn Nhã & Vũ Ngọc Tú, 2015) “Loạn trường” đại học nên chất lượng đào tạo không thể đảm bảo được và sự cam kết của nhà trường khi tuyển sinh với phụ huynh và sinh viên
bị xem thường
Ba vấn đề ưu tiên của chính phủ trong thập niên tới cho ngành giáo dục đó là: (a) cơ
sở hạ tầng, (b) cải cách thể chế giáo dục và (c) phát triển nguồn nhân lực Cải tiến hệ
Trang 5thống giáo dục trong nước là chính sách ưu tiên hàng đầu của chiến lược phát triển đất nước với những mục tiêu đầy tham vọng như: tăng hàng năm 10% lượng sinh viên đăng ký nhập học, phát triển hệ thống đào tạo đại học trong nước có chất lượng cao ngang bằng với thế giới và khu vực Biện pháp chủ lực là tăng phân bổ ngân sách cho đào tạo, tự do phát triển đại học tư (ngoài công lập), khuyến khích nước ngoài tham gia phát triển dịch vụ đào tạo nghề và đại học Tuy nhiên, theo quan sát của nhiều chuyên gia thì tiến trình phát triển hệ thống đào tạo đại học diễn ra rất chậm và tụt hậu
so với nhu cầu của xã hội (Vietnam-Education and Training
http://educationusa.state.gov/)
Với gần 94 triệu dân, tăng trưởng GDP bình quân 6,7%/năm trong hơn 3 thập niên qua, trên 50% dân số có độ tuổi dưới 30, đây là thị trường tiềm năng lớn cho bất kỳ một nhà đầu tư giáo dục nào Hội nhập với thế giới đòi hỏi nhu cầu lao động có trình
độ cao, giáo dục đại học phải phát triển theo để cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực có
kỹ năng, trình độ tương thích với phát triển và nhận được khoản thu nhập cao
Theo khảo sát của chính phủ Việt Nam, World Health Organization, và UNICEF, 90% sinh viên tốt nghiệp phổ thông muốn đăng ký vào trường đại học Trong khi đó,
số lượng sinh viên tăng gấp đôi từ những năm 90, lượng giảng viên hầu như không thay đổi Một số lượng lớn sinh viên ra trường không tìm được việc làm đúng ngành nghề đã học và phải đào tạo thêm (học văn bằng 2) Chính vì thế, nhiều sinh viên có điều kiện đi du học nước ngoài ngày càng tăng (xem phụ lục)
Số liệu thống kê sau đây cho thấy việc phân bổ lượng sinh viên tốt nghiệp trong niên khóa 2014-2015 như sau: 66,5% tốt nghiệp đại học, 15,7% tốt nghiệp bậc cao hơn đại học, 8,4% tốt nghiệp đào tạo nghề
Theo báo cáo của World Bank sau 20 năm đổi mới, giáo dục đại học của Việt Nam
đã bước sang một trang mới, từ 162 ngàn sinh viên học ở 110 cơ sở đào tạo, tăng lên 1,3 triệu sinh viên ở 230 cơ sở đào tạo đưa nền giáo dục hướng ra nhu cầu của xã hội đáp ứng nguồn nhân lực cho phát triển đất nước Chuyển dịch từ hệ thống đào tạo rất hạn hẹp sang đào tạo rộng rãi và giáo dục cho toàn dân Cơ sở đào tạo mang tính đa ngành và tập trung nhiều trường đại học lớn ở các tỉnh thành phố lớn Hệ thống các Viện nghiên cứu cũng góp phần nhỏ cho các hoạt động đào tạo ở trường Đại học và nhất là hệ thống giáo dục được nguồn ngân sách tư nhân tham gia, cho phép đại học công lập thu học phí và cân đối ngân sách dựa trên nguồn thu này bên cạnh nguồn ngân sách giáo dục ít ỏi do nhà nước cấp hàng năm Đào tạo của nhiều trường theo định hướng ứng dụng, R&D nhằm tạo ra nguồn nhân lực có trình độ và kỹ năng lành nghề, mở cơ hội cho tất cả những sinh viên giỏi và xuất sắc Sản phẩm đầu ra dựa trên nhu cầu xã hội (doanh nghiệp, tổ chức sử dụng lao động) nên hệ thống giáo dục đại
Trang 6học Việt Nam ngày càng đa dạng về bằng cấp & trình độ, lãnh vực đào tạo, phương thức đào tạo, phối hợp công tư trong hệ thống đào tạo, kết hợp hệ thống đào tạo theo thứ bậc với đào tạo những con người ưu tú (tiered with elite), cộng tác chặc chẽ hơn giữa trường đại học và doanh nghiệp
Nguồn: World Bank (2008) Vietnam: Higher Education and Skills for Growth Human Development Department East Asia and Pacific Region.
Mô hình cải cách giáo dục đại học ở Việt Nam được hình thành từ năm 2006 với tầm nhìn 2020 và trải qua 3 bước căn bản:
(a) Phát triển một cách toàn diện tầm nhìn cho nền giáo dục đại học trên cơ sở xác định đầu ra và kết quả chủ yếu của toàn hệ thống có khả năng thực thi hiệu quả cao mà hiện tại Việt Nam đang cần;
(b) Xác định được môi trường thuận lợi cho tầm nhìn đó và những khó khăn chính mà Việt Nam đang phải đối mặt;
(c) Đề xuất một quy trình các bước đi cụ thể để tiến hành chuyển đổi sang một hệ thống mới có hiệu quả cao
Chuẩn đầu ra
R & D Kỹ năng cao Cơ hội cho sinh viên
xuất sắc
Nhu cầu đa dạng hóa hệ thống giáo dục đại học
Đa dạng
hình thức
bằng cấp
Đa dạng lãnh vực đào tạo
Đa dạng phương pháp giảng dạy
2 hệ thống công – tư cùng tồn tại
Hệ thống đào tạo thứ bậc &
ưu tú
Hợp tác công nghiệp-giáo dục
Cần thiết một nền tảng tài chính & chính sách để đạt
được đầu ra như kỳ vọng
thay đổi vai trò của giáo dục công và tư, đồng thời có một tiến trình cải cách giáo dục được hoạch
định một cách bài bản
Sản phẩm
Trang 73 Đại học Văn Hiến sẽ vận dụng mô hình giáo dục đại học nào?
Trong bối cảnh nền giáo dục Việt Nam đang bị “khủng hoảng” về 4 mặt trụ cột: (a)
về Triết lý giáo dục, (b) về Phương hướng cho một nền giáo dục đại học hiện đại, (c)
về Nguồn nhân lực giáo dục & (d) về Cơ sở hạ tầng giáo dục Nhiều trường đại học ở Việt Nam mở cửa không phải vì một Sứ mệnh cao cả mà đơn thuần là một “lò” đào tạo nhằm hướng đến lợi nhuận (ở mức từ cao đến khá cao, ít nhất suất lợi nhuận từ 20-50% sau khi khấu trừ các khoản chi phí2) Với một môi trường cạnh tranh “không lành mạnh” trong hệ thống giáo dục Việt Nam, với các cơ chế quản lý rối rắm và ít được sự giám sát chặt chẽ của các tổ chức độc lập & tổ chức dân sự Một số trường đại học còn đang loanh quanh trong tình trạng “nước đục thả câu” để câu khách là những học sinh, phụ huynh có xu hướng cho con em mình học chủ yếu để lấy tấm bằng đại học Những câu hỏi đặt ra cho mỗi tân sinh viên, gia đình và xã hội là: việc làm sẽ giải quyết như thế nào, trình độ và kỹ năng có phù hợp với nhu cầu của xã hội không, hiệu quả công việc ra sao, cống hiến cho xã hội thế nào (?)
“Xã hội hóa giáo dục” là một xu hướng của các nước đang phát triển, một mặt nhanh chóng mang lại một số lượng lớn nguồn cung giáo dục cho đại đa số người dân,
dễ dàng tiếp cận hơn cho nhiều đối tượng trong xã hội, huy động nguồn lực từ tư nhân
và nhất là giảm gánh nặng chi ngân sách cho chính phủ Nhưng mặt trái đó là nhiều tổ chức được “xã hội hóa” nhưng lại “lợi nhuận hóa” trong một ngành, một lãnh vực rất đặc thù đó là Giáo dục đại học (và lãnh vực y tế) Chất lượng giáo dục đại học giảm và
bị bóp méo do yếu tố lợi nhuận chi phối Khái niệm “giáo dục phi lợi nhuận” ở Việt Nam dường như khá xa vời với hơn hàng trăm trường đại học trong cả nước kể cả các trường tư thục, dân lập lẫn trường công lập Do đó, ở các quốc gia phát triển, để có hệ thống giáo dục lành mạnh, chính phủ phải dành một khoản lớn ngân sách lên đến vài chục phần trăm GDP để chi cho hệ thống giáo dục, trong đó có giáo dục đại học, là bậc giáo dục để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và tay nghề cao, giúp cho sự phồn thịnh của quốc gia đó và cho nhân loại
Trong bối cảnh đó, để thực thi chiến lược giáo dục của Trường Đại học Văn Hiến, ít nhất là hướng đến năm 2030: được xếp hạng trong danh sách các trường đại học tiên tiến của Việt Nam & trong khu vực ASEAN, cần phải từng bước xem xét & định vị lại
vị trí của trường dựa trên 4 trụ cột chính của Giáo dục đại học đã đề cập trên:
- Triết lý giáo dục đại học: “Thành Nhân trước khi thành Danh” là một câu slogan
của Trường Đại học Văn Hiến có nội dung vừa rộng và vừa sâu sắc, vừa khó hiểu cho
cả đội ngũ giảng viên lẫn các em sinh viên, vừa hàm ý “triết lý giáo dục” của Trường lẫn vừa định vị lại “hướng đào tạo” một sinh viên của trường Trong việc chuẩn y chất Theo ước tính của tác giả.
Trang 8lượng đào tạo của bất cứ một trường nào, “triết lý giáo dục” và “sứ mệnh” của trường luôn là yếu tố hàng đầu, là “kim chỉ nam” cho chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên & tổ chức phòng ban nghiệp vụ, cơ sở hạ tầng (thư viện, nhà sách, phòng lab…) Dạy một sinh viên về kiến thức dễ dàng hơn nhiều khi dạy một sinh viên thành Nhân (thành một người có: (1) Trách nhiệm với bản thân; (2) Trách nhiệm gia đình, (3) Trách nhiệm với cộng đồng & xã hội, (4) Trách nhiệm với môi trường thiên nhiên) Do
đó, slogan này có vượt quá Tầm của Đại học Văn Hiến hay không (?) và nếu muốn thực thi trọn vẹn sứ mệnh này, giữ đúng cam kết với gia đình và phụ huynh sinh viên, với xã hội thì Đại học Văn Hiến cần phải chuẩn bị những gì (?) Đây là một câu hỏi không dễ trả lời nếu thiếu nguồn lực con người và thiếu nguồn tài lực đủ mạnh Vì trong thực tế ở Việt Nam, rất nhiều trường công lập với đội ngũ giảng viên hùng hậu, với cơ sở hạ tầng khá tốt dưới sự trợ cấp của nhà nước, nhưng hiện nay đang đứng trước sự cạnh tranh và thiếu lượng sinh viên cần thiết để sử dụng hết nguồn lực nêu trên
- Phương hướng cho đào tạo giáo dục đại học: Chiến lược của trường Đại học Văn
Hiến sẽ xoay quanh “trục” nào trong đào tạo đại học (?): (a) Đào tạo những cử nhân được các tổ chức, doanh nghiệp và xã hội tuyển dụng và sử dụng (hướng đến nhu cầu của doanh nghiệp và xã hội) (Hướng bị động); hay (b) Đào tạo những cử nhân là các tài năng và tinh túy của xã hội, trở thành những nhà lãnh đạo trong các tổ chức, doanh nghiệp và xã hội (Hướng chủ động); hay (c) Đào tạo những cử nhân có thể thích ứng cao với môi trường kinh tế - xã hội, có thể làm việc cho bất cứ một tổ chức, doanh nghiệp phù hợp nghề nghiệp (Hướng tích cực và linh động) Xu hướng đào tạo (a) & (b) chỉ phù hợp và dành cho những trường vốn dĩ có đội ngũ giảng viên giỏi, tinh tuý, hùng hậu, tiếp cận với các nền giáo dục tiên tiến của Âu, Mỹ và cơ sở vật chất đầu tư khá (phòng lab hiện đại, thư viện có hàng vạn đầu sách, nhiều dự án nghiên cứu tầm quốc tế được triển khai) Xu hướng (c) xem ra phù hợp với Đại học Văn Hiến nhất
- Nguồn nhân lực cho giáo dục đại học : Một trong những yếu tố then chốt để đưa
một trường đại học đứng vào hàng ngũ các trường đại học tiên tiến và nổi tiếng thế giới đó là: nguồn nhân lực & đội ngũ giảng viên Các trường đại học ở Việt Nam luôn trong tình thế đối phó với cấp quản lý về tỷ lệ giảng viên/sinh viên Điều này hoàn toàn dễ hiểu bởi vì: (a) Nếu số lượng giảng viên cơ hữu đông, sinh viên ít, thu không
đủ bù chi, lương giảng viên không đủ sống, “chạy show” (đây là mô hình phổ biến của các trường tư thực & dân lập), chất lượng giảng dạy thấp; (b) Lượng sinh viên đông, giảng viên trong biên chế/cơ hữu thấp (đây là mô hình phổ biến của các trường tư thực
& dân lập), trường thu nhiều lợi nhuận, thu nhập giảng viên chấp nhận được, thiếu cơ
sở hạ tầng (thuê mướn, nhồi nhét lớp đông), chất lượng đào tạo thấp Tựu trung cả 02
Trang 9mô hình trên đều bất cập và hệ lụy cuối cùng là chất lượng đào tạo thấp, khách hàng (là sinh viên) không còn là “thượng đế”, ảnh hưởng đến tiếng tăm của trường, tác động đến chất lượng nguồn nhân lực của nền kinh tế (nhìn dài hạn) và công tác tuyển sinh trường gặp trở ngại trong những năm học sau (nhìn ngắn hạn) Để có chiến lược phù hợp, Đại học Văn Hiến nên xây dựng một lộ trình cho chiến lược nguồn nhân lực đi kèm với mục tiêu có tên trong nhóm trường đại học tiên tiến hướng đến năm 2030, đó là: (a) Tuyển & chọn giảng viên với hệ thống tiêu chí chuẩn khu vực và quốc tế (được đào tạo bài bản, học lực từ khá giỏi ở các bậc học, thông thạo ít nhất 1-2 ngoại ngữ, có phong cách và tư cách của người làm công tác giáo dục, có kinh nghiệm nghiên cứu khoa học và giảng dạy, có trách nhiệm và đóng góp cho xã hội v.v…); (b) Lương và thu nhập phù hợp với sự đóng góp cho trường (khuyến khích giảng dạy, tìm kiếm nguồn thu nhập từ nghiên cứu khoa học, bán Patent, phát minh hoặc phát kiến); (c) Cam kết môi trường làm việc ổn định và lâu dài: thời gian tuyển dụng dài tạo cho giảng viên gắn kết dài lâu và cống hiến toàn lực và trí tuệ; (d) Tạo môi trường học thuật tự do, môi trường làm việc thuận lợi (tổ chức nhiều buổi hội thảo khoa học, trường dành nhiều kinh phí cho nghiên cứu khoa học, đầu tư cho thư viện & phòng thí nghiệm, phòng làm việc khang trang, chế độ giờ giấc làm việc phù hợp)
- Cơ sở hạ tầng giáo dục đại học : ngoài các trường đại học công lập được nhà nước
đầu tư khá lớn cho cơ sở hạ tầng, hầu hết các trường đại học tư thục và dân lập đều có
cơ sở hạ tầng chưa phù hợp với nhu cầu của người học, với mục tiêu đặt ra và với chiến lược phát triển của trường đó Đại học Văn Hiến nằm trong số các trường đại học này vì mấy lý do: (a) Nhiều trụ sở và nhiều chi nhánh nhưng thiếu một cơ sở khang trang, đầy đủ phương tiện, bố trí các phòng ban chức năng, phòng làm việc cho giảng viên và phòng học phù hợp, kết nối với cơ sở hạ tầng khác (xe bus, bệnh viện, ngân hàng, siêu thị, dịch vụ khác) đúng nghĩa như một Campus đại học ở các nước trong khu vực (Thailand, Singapore, Malaysia) và trên thế giới (Hoa Kỳ, EU & Australia); (b) Thiếu thư viện đúng tầm cỡ với một trường đại học có hơn 5.000 sinh viên (tài liệu chưa được số hóa, số đầu sách chưa đa dạng về lượng và về chuyên ngành, sách tham khảo tiếng Anh rất hạn chế, chưa kết nối với các thư viện lớn, phòng đọc chưa đủ rộng – thoáng – đẹp – ghế bàn tiện nghi); (c) Thiếu phòng lab phù hợp cho một số chuyên ngành đào tạo (phòng thí nghiệm công nghệ, phòng computer và tiến đến trang bị các phòng lab mô hình ảo, mô phỏng cho sinh viên Khoa Công nghệ
& Khoa Kinh tế thực tập) Trang bị đầy đủ cơ sở vật chất cho một trường đại học là bài toán lớn không chỉ riêng cho Đại học Văn Hiến mà còn với hầu hết các trường đại học Việt Nam Một mô hình của một số đại học trong khu vực triển khai khá thành công là
“liên kết sử dụng nguồn tài nguyên” các phòng lab, thuê các phòng thí nghiệm, thư
Trang 10viện, lớp học giữa 2 hoặc nhiều trường đại học có các ngành đào tạo tương đồng hoặc
hỗ trợ Có thể mô hình này khó triển khai đối với các trường Đại học Việt Nam, vì mỗi trường “ngấm ngầm cạnh tranh” nhau hoặc chính mỗi trường đã yếu kém về cơ sở vật chất./
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Federal Ministry of Education & Research (2017) The German research
landscape: Who does research in Germany? Page 8.
[2] Martin Hayden and Lam Quang Thiep (2015) A 2020 Vision for Higher Education
in Vietnam Southern Cross University, Australia.
[3] Nguyễn Văn Nhã, Vũ Ngọc Tú (2015) Higher Education Reform in Vietnam: Current Situation, Challenges and Solutions VNU Journal of Science, Vol 31, No 4
(2015) 85-97
[4] Nick Clark (2013) Vietnam: Trends in International and Domestic Education
World Education News & Reviews.
[5] World Bank (2008) Vietnam: Higher Education and Skills for Growth Human
Development Department East Asia and Pacific Region.
[6] Website:
https://www.britannica.com/topic/higher-education
http://wenr.wes.org/2014/06/trends-in-vietnamese-academic-mobility-opportunities-for-u-s-institutions
PHỤ LỤC Phụ lục 1: Tỷ lệ sinh viên Việt Nam du học ở một số quốc gia, 2006-2012