1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

DOANH NGHIP d AN TRONG d AN HP TAC c

7 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 218,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài báo này xem xét mối quan hệ của loại doanh nghiệp này với các bên khác trong một dự án Hợp tác Công – Tư điển hình, sau đó so sánh, đánh giá loại hình dự án này trên cơ sở thực tiễn

Trang 1

1

DOANH NGHIỆP DỰ ÁN TRONG DỰ ÁN HỢP TÁC CÔNG – TƯ Ở

VIỆT NAM VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ

Nguyễn Văn Bảo, Nguyễn Thế Quân Khoa Kinh tế và Quản lý Xây dựng, Đại học Xây dựng Bài đăng ở Tạp chí Xây dựng, số 11/2014

TÓM TẮT

Hợp tác Công – tư là một phương thức thực hiện dự án được chấp nhận áp dụng ở Việt Nam gần đây để đầu tư phát triển các cơ sở hạ tầng Doanh nghiệp dự án là một sáng kiến được áp dụng giúp cho các dự án đầu tư loại này được thực hiện thành công trên thế giới Bài báo này xem xét mối quan hệ của loại doanh nghiệp này với các bên khác trong một dự án Hợp tác Công – Tư điển hình, sau đó so sánh, đánh giá loại hình dự án này trên cơ sở thực tiễn áp dụng tại Việt Nam và trên thế giới theo ba khía cạnh: thời điểm và vai trò trong đấu thầu dự án PPP, tài chính cho loại doanh nghiệp này và cách thức doanh nghiệp này lựa chọn các nhà thầu để thực hiện và vận hành dự án Hợp tác Công – Tư Các bài học rút ra có thể là tài liệu tham khảo trong việc hoàn thiện các cơ sở lý luận và thực tiễn, các quy định pháp luật

về Hợp tác Công – Tư trong điều kiện Việt Nam

Từ khóa: Hợp tác Công – Tư, doanh nghiệp dự án, huy động vốn cho dự án, lựa chọn nhà đầu

ABSTRACT

Public-Private Partnership is a project delivery method that has recently been accepted and applied in Vietnam for the development of infrastructure Project company is an initiative that I believed worldwide to ensure the success of PPP projects This paper first reviews the position of this type of company in a typical PPP project, then compares and assesses this type

of company in three aspects: the establishment and the role in competing for PPP projects, financial structure and its method for selection of contractors for other project contracts for the implementation of PPP projects The lessons learnt can be utilised in the improvement of theories and practical application as well as in the renovation of PPP laws in Vietnam

Keywords: Public-Private Partnership, project company, project finance, investor selection

Ở Việt Nam, doanh nghiệp dự án trước tiên được đề cập đến trong Nghị định số 108/2009/NĐ-CP, sau đó là Quyết định 71/2010/QĐ-TTg về thí điểm thực hiện dự án PPP Doanh nghiệp dự án sau đó được mở rộng ra, chỉ cả các doanh nghiệp thực hiện dự án có sử dụng đất Doanh nghiệp dự án gắn với các dự án Hợp tác Công – Tư có những đặc thù nhất định, từ đó đưa đến những điểm khác biệt trong việc thành lập và vận hành Bài báo này trình bày một số nội dung liên quan đến loại doanh nghiệp này trong các dự án cơ sở hạ tầng, trên

Trang 2

2

cơ sở so sánh, đánh giá lý luận và thực tiễn, các quy định pháp luật tương ứng ở Việt Nam và trên thế giới

1 Hợp tác công – tư

Hợp tác Công - Tư (Public Private Partnership – từ đây viết tắt là PPP – còn được gọi

là Đối tác Công - Tư) là một phương thức thực hiện dự án hiện đại, đang được áp dụng và phổ biến rộng rãi trên thế giới Trong phương thức thực hiện dự án này, các cơ quan chính phủ và

tổ chức tư nhân phối hợp để cung cấp cơ sở hạ tầng công, các tiện nghi cho cộng đồng và các

dịch vụ liên quan (Ministry of Municipal Affairs 1999), đảm bảo vừa phù hợp với mục tiêu của nhà nước vừa thỏa mãn mục tiêu lợi nhuận của đối tác tư nhân

Thật vậy, việc áp dụng PPP mang lại những lợi ích đáng kể cho các quốc gia, cả khu vực công và khu vực tư nhân cũng như cộng đồng Phương thức này giúp thu hút vốn đầu tư

tư nhân vào đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng (thường bổ sung cho nguồn vốn nhà nước hoặc giải phóng cho nguồn vốn nhà nước để sử dụng vào những nhu cầu khác của nhà nước) Khu vực tư nhân trong việc tham gia vào mối quan hệ đối tác nhà nước- tư nhân, có thể tìm kiếm lợi nhuận từ năng lực và kinh nghiệm quản lý kinh doanh của mình (đặc biệt là trong ngành dịch vụ công ích) Ngoài ra, PPP còn giúp tăng năng suất và sử dụng các nguồn lực có sẵn một cách hiệu quả hơn, cải thiện chất lượng dịch vụ cung cấp cho người dân, cũng như thúc đẩy việc cải cách các lĩnh vực thông qua việc phân bổ lại vai trò, làm rõ động cơ và trách nhiệm của các bên

Ở Việt Nam, các hình thức như BOT, BTO, v.v… của phương thức hợp tác công - tư

đã sớm được đưa vào quy định pháp luật từ năm 1992, với Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài Từ đó, khá nhiều dự án cơ sở hạ tầng được thực hiện theo hình thức này và các quy định pháp luật có liên quan cũng được sửa đổi, bổ sung liên tục Tuy nhiên, trong thời gian đầu, các hình thức nói trên không được coi là PPPs, kể cả trong Nghị định số 108/2009/NĐ - CP về đầu tư theo hình thức Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao, Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh, Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao và Quyết định 71/2010/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (PPP), là các quy định tạo hành lang pháp lý duy nhất cho việc thực hiện các dự án thuộc các loại này Quan niệm này chỉ được thay đổi khi Bộ Kế hoạch đầu tư tiến hành khảo cứu kinh nghiệm từ nhiều quốc gia khác nhau, lúc đó các hình thức đầu

tư được nhắc đến trong Nghị định số 108/2009/NĐ – CP mới được coi là Hợp tác Công – Tư

ở Việt Nam Theo đánh giá của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội và UNDP tại Việt Nam, kể từ

đó tới nay, thực tiễn thí điểm triển khai các dự án theo hình thức PPP đã đạt được một số kết quả nhất định, song cũng còn không ít trở ngại, khó khăn cả về nhận thức, khuôn khổ thể chế

và thực tiễn quá trình triển khai (Ủy ban Kinh tế của Quốc hội và UNDP tại Việt Nam 2013)

2 Hợp tác Công – Tư và doanh nghiệp dự án

Hợp tác Công – Tư được thực hiện dưới khá nhiều hình thức khác nhau, như Bộ Kế hoạch đầu tư đã tổng kết trong các tài liệu phổ biến kiến thức về Hợp tác Công tư Trong số

đó, các hình thức phổ biến ở châu Á bao gồm: Hợp đồng dịch vụ (Service Contract), BOT (Build – Operate – Transfer: Xây dựng – Vận hành – Chuyển giao), Hợp đồng quản lý

Trang 3

3

(Management Contract), ROT (Cải tạo – Vận hành – Chuyển giao), Cổ phần húa một phần (Partial Divestiture), BOO (Build - Own - Operate: Xõy dựng – Sở hữu - Vận hành), DBO (Design - Build-Operate: Thiết kế - Xõy dựng – Vận hành), DBFO (Design – Build – Finance

- Operate: Thiết kế - Xõy dựng – Thu xếp vốn - Vận hành) (APPPI 2013; Chan Wei Sang 2014) Trong đa số cỏc hỡnh thức này, khối tư nhõn tỡm cỏch tham gia vào dự ỏn PPP thụng qua việc thành lập một doanh nghiệp dự ỏn để tham gia cạnh tranh ký kết được hợp đồng PPP với cơ quan chủ quản dự ỏn đại diện cho khu vực cụng Theo thụng lệ quốc tế, doanh nghiệp

dự ỏn cũn được gọi là doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ đặc biệt (special purpose vehicle), do doanh nghiệp này được thành lập chỉ với nhiệm vụ duy nhất là thực hiện dự ỏn PPP, khụng thực hiện cỏc hoạt động kinh doanh khỏc Doanh nghiệp dự ỏn được cỏc nhà đầu tư thành lập

để đấu thầu dự ỏn PPP thường là một liờn doanh giữa một nhà thầu xõy dựng cú kinh nghiệm

và một đơn vị quản lý vận hành cơ sở vật chất hoặc cung cấp dịch vụ cú đủ khả năng vận hành cơ sở vật chất dự ỏn sẽ tạo ra, cũng cú thể với cỏc nhà thầu xõy dựng chuyờn ngành khỏc cũng như cỏc nhà đầu tư khỏc (Chan Wei Sang 2014) Cú thể núi, việc sỏng tạo ra doanh nghiệp dự ỏn chớnh là một trong những nhõn tố tạo nờn thành cụng của dự ỏn PPP Doanh nghiệp này tạo ra một khuụn khổ thuận tiện cho việc huy động vốn, liờn kết cỏc bờn tham gia một cỏch hợp phỏp, đảm bảo việc cung ứng, sản xuất và marketing sản phẩm Doanh nghiệp

dự ỏn lụi kộo cỏc bờn như cỏc nhà tài trợ vốn, cỏc thể chế tài chớnh, khối cụng, cỏc nhà cung ứng và cỏc doanh nghiệp bao tiờu v.v… cựng tham gia thực hiện dự ỏn

Cơ quan chủ quản

dự án (khối công)

Hợp đồng PPP

Doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ đặc biệt SPV (doanh nghiệp dự án)

Tư vấn của Cơ quan chủ quản dự án

Nhà thầu xây dựng

Đơn vị quản lý vận

hành cơ sở vật chất

Tư vấn cho doanh nghiệp dự án

Bên cho vay vốn Vốn vay

Nhà đầu tư mảng xây dựng

Nhà đầu tư mảng quản lý cơ sở vật chát

Nhà đầu tư vốn chủ

sở hữu khác

Vốn chủ sở hữu

Khối công

Khối tư nhân

Hợp đồng xây dựng

Hợp đồng quản lý vận hành

Hỡnh 1 Cấu trỳc điển hỡnh của một dự ỏn PPP (Chan Wei Sang 2014)

Hỡnh 1 thể hiện cấu trỳc điển hỡnh của một dự ỏn thực hiện theo PPP (cú xõy dựng) Trong đú, doanh nghiệp dự ỏn được thành lập nhờ sự kết hợp của cỏc nhà đầu tư cú chuyờn

Trang 4

4

môn về xây dựng, về quản lý vận hành cơ sở vật chất là kết quả của dự án và các bên tham gia góp vốn khác Phần vốn của doanh nghiệp dự án đưa vào dự án PPP thường không cao, có thể chỉ chiếm khoảng 10% tổng chi phí dự án (Ủy ban Kinh tế của Quốc hội và UNDP tại Việt Nam 2013), vì thế, cần có sự tham gia của các nhà tài trợ vốn (bên cho vay vốn) khác như ngân hàng hay các tổ chức tài chính Doanh nghiệp dự án có thể tự mình tiến hành hoạt động xây dựng và quản lý vận hành cơ sở vật chất của dự án khi xây dựng xong, nhưng cũng có thể thuê các đơn vị khác thực hiện các nội dung này thông qua các hợp đồng tương ứng

3 Doanh nghiệp dự án theo thông lệ quốc tế và ở Việt Nam

Thực tế việc thành lập và vận hành doanh nghiệp dự án trong các dự án PPP trên thế giới có những quy tắc chung, tuy nhiên, ở các quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau, kể cả Việt Nam, có những điểm khác biệt Có khá nhiều đặc điểm của việc thành lập và vận hành doanh nghiệp dự án trong các dự án PPP cần được nghiên cứu kỹ làm bài học cho việc áp dụng loại hình doanh nghiệp này trong điều kiện Việt Nam Tuy nhiên, phạm vi bài báo này chỉ tập trung vào ba vấn đề sau:

- Thời điểm thành lập doanh nghiệp dự án và vai trò của doanh nghiệp dự án khi đấu thầu dự án PPP

- Tài chính cho doanh nghiệp dự án

- Việc lựa chọn các nhà thầu tham gia thực hiện dự án

3.1 Thời điểm thành lập doanh nghiệp dự án và vai trò của doanh nghiệp dự án khi đấu thầu dự án PPP

Theo thông lệ quốc tế, doanh nghiệp dự án phải được thành lập mới để tiến hành dự án PPP Ở một số nước, vì mục đích giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, nhà đầu tư có thể thành lập doanh nghiệp dự án ở một nước khác trong khi dự án lại nằm ở một nước thứ ba Doanh nghiệp dự án được thành lập để trực tiếp tham gia đấu thầu dự án PPP ở một số nước, ví dụ như Singapore, trong khi ở một số nước khác, trong đó có Việt Nam, nhà đầu tư tham gia đấu thầu dự án và sẽ thành lập doanh nghiệp dự án sau khi trúng thầu dự án

Ở Việt Nam, Thông tư 03/2011/TT-BKHĐT quy định doanh nghiệp dự án trong các

dự án BOT, BTO, BT phải được thành lập mới để cùng với Nhà đầu tư hợp thành một Bên của Hợp đồng dự án chính thức, sau khi Hợp đồng dự án được ký tắt với cơ quan nhà nước có thẩm quyền (2011) Nếu doanh nghiệp nước ngoài trúng thầu dự án, thì họ phải thành lập một doanh nghiệp dự án hoạt động tại Việt Nam, và giấy chứng nhận đầu tư dự án chính là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp dự án này Quyết định 71/2010/QĐ-TTg (2010) đã làm rõ đây là loại doanh nghiệp do nhà đầu tư thành lập theo quy định của pháp luật

để quản lý và thực hiện Dự án trên cơ sở Giấy chứng nhận đầu tư và Hợp đồng dự án, tức là sau khi dự án được cấp Giấy chứng nhận đầu tư (Điều 32, Khoản 1) Vì thế, ở Việt Nam, doanh nghiệp dự án không phải là đơn vị tham gia đấu thầu dự án PPP, mà là Nhà đầu tư (có thể là một doanh nghiệp hoặc liên danh giữa các doanh nghiệp) mới là đơn vị làm việc này Luật Đấu thầu (2013) cũng quy định rõ là lựa chọn nhà đầu tư để thực hiện dự án, chứ không

Trang 5

5

phải là lựa chọn doanh nghiệp dự án (Luật này phân biệt rõ “nhà đầu tư” và “doanh nghiệp dự án” thành hai khái niệm khác nhau)

Việc thành lập doanh nghiệp dự án trước và để doanh nghiệp này tham gia đấu thầu dự

án cũng có những ưu điểm nhất định so với việc thành lập sau Một nhà đầu tư có thể tham gia thành lập nhiều doanh nghiệp dự án cùng với các đối tác khác nhau để tăng khả năng trúng thầu của mình, nếu luật pháp nước sở tại cho phép Doanh nghiệp dự án thành lập sớm, khi trúng thầu dự án có thể tiến hành lựa chọn và ký kết các hợp đồng thầu phụ ngay lập tức, nhất là các hợp đồng xây dựng (ví dụ như hợp đồng EPC) từ đó có thể bắt đầu dự án sớm hơn, rút ngắn thời gian thực hiện dự án Hợp đồng PPP cũng có thể được ký trực tiếp giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và doanh nghiệp dự án, thay vì việc ký kết với nhà đầu tư hoặc liên danh các nhà đầu tư rồi lại phải làm các thủ tục ký tiếp với doanh nghiệp dự án và để doanh nghiệp này tiếp nhận và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các nhà đầu tư, giảm khối lượng công việc hành chính đáng kể và tránh được rủi ro do việc chuyển giao công việc mang lại

Về phía ngân hàng và các tổ chức tài chính, việc đánh giá dự án dựa trên năng lực của chính bản thân doanh nghiệp dự án đã được thành lập (dựa trên cam kết của các bên thành lập doanh nghiệp này thể hiện trong Điều lệ doanh nghiệp) sẽ dễ dàng và chính xác hơn việc đánh giá dựa trên nhà đầu tư hoặc liên danh các nhà đầu tư một cách riêng lẻ, nhất là khi chưa có cam kết cụ thể và/hoặc chính thức về việc đóng góp nguồn lực vào doanh nghiệp dự án của từng bên Mà các dự án có một nhà đầu tư hầu như chỉ tồn tại trên lý thuyết (Yescombe 2013), trong thực tế, mỗi một dự án đều có nhiều nhà đầu tư kết hợp lại để đấu thầu, như thực tế đã diễn ra ở Việt Nam

Tuy nhiên, việc thành lập trước doanh nghiệp dự án cũng có những rủi ro, bất tiện nhất định cho các nhà đầu tư Thủ tục thành lập một doanh nghiệp về mặt pháp lý ở một số quốc gia, trong đó có Việt Nam, khá phức tạp và mất thời gian, nhất là những doanh nghiệp đòi hỏi vốn đầu tư lớn Nếu doanh nghiệp thành lập ra không trúng thầu, việc xử lý giải thể doanh nghiệp này cũng khá phức tạp và mất thời gian, kể cả về khía cạnh pháp lý lẫn về mặt hành chính giữa các đơn vị tham gia thành lập Mặt khác, việc các nhà đầu tư chỉ có trách nhiệm hữu hạn trong doanh nghiệp dự án gây ra tâm lý kém tin tưởng doanh nghiệp dự án hơn so với nhà đầu tư khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền lựa chọn nhà thầu cũng như khi các nhà tài trợ xét duyệt cho vay vốn Ở một số nước mới phát triển hình thức Hợp tác Công – Tư, các nhà đầu tư lại đa phần được chỉ định chứ không qua đấu thầu, khi ấy, việc thành lập doanh nghiệp dự án trước là không có ý nghĩa thực tế

3.2 Tài chính cho doanh nghiệp dự án

Theo thông lệ quốc tế, doanh nghiệp dự án là doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ đặc biệt, do đó, doanh nghiệp loại này không được thực hiện bất kỳ ngành nghề sản xuất kinh doanh nào mà không liên quan và không là một phần của dự án Lý do là để thực hiện dự án, doanh nghiệp dự án dùng chính dự án của mình để đi vay vốn, bên cho vay sẽ đánh giá dự án

để xem xét khả năng mang lại lợi nhuận cũng như thu hồi vốn cho vay của họ, mà không dựa vào uy tín hoặc tài sản của bên đi vay Việc huy động vốn này còn được gọi là “huy động vốn bằng dự án” hay “tài trợ dự án” Đặc điểm của hình thức này là doanh thu của dự án chỉ được

Trang 6

6

phép sử dụng để bảo đảm hoạt động của dự án và trả nợ ngân hàng, không được phép sử dụng vào các mục đích khác Hình thức huy động vốn này còn được coi là “tài trợ truy đòi hạn chế”, có nghĩa là nguồn tiền được sử dụng dùng để hoàn trả nợ chính là dòng tiền từ việc vận hành dự án sau này và tài sản dùng làm vật thế chấp của doanh nghiệp dự án Trường hợp không trả được nợ, trách nhiệm của doanh nghiệp dự án chỉ giới hạn trong tài sản của chính doanh nghiệp, chứ không phải tài sản của các đơn vị góp vốn thành lập doanh nghiệp Điều này đảm bảo hạn chế rủi ro cho các nhà đầu tư những cũng là lý do doanh nghiệp dự án không thể thực hiện các hoạt động kinh doanh khác ngoài các hoạt động của dự án Thông lệ quốc tế

là doanh nghiệp dự án phải cam kết với các bên cho vay vốn là sẽ không huy động thêm vốn hoặc vay nợ từ các nguồn khác nữa (Yescombe 2013)

Tuy nhiên, ở Việt Nam, vấn đề này chưa được làm rõ trong các quy định pháp luật, nhất là trước khi hình thức Hợp tác Công – Tư chính thức được áp dụng ở Việt Nam nhờ Quyết định 71/2010/QĐ-TTg về thí điểm thực hiện dự án PPP được ban hành Nghị định 108/2009/NĐ-CP cho phép doanh nghiệp dự án bổ sung ngành, nghề kinh doanh (Điều 27), tức là, về mặt lý thuyết, chấp nhận doanh nghiệp dự án đã có ngành nghề kinh doanh khác và thực hiện nhiều hoạt động kinh doanh đồng thời Trường hợp dự án Cầu Yên Lệnh với liên danh Tổng công ty Xây dựng Thăng Long và Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 4 làm chủ đầu tư là một ví dụ điển hình Quyết định 71/2010/QĐ-TTg không đề cập đến việc cho phép doanh nghiệp dự án bổ sung ngành, nghề kinh doanh nhưng lại không cấm việc này Nếu không có cam kết với các bên cho vay vốn, về mặt lý thuyết, doanh nghiệp dự án vẫn có thể đăng ký bổ sung hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc huy động thêm vốn từ các nguồn khác, làm rối loạn cơ cấu tài chính dự án

3.3 Lựa chọn các nhà thầu tham gia thực hiện dự án

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về việc lựa chọn các nhà thầu tham gia thực hiện dự

án khi dự án bắt đầu được tiến hành Theo luật chung về mua sắm của Liên hiệp châu Âu, doanh nghiệp dự án không phải tổ chức đấu thầu để chọn nhà thầu tham gia thực hiện dự án nếu họ ký kết hợp đồng với doanh nghiệp tham gia thành lập doanh nghiệp dự án, tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, ví dụ như lựa chọn nhà thầu EPC, nếu Hợp đồng dự án đề cập, họ phải tiến hành đấu thầu lựa chọn nhà thầu loại này (Yescombe 2013) Ngân hàng Thế giới lại có quy tắc khác, đối với các dự án mà Ngân hàng cho vay vốn, nếu nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp dự án đã được lựa chọn thông qua đấu thầu cạnh tranh, họ không cần phải tiến hành đấu thầu để lựa chọn các nhà thầu thực hiện dự án Trong trường hợp nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp dự án không được lựa chọn thông qua đấu thầu, họ phải tổ chức đấu thầu để lựa chọn các nhà thầu thực hiện dự án (Yescombe 2013)

Ở Việt Nam, cả Nghị định 108/2009/NĐ-CP và Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg đều khẳng định rằng các dự án thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đấu thầu phải thực hiện việc lựa chọn nhà thầu tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp và nhà thầu khác để thực hiện dự án theo quy định của pháp luật về đấu thầu, như quy định rõ tại Điều 1, Luật Đấu thầu hiện hành (2013) Luật Đấu thầu hiện hành quy định rõ về mức độ và giá trị tuyệt đối phần vốn góp của Nhà nước cho các dự án cần thực hiện đấu thầu Tuy nhiên, khi áp dụng vào các dự án PPP thì

Trang 7

7

có điểm còn chưa rõ là phần ưu đãi của Nhà nước, phần đất Nhà nước giao cho nhà đầu tư có được tính toán thành phần vốn góp của Nhà nước cho dự án hay không để áp dụng các quy định pháp luật cho phù hợp

4 Kết luận

Hình thức Hợp tác Công - Tư đã được giới thiệu và áp dụng vào Việt Nam từ lâu Do các quy định về loại hình dự án này chưa hoàn thiện, nên còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu, trong đó có cả vấn đề doanh nghiệp dự án Sử dụng doanh nghiệp dự án để thực hiện và vận hành dự án PPP có nhiều ưu điểm, cả về phía nhà đầu tư và các bên tài trợ, cho vay vốn Tuy nhiên, các dự án PPP ở Việt Nam trong thời gian vừa qua thường là chỉ định thầu, có cơ chế đặc biệt, vì thế vấn đề thành lập và vận hành doanh nghiệp dự án chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều Các nhà nghiên cứu, các nhà lập pháp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các nhà đầu tư rất nên cân nhắc những kinh nghiệm và bài học mà bài báo chỉ ra như có nên lập doanh nghiệp dự án trước, sử dụng các doanh nghiệp này đi đấu thầu dự án thay cho các nhà đầu tư, bài học về quy định chặt chẽ hơn về cấu trúc vốn của doanh nghiệp dự án, cũng như những điểm chưa hoàn thiện trong các quy định về lựa chọn nhà thầu do doanh nghiệp dự án thực hiện để tiến hành các hoạt động của dự án PPP, để hiểu biết đầy đủ hơn về loại hình doanh nghiệp này, từ đó giúp thực hiện thành công các dự án PPP trong điều kiện Việt Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

(2010) Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 71/2010/QĐ-TTg ngày 9 tháng 11 năm 2010

Về việc ban hành Quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công – tư 71/2010/QĐ-TTg Thủ tướng Chính phủ

(2011) Thông tư số 03/2011/TT-BKHĐT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư : Hướng dẫn thực hiện

một số quy định của Nghị định số 108/2009/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2009 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức Hợp đồng BOT, Hợp đồng BTO và Hợp đồng BT 03/2011/TT-BKHĐT Bộ Kế hoạch và Đầu tư

(2013) Luật Đấu thầu, Luật số 43/2013/QH13 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ

nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2013 43/2013/QH13 Q hội Việt Nam

APPPI (2013) Public-Private Partnership Workshop Course Hanoi

Chan Wei Sang (2014) Public Private Parhneship Hanoi, iBusiness

Ministry of Municipal Affairs (1999) Public Private Partnership: A Guide for Local

Government British Columbia Government, Victoria, Canada, British Columbia

Ủy ban Kinh tế của Quốc hội và UNDP tại Việt Nam (2013) Phương thức đối tác Công - Tư

(PPP): Kinh nghiệm quốc tế và khuôn khổ thể chế tại Việt Nam Hà Nội

Yescombe, E R (2013) Principles of project finance, Academic Press

Ngày đăng: 15/01/2022, 08:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w