Thu hoạch thực tế chuyên môn các tỉnh phía bắc, năm 2020 2021,aaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaa
Trang 11
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
KHOA: KHOA HỌC XÃ HỘI
- -
BÀI THU HOẠCH
CHUYẾN ĐI THỰC TẾ CHUYÊN MÔN 2
Giảng viên : Nguyễn Thị Giang Sinh viên : Trịnh Đình Duy
Mã SV : 186602CLC03 Lớp : K21 – ĐHSP Lịch sử CLC
Thanh Hóa, tháng 12 năm 2021
Trang 22
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
KHOA: KHOA HỌC XÃ HỘI
BÀI THU HOẠCH
CHUYẾN ĐI THỰC TẾ CHUYÊN MÔN 2
Trang 33
MỞ ĐẦU
Lời đầu tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới nhà trường Đại học Hồng Đức, các thầy (cô) giáo trong Ban chủ nhiệm khoa Khoa học Xã hội, các thầy cô trong Bộ môn Lịch sử đã tổ chức cho chúng tôi một chuyến đi thực tế vô cùng ý nghĩa Tôi đặc biệt gửi lời cảm ơn tới cô Nguyễn Thị Giang – người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho chúng tôi trong suốt hành trình
Trên chặng đường trải dài hàng trăm km của chuyến đi thực tế với điểm xuất phát từ trường Đại học Hồng Đức đến Thành nhà Hồ, Khu di tích lịch sử Lam Kinh tôi là một trong 13 sinh viên lớp K21 – ĐHSP Lịch sử CLC vinh dự được có mặt trong đoàn Chuyến đi này đối với tôi thực sự là một chuyến đi thú
vị, bổ ích Nhờ có chuyến đi thực tế và với sự hướng dẫn tận tình của cô Nguyễn Thị Giang, được nghe các anh, chị hướng dẫn viên giới thiệu về các khu di tích lịch sử, văn hóa, tôi đã có nhiều trải nghiệm sâu sắc, tôi thấy mình dần trưởng thành trong suy nghĩ và thêm yêu đất nước của mình Đặc biệt, thông qua việc tiếp xúc với các di tích lịch sử văn hóa, chúng tôi có cái nhìn trực tiếp để đánh giá, nhìn nhận kho tàng văn hóa của dân tộc Từ chuyến đi thực tế, chúng tôi được mở rộng tầm mắt, hiểu rõ hơn về những kiến thức mà mình đã học về lịch
sử dân tộc, được tự do học hỏi thêm nhiều kiến thức thực tế, rèn luyện kĩ năng chuyên môn, bổ sung kiến thức còn thiếu để phục vụ cho công việc sau này của bản thân Đồng thời, chuyến đi cũng là cơ hội để thắt chặt thêm tình thầy trò, bạn bè trở nên thân thiết và ngày càng hiểu nhau nhiều hơn
Trang 44
NỘI DUNG
Được sự đồng ý của lãnh đạo nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa, Bộ môn Lịch sử đã tổ chức cho các sinh viên lớp K21 – ĐHSP Lịch sử CLC đi tham quan thực tế tại các di tích lịch sử văn hóa trong tỉnh Thanh Hóa Chuyến đi thực
tế do cô Nguyễn Thị Giang hướng dẫn, bắt đầu từ ngày 17/12/2021 đến ngày 20/12/2021, chúng tôi đã tham quan, tìm hiểu một số di tích lịch sử - văn hóa sau đây:
I Di sản văn hóa thế giới – Thành nhà Hồ
Sáng ngày 17/12/2021, chúng tôi bắt đầu hành trình chuyến đi thực tế chuyên môn của mình Sau hơn 1h đồng hồ di chuyển, chúng tôi đã có mặt tại sản văn hóa thế giới – Thành nhà Hồ Sau khi chuẩn bị đầy đủ mọi thủ tục, chúng tôi tiến hành thăm quan khu di tích Đi bộ quãng đường khoảng vài trăm mét, chúng tôi đã tới cổng thành nhà Hồ, tiến hành quan sát và lắng nghe chị hướng dẫn viên giới thiệu về khu di tích Thông qua đây, chúng tôi đã biết được thêm nhiều kiến thức về lịch sử - văn hóa của khu di sản này Cụ thể:
Thành nhà Hồ (hay còn gọi là thành Tây Đô, An Tôn, Tây Kinh hay Tây Giai) là kinh đô nước Đại Ngu, nằm trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa Đây là tòa thành kiên cố với kiến trúc độc đáo bằng đá có quy mô lớn hiếm hoi ở Việt Nam, có giá trị, độc đáo nhất, duy nhất còn lại ở tại Đông Nam Á và là một trong rất ít những thành lũy bằng đá còn lại trên thế giới
Ngày 27 tháng 6 năm 2011, sau 6 năm đệ trình hồ sơ, Thành nhà Hồ đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, thành cũng được CNN đánh giá là một trong 21 di sản nổi bật và vĩ đại nhất thế giới Hiện nay, nơi đây
đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam đưa vào danh sách xếp hạng 62 di tích quốc gia đặc biệt
Trang 5Vị trí thành nhà Hồ so với các trung tâm thành phố lân cận như sau:
+ Cách thủ đô Hà Nội: 140 km (theo quốc lộ 1A, quốc lộ 38B, quốc lộ 12B và quốc lộ 45)
+ Cách thành phố Thanh Hóa: 45 km (theo quốc lộ 45)
+ Cách thành phố Tam Điệp: 42 km (theo Đại lộ Đồng Giao và quốc lộ 45)
2 Quá trình xây dựng
Theo sử sách, thành bắt đầu xây dựng vào mùa xuân tháng một năm Đinh Sửu niên hiệu Quang Thái thứ 10 đời vua Thuận Tông, chỉ trong 3 tháng đã cơ bản hoàn thành Người quyết định xây dựng là Hồ Quý Ly, người trực tiếp tổ chức và điều hành công việc kiến tạo là Thượng thư bộ Lại Thái sử lệnh Đỗ Tỉnh Mục đích của Hồ Quý Ly trong xây thành Tây Đô nhằm tạo lập kinh đô mới, buộc triều Trần dời đô vào Thanh Hóa với mục tiêu chuẩn bị phế bỏ vương triều Trần
Trang 6trùng mạch theo hình chữ Công “I” Trên thực tế, tường thành được cấu tạo bởi
ba lớp gắn kết chặt chẽ với nhau bằng một kỹ thuật xây dựng đặc biệt Lớp
ngoài tường thành được xây dựng bằng những khối đá vôi to lớn, được đẽo gọt
và ghép một cách tài tình Tất cả các khối đá xây được đẽo gọt công phu thành các khối vuông thành sắc cạnh, với kích thước trung bình 2,2 x 1,5 x 1,2m, cá biệt có khối có kích thước tới 4,2 x 1,7 x 1,5m và 5,1 x một x 1,2m Những khối
đá lớn nhất nặng tới khoảng 26,7 tấn
Để hoàn chỉnh công trình này, con số ước tính hơn 100,000m3 đất đã được đào đắp, hơn 20,000m3 đá, trong đó có nhiều khối đá nặng trên 20 tấn đã được khai thác, vận chuyển và lắp đặt
Một đoạn tường thành nhà Hồ (Nguồn: Sưu tầm)
Bao quanh các bức tường thành đồ sộ là hệ thống hào thành, như thường thấy ở các tòa thành Đông Á Ngày nay, nhiều phần của hào thành đã bị lấp cạn Tuy nhiên, vẫn có thể nhận thấy rất rõ dấu tích của hào thành ở bốn phía với chiều rộng trung bình 50m
Trang 77
Vết tích một đoạn Hào thành (Nguồn: Sưu tầm)
+ La Thành
Bao quanh toàn bộ tòa thành đá và hào thành là La Thành
Đại Nam nhất thống chí chép: “Phía ngoài thành lại đắp đất làm La
Thành, phía tả từ tổng Cổ Biện, phía Đông qua các xã Bút Sơn và Cổ Điệp ven theo sông Bảo (nay là sông Bưởi) chạy về núi Đốn Sơn, phía hữu từ tổng Quan Hoàng, huyện Cẩm Thủy theo ven sông Mã chạy về Đông thẳng đến núi Yên Tôn mấy vạn trượng”
La Thành hiện còn là một tòa thành đất cao khoảng 6m, mặt cắt dạng hình thang với bề mặt rộng 9,20m, chân thành rộng khoảng 37m Mặt ngoài dốc đứng, phía trong thoai thoải kiểu bậc thang, mỗi bậc cao 1,50m, một số vị trí có trộn thêm sạn sỏi gia cố
Một đoạn La Thành (Nguồn: Sưu tầm)
Trang 88
Toàn bộ La Thành được đào đắp dựa theo địa hình tự nhiên, có đoạn thì nối liền với núi đá, lấy núi đá làm bức tường thành thiên nhiên hùng vĩ, có đoạn thì nương theo các dòng sông
Ngày nay, trên thực địa, La Thành vẫn còn dấu vết từ núi Đốn Sơn (xã Vĩnh Thành) đến núi Hắc Khuyển (xã Vĩnh Long), các núi Xuân Đài, Trác Phong, Tiến
Sỹ (xã Vĩnh Ninh), núi Kim Ngọ (xã Vĩnh Tiến), núi Ngưu Ngọa, núi Voi (Xã Vĩnh Quang) Trong đó có những đoạn là đê của sông Bưởi và sông Mã
Nhiều đoạn La Thành trải qua 6 thế kỷ vẫn còn khá nguyên vẹn với các lũy tre trải dài bát ngát, tương truyền cũng là dấu tích lâu đời gợi nhớ đến việc nhà Hồ cho trồng tre gai bảo vệ kinh thành cuối thế kỷ 14
+ Đàn Nam Giao
Đại Việt sử ký toàn thư chép năm Nhâm Ngọ (1402): “Tháng 8, Hán
Thương sai đắp đàn Giao ở núi Đốn Sơn để làm lễ tế Giao Đại xá”
Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép việc xây dựng đàn tế Nam Giao năm
1402 Khâm định Việt sử thông giám cương mục thời Nguyễn cũng chép: “Đến
nay Hán Thương mới đắp đàn Giao ở Đốn Sơn, chọn ngày lành, đi xe Vân Long
ra cửa Nam thành, trăm quan và cung tần, mệnh phụ theo thứ tự đi sau v.v ”
Trong các nghi lễ của các kinh đô phương Đông cổ truyền, đàn Nam Giao
và nghi thức tế lễ Nam Giao hàng năm của các vương triều là một bộ phận văn hóa tinh thần quan trọng vào bậc nhất nhằm cầu mong cho đất nước thịnh trị, vương triều trường tồn
Bởi vậy, trong việc kiến thiết kinh đô, nhà Hồ đặc biệt chú trọng tới việc xây dựng đàn tế Nam Giao Đàn tế được xây dựng ở phía Nam Thành Nhà Hồ, phía trong La Thành, dựa theo sườn Tây Nam núi Đốn Sơn
Dấu tích kiến trúc đàn tế đã xuất lộ chạy theo hướng Bắc – Nam là 250m, hướng Đông – Tây là 150m với tổng diện tích 35.000m2
Đàn được chia làm nhiều tầng giật cấp cao dần lên, trong đó tầng đàn trung tâm cao 21,70m so với mực nước biển, chân đàn có độ cao khoảng 10,50m
so với mực nước biển Hiện nay, bước đầu đã khai quật được khoảng 15.000m2
Trang 9Nền đàn được đầm nện bằng các loại đá dăm núi, móng tường đàn và tường đàn được xây dựng bằng các loại đá xanh và gạch ở hai bên, ở giữa nhồi đất Tường đàn cómái lợp các loại ngói mũi sen, ngói mũi lá và ngói âm dương Mặt nền đàn được lát bằng loại gạch vuông cỡ lớn Các đường đi trong đàn được lát đá
Trong khu vực đàn tế còn tìm thấy dấu tích của hàng chục nền móng của các kiến trúc phụ, 5 cửa, dấu tích đường đi và dấu tích của 10 cống nước được xây dựng và bố trí hết sức khoa học nhằm đảm bảo cho việc tiêu thoát nước cho một công trình kiến trúc có diện tích rộng hàng chục nghìn mét vuông
Góc Đông Nam đã tìm thấy một giếng nước lớn có cấu trúc 2 phần: phần thành giếng được xây bằng các khối đá có mặt bằng hình vuông (13m x 13m) có
bậc đi xuống nhỏ giật vào trong lòng theo lối “thượng thách hạ thu”, phần lòng
giếng hình tròn, mặt cắt hình phễu, phần miệng tròn có đường kính khoảng 6,50m, độ sâu tính từ miệng giếng vuông 4,90m
Với tổng diện tích trên 35.000m2, có thể nói Nam Giao là một kiến trúc đàn tế khá hoành tráng trong tổng thể khu di tích Thành Nhà Hồ Không những thế, qua những di vật còn lại, chúng ta còn thấy Nam Giao cũng được trang trí khá độc đáo ở trên các kiến trúc có mái Đó là thành bậc đá chạm sấu thần, tượng đầu chim phượng, uyên ương, hệ thống lá đề, hệ thống gạch trang trí chạm rồng, hoa cúc nhiều mô típ cho thấy có sự ảnh hưởng mạnh mẽ của nghệ thuật Phật giáo trong trang trí Nam Giao Trong thời đại hạn chế Phật giáo thì
Trang 10Đàn Nam Giao (Nguồn: Sưu tầm)
+ Đền thờ nàng Bình Khương
Đền thờ Nàng Bình Khương (Nguồn: Sưu tầm)
Trang 1111
Thuộc địa phận thôn Đông Môn, xã Vĩnh Long, nằm sát tường phía Đông của thành trong Thành Nhà Hồ Đền là nơi thờ nàng Bình Khương phu nhân của Cống sinh Trần Công Sỹ, một trong những người chỉ huy xây dựng tường thành
phía đông của thành Tây Đô
Đền có diện tích 600m2, kiến trúc gồm tiền đường và hậu cung Hiện nay trong đền còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị như: Phiến đá – kiêm thần vị thờ nàng Bình Khương, bia đá dựng năm Thành Thái thứ 15 (1903) do Vương Duy Trinh soạn ghi sự tích Bình Khương và Cống Sinh; bia đá dựng năm Thành Thái thứ 15 (1903) do Phan Hữu Nguyên soạn ghi nội dung ca tụng Bình Khương và bia trùng tu miếu Bình Khương dựng năm Bảo Đại thứ 5 (1930)
Đền được xếp hạng là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh năm 1995
Hòn đá vết tích đầu và bàn tay nàng Bình Khương (Nguồn: Sưu tầm)
+ Đình Đông Môn
Nằm cách cổng Đông Thành Nhà Hồ khoảng 150m về phía Đông, thuộc làng Đông Môn, xã Vĩnh Long Đây là ngôi đình lớn, niên đại thời Nguyễn (thế
Trang 1212
kỷ 19), và có giá trị nghệ thuật cao Tại ngôi đình còn lưu giữ một số hiện vật liên quan đến di tích Thành Nhà Hồ và nhiều sinh hoạt truyền thống gắn với ngôi làng cổ của kinh đô xưa Từ năm 2007 đến năm 2009 đình được trùng tu, tôn tạo
Đình được xếp hạng di tích lịch sử kiến trúc cấp tỉnh năm 1992
Đình Đông Môn (Nguồn: Sưu tầm) Như vậy, có thể nhận thấy, thành Tây Đô ở vào địa thế khá hiểm trở, có lợi thế về phòng ngự quân sự hơn là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá Vị trí xây thành đặc biệt hiểm yếu, có sông nước bao quanh, có núi non hiểm trở, vừa có ý nghĩa chiến lược phòng thủ, vừa phát huy được ưu thế giao thông thủy
bộ Đặc biệt, thành Tây Đô thể hiện một trình độ rất cao về kĩ thuật xây vòm đá thời bấy giờ Những phiến đá nặng từ 10 đến 20 tấn được nâng lên cao, ghép với nhau một cách tự nhiên, hoàn toàn không có bất cứ một chất kết dính nào Trải qua hơn 600 năm, những bức tường thành vẫn đứng vững Được xây dựng
và gắn chặt với một giai đoạn đầy biến động của xã hội Việt Nam, với những cải cách của vương triều Hồ và tư tưởng chủ động bảo vệ nền độc lập dân tộc, Thành Nhà Hồ còn là dấu ấn văn hóa nổi bật của một nền văn minh tồn tại tuy không dài, nhưng luôn được sử sách đánh giá cao
Trang 1313
II Khu di tích lịch sử văn hóa Lam Kinh
Tạm biệt thành nhà Hồ với bao kỉ niệm khó quên, đoàn chúng tôi di chuyển về huyện Thọ Xuân và bắt đầu tham quan địa điểm thứ 2 trong lộ trình chuyến thực tế Về mảnh đất phát tích của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, quý hương của vương triều Hậu Lê, chúng tôi đã ghé thăm khu di tích Lam Kinh
Đoàn tham quan chụp ảnh lưu niệm tại khu di tích (Nguồn: Tác giả)
Khu di tích Lam Kinh (Nguồn: Sưu tầm)
Trang 1414
Khu di tích lịch sử Lam Kinh cách thành phố Thanh Hóa 50 km về phía Tây Bắc, nằm trên địa bàn xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa Đây là một di tích lịch sử quốc gia cấp từ năm 1962 Năm 2013, khu di tích này được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt
Nhân vật tạo lập Lam Kinh là Lê Thái Tổ Sau 10 năm lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 - 1428) đánh đuổi giặc nhà Minh và lên ngôi hoàng đế đóng đô ở Đông Kinh (Thăng Long), vua Thái Tổ lấy niên hiệu là Thuận Thiên thứ nhất Đồng thời nhà vua cho xây dựng ở quê hương đất tổ Lam Sơn một kinh thành gọi là Lam Kinh hay còn gọi là Tây Kinh
Thành điện Lam kinh phía Bắc dựa vào núi Dầu mặt Nam nhìn ra sông Chu - có núi Chúa làm tiền án, bên tả là rừng Phú Lâm, bên hữu là núi Hương và núi Hàm Rồng chắn phía Tây Khu Hoàng thành, cung điện và Thái miếu ở Lam Kinh được bố trí xây dựng theo trục Nam - Bắc trên một khoảng đồi gò có hình dáng chữ vương Bốn mặt xây thành có chiều dài 314m, bề ngang 254m, tường thành phía Bắc hình cánh cung có bán kính 164m, thành dày 1m Qua khảo cổ
và dấu tích còn lại cho thấy xưa kia ở đây đã từng tồn tại Ngọ môn, sân rồng, chính điện, khu Thái miếu nguy nga tráng lệ
Khu di tích lịch sử Lam Kinh rộng khoảng 30 ha, gồm những lăng phần, đền miếu và một hành cung của các vua nhà Hậu Lê mỗi lần về bái yết tổ tiên
Về diện mạo kiến trúc của di tích hiện nay, có thể điểm tới một số công trình tiêu biểu như:
Hệ thống tường thành: gồm 3 vòng thành (La thành, thành Nội và thành
Ngoại) Năm 2008, một số đoạn của La thành phía Đông và phía Tây cầu Bạch
đã được khôi phục (với tổng chiều dài 21m)
Hồ Như Áng, kênh dẫn nước đập nhà Lê, hồ Tây: trước kia, khu vực này
vốn là vùng đất trũng, xung quanh có nhiều khe suối nhỏ Lợi dụng địa thế tự nhiên, nhà Lê đã cho đào kênh dẫn nước về hồ Tây, để cung cấp cho toàn bộ khu vực Lam Kinh
Cầu Tiên Loan Kiều (cầu Bạch): Trên sông có bắc một cây cầu tên là Tiên
Loan Kiều hình cánh cung, còn có tên gọi là Cầu Bạch, trên cầu có nhà, thành
Trang 1515
dáng “Thượng gia hạ kiều” Hiện nay, cầu mới được phục hồi, dài 17m, rộng
5,50m, bắc qua sông Ngọc, nằm trên trục đường chính dẫn vào khu trung tâm chính điện Lam Kinh
Cầu Tiên Loan Kiều (Nguồn: Sưu tầm) Giếng cổ: Qua cầu khoảng 50m thì đến một giếng cổ Trước kia dưới
giếng còn thả sen để giữ cho nước mát trong những ngày hè nóng nực Bờ giếng phía Bắc có lát bậc đá lên xuống, gọi là bến nước
Ngọ Môn: Trước Ngọ môn có hai con nghê bằng đá đứng canh Nền Ngọ
môn rộng 11m dài 14,1m, có 3 cửa ra vào Cửa giữa rộng 3,6m, cửa hai bên rộng 2,74m và được bố trí ở hàng cột chính giữa Đặc điểm của bốn cột giữa là rất lớn, đường kính chân tảng đo được 78 cm Ngọ môn 3 gian, bước gian giữa rộng 4,60m, bước gian bên rộng 3,50m
Căn cứ vào chiều rộng của nền Ngọ môn và xét về tỷ lệ quy mô các công trình kiến trúc toàn khu cung điện, các nhà nghiên cứu về kiến trúc cổ đã đoán định, Ngọ môn thành điện Lam Kinh là một công trình kiến trúc khá quy mô