BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ KHU VỰC HIỆN NAY - NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN CÁC HÌNH THỨC LIÊN DOANH VỚI NƯỚC NGOÀI TRONG SẢN XUẤT HÀNG XUẤT KHẨU Việc phát triển các hình
Trang 1QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC HÌNH THỨC LIÊN DOANH VỚI NƯỚC NGOÀI TRONG SẢN XUẤT HÀNG XUẤT KHẨU Ở
NGHỆ AN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
3.1 BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ KHU VỰC HIỆN NAY - NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN CÁC HÌNH THỨC LIÊN DOANH VỚI NƯỚC NGOÀI TRONG SẢN XUẤT HÀNG XUẤT KHẨU
Việc phát triển các hình thức LDVNN trong SXHXK của Nghệ An cũng như
cả nước có rất nhiều hạn chế mà hơn mười năm đổi mới vừa qua khắc phục chưađược bao nhiêu, nếu không nhận thức đúng đặc điểm của bối cảnh quốc tế hiện nay
và những năm đầu của thập niên kỷ mới để có giải pháp tích cực thì những hạn chế
đó vẫn còn tồn tại và làm cho việc phát triển các hình thức LDVNN đi lệch hướng,không những kém thúc đẩy sản xuất hàng xuất khẩu phát triển mà còn làm khó khănthêm cho các ngành hàng sản xuất trong nước Bởi vậy về nguyên tắc, tác giả phảixuất phát từ những cơ hội và thách thức của bối cảnh quốc tế và khu vực hiện nay đểlàm căn cứ xác định phương hướng và các giải pháp thúc đẩy các hình thứcLDVNN trong SXHXK ở Nghệ An phát triển
3.1.1 Cơ hội
Một là, sự phát triển ở mức độ cao của công nghệ sinh học, lai tạo giống và
biến đổi gien trong nông nghiệp đã làm cho năng suất các loại cây trồng và vậtnuôi tăng lên đáng kể, đồng thời các loại hàng hóa chế biến từ sản phẩm của nócũng rất đa dạng, phong phú Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực, thì nhữngmặt tiêu cực của nó cũng không kém phần nghiêm trọng, môi trường sinh thái bị ônhiễm, sự phát triển bất thường của một số loại sinh vật có hại như nạn kiến, nạnsâu bệnh, nạn châu chấu ở châu Phi, nạn ốc vàng ở một số nước châu Á đang cónguy cơ đe dọa toàn nhân loại Các loại bệnh nan y như bệnh ung thư, bệnh máu
Trang 2trắng đang phổ biến và một số loại bệnh lạ khác xuất hiện mà nền y học thế giớiđang phải bó tay Đó là hậu quả tiêu cực của quá trình tạo giống, biến đổi gien và
sự có mặt của một số loại hóa chất có hại trong các mặt hàng thực phẩm chế biếnhiện nay Mặt khác một số sản phẩm, cây trồng vật nuôi sau khi được lai tạo giống,biến đổi gien sản lượng lớn năng suất cao nhưng chất lượng và mùi vị lại thua kém
xa nguồn gốc tự nhiên của nó Vì vậy với sự phát triển cao của nền văn minh nhân
loại, xu hướng tiêu dùng một số loại thực phẩm trên thế giới, nhất là các nước giàu đang hướng về các sản phẩm nông nghiệp tự nhiên thuần túy Đó là cơ hội
cho các nước còn có nền nông nghiệp tự nhiên như Việt Nam phát triển sản xuất vàxuất khẩu các loại sản phẩm nông sản như lạc, vừng, cam, chanh, ớt, tỏi, các loạithịt gia súc, gia cầm, các loại hải sản như tôm, cá, mực nếu được đầu tư pháttriển tốt, áp dụng công thức bảo quản thu hái phù hợp vẫn có thể tăng nhanh sảnlượng và kim ngạch xuất khẩu trong thời gian sắp tới
Hai là, nguồn tài nguyên thiên nhiên đang ngày càng cạn kiệt, đồng thời
các nguồn nguyên liệu có nguồn gốc từ sản xuất nông nghiệp đang dần bị thu hẹp
do tốc độ xây dựng và đô thị hóa ngày càng tăng Dân số thế giới phát triển nhanh
và xu hướng lao động thế giới đang chuyển dịch về các ngành công nghiệp, điện
tử, tin học, viễn thông, dịch vụ, thương mại, du lịch, có thu nhập cao và ổn định.Việc các nhà đầu tư và các công ty đa quốc gia đang tìm kiếm các nguồn nguyênliệu bổ sung là tất yếu Nghệ An cũng như một số địa phương khác trong cả nướcđang còn nhiều nguồn tài nguyên có khả năng khai thác như đá vôi, đá vôi trắng,
đá xây dựng, thiếc, gỗ, các loại hải sản tự nhiên, đồng thời khả năng phát triển cácnguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến như cà phê, chè, cao su, mía, ngô, sắnrất tiềm tàng Nếu được điều tra khảo sát và quy hoạch chu đáo, có kế hoạch khaithác và phát triển một cách bền vững vẫn tạo ra được điều kiện để thu hút các hìnhthức đầu tư và LDVNN vào phát triển sản xuất kinh doanh và xuất khẩu
Trang 3Ba là, sự đổi mới căn bản của phương pháp sản xuất gắn với sự phát triển
của nền văn minh nhân loại Thế giới đang trong thời kỳ quá độ, tính chất quá độđược đặc trưng bởi kỹ thuật và công nghệ vốn đã từng tạo ra sự tăng trưởng mạnh
mẽ hơn trong một thế kỷ qua không còn tác dụng tạo nên sự tăng trưởng mới Cóthể thấy tình hình này ở nhiều nước như: Mỹ, Nhật, Cộng hòa Liên bang Đức,Anh đó là khả năng sinh lời nội địa của tư bản và tỷ suất lợi nhuận đã đồng loạtgiảm tới mức tới hạn do công nghệ truyền thống đã gặp phải những giới hạn nhưtài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt, vấn đề ô nhiễm môi trường, những giới hạn vềthị trường, vòng đời của sản phẩm bị thu hẹp do tốc độ phát triển nhanh của sảnxuất hàng hóa và tác động của công nghệ tin học Những giới hạn nêu trên đã đặt
ra yêu cầu phải thay thế công nghệ hiện có bằng kỹ thuật, công nghệ mới có năngsuất, chất lượng và hiệu quả cao, tiết kiệm nguyên vật liệu, tiêu hao ít nhiên liệu, ítảnh hưởng và tác động đến môi trường Đối với các nước phát triển, những yêu cầunày đặt ra hết sức cao Vì vậy xu hướng các công ty đa quốc gia tìm đến các nướcđang phát triển, các nước có khả năng nội sinh công nghệ hạn chế như Việt Nam
để thực hiện các hình thức đầu tư LD và chuyển giao công nghệ vẫn còn phát triểnmạnh Tuy nhiên, việc tiếp nhận các công nghệ từ nước ngoài vào phải có sự lựachọn phù hợp và cân nhắc chu đáo Nhưng đó vẫn là cơ hội cho các nước đi sau cóđược những công nghệ cần thiết mà ít phải tốn đến ngoại tệ hiếm hoi của mình
Bốn là, việc hình thành khối mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) tạo ra tính
năng động đối với các hình thức đầu tư trực tiếp và LDVNN ở các nước thành viêncủa nó trong đó có Việt Nam Điều đó có thể hiện trên các mặt sau:
+ Thứ nhất, dưới tác động của phân công lao động quốc tế trong nội bộ các
nước ASEAN, các nước phải lựa chọn các mặt hàng xuất khẩu có lợi thế so sánhđồng thời phải mở cửa thị trường của mình cho nhiều mặt hàng xuất khẩu từASEAN
Trang 4+ Thứ hai, dưới tác động của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
(CEPT), chu chuyển mậu dịch giữa các nước ASEAN sẽ được thúc đẩy, các yếu tốđầu vào sẽ được dễ dàng và thuận lợi, giá thành sản phẩm cuối cùng sản xuất tạiASEAN sẽ giảm
+ Thứ ba, để có cơ hội chiếm lĩnh được thị trường đáng kể ở ASEAN do
mức tăng cơ học về dân số và được hưởng các điều kiện ưu đãi đối với các sảnphẩm có nguồn gốc 40% từ ASEAN, các nhà đầu tư quốc tế sẽ tích cực đầu tư vàoASEAN và hình thức được ưa chuộng hơn cả là thành lập các công ty LD với cáccông ty của các nước thành viên ASEAN [13, tr 56-75]
Năm là, sự gia nhập của Việt Nam vào các tổ chức thương mại thế giới
(WTO) trong tương lai là nhân tố quan trọng trong việc thu hút các hình thức đầu
tư và LDVNN bởi vì khi đó: hàng sản xuất tại Việt Nam không những có chi phíthấp (do có lợi thế về giá nhân công rẻ) mà còn được hưởng mức thuế ưu đãi khixuất khẩu hàng sang các nước thuộc thị trường Bắc Mỹ, tạo cơ hội cho hàng hóaViệt Nam thâm nhập thị trường Bắc Mỹ đầy triển vọng
3.1.2 Thách thức
Một là, nguy cơ tụt hậu của nền kinh tế nước ta nói chung và xuất khẩu nói
riêng sẽ ngày trở nên nặng nề nếu không tìm được giải pháp tích cực Trong khi một
bộ phận của thế giới mới có tốc độ phát triển nhanh chưa từng có thì một số nướckhác ở châu Phi, châu Mỹ la tinh và châu Á trong đó có nước ta những gì cần pháttriển lại chưa phát triển Đặc điểm này đặt nước ta trước nguy cơ tụt hậu ngày càng
xa hơn so với các nước đi trước Sự phát triển kinh tế xã hội của Nghệ An khôngchỉ nằm trong nguy cơ này mà còn đứng trước nguy cơ đáng lo hơn là tụt hậu xahơn so với sự phát triển chung của cả nước
Hai là, sự cạnh tranh về thu hút vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI)
trong nội bộ các nước thành viên ASEAN khi gia nhập vào AFTA
Trang 5AFTA không tác động mạnh đến đầu tư trực tiếp nước ngoài giữa các nướcthành viên với nhau như đối với việc thu hút đầu tư trực tiếp từ bên ngoài vàoASEAN Vì thế quan hệ giữa các quốc gia ASEAN về việc thu hút vốn FDI sẽ vấpphải sự cạnh tranh quyết liệt hơn là sự hợp tác.
Xét trên góc độ ngành nghề thì AFTA gần như không ảnh hưởng tới đầu tưtrực tiếp nước ngoài vào những ngành sản xuất phi vật chất (ngành dịch vụ) Đồngthời AFTA cũng ít ảnh hưởng trực tiếp tới đầu tư trực tiếp nước ngoài trong cácngành công nghiệp phi chế biến như công nghiệp xây dựng, công nghiệp khai thác,đánh bắt thủy sản và nông nghiệp Ngược lại, AFTA tác động mạnh trực tiếp tớiđầu tư trực tiếp nước ngoài trong các ngành công nghiệp chế tạo, chế biến thựcphẩm, dệt may, cơ khí, hóa chất điện tử và vật liệu xây dựng Hiện tại, Việt Nam
có lợi thế so sánh đối với những ngành sử dụng nhiều lao động như ngành dệt may.Còn những ngành công nghiệp chế biến là những ngành đòi hỏi trình độ công nghệcao, vốn lớn Việc sản xuất các sản phẩm thuộc ngành này đòi hỏi phải có kinhnghiệm nhiều năm và cần có sự hỗ trợ của các ngành công nghiệp liên quan Một
số nước ASEAN như Singapore, Thái Lan, Malaisia, Indonesia đã có nền tảng vàđiều kiện thuận lợi tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài vào những ngành này.Các nước khác như Việt Nam, Lào, Campuchia sẽ có trở ngại trong việc thu hútđầu tư trực tiếp nước ngoài vào các ngành công nghiệp chế biến khi tham gia AFTA.Những hạn chế này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư vàocác ngành công nghiệp chế biến hàng nông sản, hải sản xuất khẩu ở Nghệ An
Ba là, ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, tiền tệ kéo dài trong khu vực.
Theo các chuyên gia kinh tế thế giới, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khuvực sẽ còn kéo dài trong 3 - 5 năm tới Trong bối cảnh như vậy, việc thu hút đầu tư
và phát triển SXHXK ở Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều mặt:
* Thứ nhất, trong khi chúng ta chưa thiết lập mối quan hệ lâu dài và bền
vững với những tập đoàn, công ty xuyên quốc gia có tiềm năng về vốn và côngnghệ thì đầu tư của các nước trong khu vực chiếm tỷ trọng chủ yếu Cuộc khủng
Trang 6hoảng tài chính, tiền tệ kéo dài sẽ làm giảm sút vốn FDI từ các nước trong khu vựcvào Việt Nam.
* Thứ hai, do tác động của khủng hoảng tài chính, tiền tệ, nhiều công ty,
doanh nghiệp của các nước trong khu vực bị phá sản hàng loạt, tạo điều kiện chocác nhà đầu tư nước ngoài mua lại với giá rẻ các cổ tức sẵn có (không phải đầu tưthêm) Hơn nữa, do công nghiệp chế tạo các nước này phát triển, trình độ sản xuất
và năng suất lao động cao hơn nên giá các nhân tố sản xuất rẻ hơn tương đối so vớiViệt Nam khiến cho các nhà đầu tư đổ vốn vào các nước này hơn là Việt Nam
* Thứ ba, Do khủng hoảng tài chính, tiền tệ, trong quan hệ thương mại và
xuất nhập khẩu, Việt Nam cũng phải chịu nhiều sức ép Các nước trong khu vựcASEAN như Indonesia, Malaisia, Thái Lan chịu tác động của cuộc khủng hoảngtài chính tiền tệ mạnh hơn nhiều so với Việt Nam, đồng tiền mất giá khiến cho giáhàng xuất khẩu của họ giảm mạnh Trong khi đó các nước này có nhiều mặt hàngxuất khẩu tương tự với Việt Nam Mặt khác tương quan giữa nhập khẩu và xuấtkhẩu của Việt Nam và các nước ASEAN thường nằm trong tỷ lệ 35/25 (gấp 1,5lần) Do đó làn sóng nhập khẩu từ ASEAN vào Việt Nam sẽ tăng nhanh và xuấtkhẩu của Việt Nam sẽ bị giảm sút do sự cạnh tranh về giá xuất khẩu của các nướcASEAN khác (ngoài Việt Nam) sang các nước thuộc khu vực Bắc Mỹ, Nhật, EU[13, tr 56-75]
Như vậy, thị trường sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam có xu hướng bị thu
hẹp, nhập khẩu có xu hướng tăng nhanh Các doanh nghiệp sản xuất trong nướcbao gồm cả khu vực có vốn đầu tư nước ngoài sẽ bị đình đốn và khó khăn trongsản xuất nhất là các doanh nghiệp SXHXK làm giảm sức hấp dẫn đối với việc thuhút các hình thức đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Việt Nam
Bốn là, tác động cạnh tranh về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và
sức ép về giá hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc và các khu vực khác
Trang 7Do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, số nước có tăng trưởng khá lànhững điều kiện tạo ra sự ổn định về đầu tư Tốc độ tăng trưởng và sự thay đổi mộtcách nhanh chóng mẫu mã, chủng loại đi đôi với việc giảm giá mạnh các loại hànghóa xuất khẩu của Trung Quốc là một thách thức lớn đối với hàng xuất khẩu củaViệt Nam
Năm là, việc cắt giảm thuế theo Hiệp định CEPT/AFTA giữa các nước
thành viên ASEAN có tác động trực tiếp đến khả năng thu hút đầu tư cho sản xuất hàng nông sản xuất khẩu của các nước nói chung và của Nghệ An nói riêng
Theo Hiệp định CEPT/AFTA các mặt hàng xuất khẩu nông sản xuất khẩuthô như lạc, vừng, cà phê, được xếp vào các mặt hàng "nhạy cảm" và "nhạy cảmcao", lịch trình cắt giảm thuế sẽ chậm hơn nhiều trong khi đó chỉ có Việt Nam làxuất khẩu các mặt hàng này sang các nước ASEAN khác chứ không có chiềungược lại Các nước này (trừ Lào, Campuchia, Mianma ) ở mức độ nào đó đang
áp dụng chính sách bảo hộ sản xuất nông nghiệp bằng thuế nhập khẩu Vì vậy việcchậm cắt giảm thuế các mặt hàng nông sản thô sẽ làm cho xuất khẩu các mặt hàngnày của Việt Nam sang các nước ASEAN sẽ gặp khó khăn Các mặt hàng xuấtkhẩu nông sản thô hiện nay vẫn đang còn chiếm 90% kim ngạch xuất khẩu củaNghệ An Vì vậy khả năng thu hút các hình thức LDVNN trong SXHXK ở Nghệ
An do lịch trình cắt giảm thuế này sẽ gặp khó khăn nhiều hơn là thuận lợi
Tóm lại, Trong bối cảnh quốc tế và khu vực hiện nay, cơ hội đối với việc
phát triển các hình thức LDVNN trong SXHXK ở Nghệ An cũng như trong phạm
vi cả nước là có, nhưng thách thức và khó khăn lại rất lớn Trong thời gian sắp tới,Nghệ An cũng như trong phạm vi cả nước, nếu không có những quan điểm và địnhhướng phát triển đúng đắn phù hợp, khả năng thu hút các hình thức đầu tư trực tiếpcủa nước ngoài nói chung và các hình thức liên doanh SXHXK nói riêng sẽ còntiếp tục giảm sút Đồng thời hiệu quả sản xuất kinh doanh của các dự án cũng khó
Trang 8được nâng cao Việc tìm ra những giải pháp khắc phục được những mặt tiêu cực vàphát huy được những mặt tích cực là hết sức cần thiết cho đầu tư phát triển.
3.2 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN NHẰM PHÁT TRIỂN CÁC HÌNH THỨC LIÊN DOANH VỚI NƯỚC NGOÀI TRONG SẢN XUẤT HÀNG XUẤT KHẨU
Trước bối cảnh của thời đại, để vượt qua thách thức, tận dụng cơ hội, pháthuy lợi thế nhằm mở rộng sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu, mỗi địa phương cũng như
cả nước nói chung phải biết phát huy vai trò của các hình thức tổ chức kinh tếtrong một cơ chế thích hợp Đối với hình thức LD, để đảm bảo đúng hướng và cóhiệu quả, cần nắm vững các quan điểm cơ bản sau đây:
3.2.1 Phát triển các hình thức LDVNN trong SXHXK phải trên cơ sở khai thác triệt để lợi thế so sánh, tạo ra lợi ích tối đa cho địa phương và đất nước
Để khai thác các lợi thế so sánh của địa phương và đất nước khi tham giavào thương mại quốc tế cũng như khai thác được sự tác động của các xu hướngvận động của nền kinh tế thế giới nhằm mở rộng quy mô xuất khẩu sản phẩm, cầnphải lựa chọn các hình thức đầu tư có hiệu quả Trong quá trình phát triển các hìnhthức LD thời gian qua, Nghệ An mới chỉ chú trọng thu hút và tập trung vốn Tuy
đã xây dựng được một số liên doanh SXHXK nhưng mới chú ý đến công nghiệpkhai thác và một vài sản phẩm công nghiệp hàng tiêu dùng tận dụng lao động giá
rẻ Đó mới chỉ là một phương diện Một phương diện rất quan trọng chưa được chú
ý và hướng đến cần phải có là quan điểm phát triển nền nông nghiệp sinh thái, chấtlượng cao và các ngành công nghiệp mới, nhất là công nghiệp điện tử và tin học.Nghệ An và cả nước ta có nhiều lợi thế về các ngành này
Trong khi nhấn mạnh quan điểm coi trọng phát triển các hình thức liêndoanh SXHXK, phải triệt để khai thác và phát huy lợi thế so sánh, cần phê phán vàloại trừ những biểu hiện phát triển doanh nghiệp LD ở bất cứ ngành nghề nào miễn
Trang 9là tập trung, thu hút được vốn Bài học vừa qua cho thấy do không đánh giá đúnglợi thế so sánh nên việc xây dựng doanh nghiệp LD lúc đầu là nhằm xuất khẩu sảnphẩm, nhưng về sau - khi đã xây dựng xong và đi vào hoạt động - lại chỉ là thaythế nhập khẩu trong điều kiện có bảo hộ bởi hàng rào phi thuế quan và thuế quancao.
Quan điểm khai thác triệt để lợi thế so sánh tạo ra lợi ích tối đa chođất nước trong phát triển sản xuất hàng xuất khẩu có ý nghĩa định hướng việc lựachọn ngành, sản phẩm và lĩnh vực LD
3.2.2 Gắn phát triển các hình thức LDVNN trong SXHXK với yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH
Phát triển hình thức LDVNN trong SXHXK không chỉ là hình thức tậptrung vốn cho mở rộng đầu tư triển khai các dự án phát triển công nghiệp, thựchiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, mà còn là giải pháp về việclàm, mở rộng năng lực khai thác các nguồn lực tự nhiên, tăng nhanh khối lượngsản phẩm xuất khẩu, qua đó mà tạo ra tiềm lực công nghệ và tài chính, tạo nguồnngoại tệ cho đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Nếu trước đây chúng ta tiến hành CNH hướng nội trên cơ sở tự lực cánhsinh dựa vào sức mình là chính đồng thời tranh thủ sự viện trợ của các nướcXHCN anh em, thì ngày nay quan điểm chiến lược CNH, HĐH được xác định làhướng mạnh vào xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những mặt hàngtrong nước sản xuất có hiệu quả Đây là một chiến lược đúng đắn, cho phép pháthuy lợi thế của nước đi sau trong phát triển công nghiệp để rút ngắn đáng kể thờigian, sớm có được nền công nghiệp hiện đại Gắn phát triển các LDVNN trongSXHXK với yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trước hết phải thể hiện thôngqua việc thực hiện quan điểm chiến lược hướng mạnh vào xuất khẩu Các doanhnghiệp LD phải trở thành lực lượng "đầu tàu" trong việc thu hút và tập trung vốn,
Trang 10tiếp nhận chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý và phải hướng mục đíchcủa các hình thức LDVNN trong SXHXK đến với quá trình trang bị kỹ thuật, côngnghệ tiên tiến cho các ngành kinh tế quốc dân để thực hiện chuyển dịch cơ cấukinh tế theo hướng hiện đại, đảm bảo phát triển nền kinh tế mở, hội nhập với khuvực và quốc tế Tức là nội dung cơ bản của CNH, HĐH sẽ được thực hiện thôngqua nhiều hình thức tổ chức kinh tế, trong đó có hình thức LD.
Việc quán triệt quan điểm này đòi hỏi phải chống tư tưởng LD chỉ vì lợi íchtrước mắt, vì bản thân các đối tác LD mà thiếu quan tâm đến yêu cầu phát triểnchung của toàn bộ nền kinh tế và nhiệm vụ trọng đại của toàn dân tộc đang phảitriển khai thực hiện là đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
3.2.3 Phát triển các hình thức LDVNN trong SXHXK phải trên cơ sở
đa dạng hóa về chế độ sở hữu, phát huy cao độ nội lực của dân tộc, khai thác tối đa thế mạnh của các vùng và các ngành sản xuất
Trong các hình thức LDVNN hiện nay, hầu hết các đối tác trong nước đều
từ các doanh nghiệp nhà nước, đó là một hạn chế lớn gây ảnh hưởng đến việc huyđộng tối đa các nguồn lực trong xã hội cho phát triển kinh tế nói chung và cho sảnxuất khẩu nói riêng Vì vậy trong thời gian sắp tới để phát triển các hình thứcLDVNN trong SXHXK cần chú ý các mặt sau:
Phải đa dạng hóa chế độ sở hữu, kể cả đan xen về chế độ sở hữu ngay trongmỗi doanh nghiệp LD Ở đó, có thể các đối tác là các doanh nghiệp cùng thuộc mộtloại hình sở hữu (chẳng hạn các doanh nghiệp nhà nước LD với nhau, hoặc các đốitác là doanh nghiệp tư nhân LD với nhau v.v ) và cũng có thể là các doanh nghiệpthuộc các hình thức sở hữu khác nhau (chẳng hạn, LD giữa doanh nghiệp nhà nướcvới doanh nghiệp tư nhân trong nước, giữa doanh nghiệp nhà nước với doanhnghiệp tư bản nước ngoài ) Sự LD trên cơ sở đa dạng về chế độ sở hữu như vậy
là rất cần thiết và hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Đảng ta về phát triển nềnkinh tế nhiều ngành nhiều thành phần Và chỉ như vậy mới huy động được các
Trang 11nguồn nội lực, đồng thời thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài,gắn kết với các nguồn nội lực để thúc đẩy phát triển.
Nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện đang tồn tại các hình thức sởhữu bao gồm sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu cá thể của những tiểu chủtrong sản xuất kinh doanh và dịch vụ, sở hữu tư bản tư nhân và sở hữu hỗn hợpgiữa các hình thức kinh tế tư bản nhà nước, trong đó sở hữu Nhà nước là chủ đạo,
có vị trí hết sức quan trọng Việc tổ chức các hình thức LDVNN trong SXHXKtrong từng thời gian không nên câu nệ về quan hệ tỷ lệ giữa các hình thức sở hữu
và sự đan xen có mặt tất cả các hình thức sở hữu tại một doanh nghiệp Ngoại trừcác ngành, lĩnh vực kinh tế trọng yếu, then chốt mà sở hữu nhà nước phải nắm tỷ lệkhống chế trong doanh nghiệp LD, còn các doanh nghiệp LD khác không nên quyđịnh về tỷ lệ sở hữu của mỗi thành phần kinh tế tham gia LD, miễn sao LD đó rađời và hoạt động phù hợp với pháp luật, sản xuất kinh doanh có hiệu quả
3.2.4 Phát triển các hình thức LDVNN trong SXHXK trên cơ sở đa dạng hóa về thị trường và đa phương hóa về đối tác
Để thực hiện tốt chiến lược hướng mạnh về xuất khẩu, bên cạnh các hìnhthức đầu tư khác, cần đẩy mạnh phát triển hình thức LD cả về số lượng và chấtlượng Về số lượng tức là các doanh nghiệp LD ngày càng tăng lên không chỉ ởkhu vực doanh nghiệp nhà nước mà còn ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh,không chỉ là các LD thuần túy SXHXK mà còn các hình thức LD khác như thươngmại, dịch vụ, LD tổng hợp cả sản xuất và tiêu thụ, liên doanh tổng hợp nhiều lĩnhvực Về chất lượng tức là các doanh nghiệp LD được thành lập phải có nội dunghoạt động, phải thể hiện khả năng hoạt động ổn định, các khoản lợi ích mà doanhnghiệp LD thu được cho mình và tạo ra cho đất nước ngày càng tăng; trong cácLDVNN, phía Việt Nam ngày càng có ảnh hưởng lớn, tiềm lực công nghệ hiện đạicũng như các ngành mũi nhọn được hình thành; tiềm lực xuất khẩu cho đất nướcqua LD được mở rộng
Trang 12Muốn vậy, phải gắn phát triển các hình thức LDVNN trong SXHXK vớichiến lược đa dạng hóa về thị trường và đa phương hóa về đối tác Đa dạng hóa vềthị trường là nhằm mở rộng thị trường và đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu
Đa phương hóa về đối tác là đòi hỏi bức xúc của xu thế tự do hóa thươngmại và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay và những năm tiếp theo Để vận độngtheo xu thế này và cũng là thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu, trong quan hệ LD cầnphải ra sức mở rộng quan hệ thị trường và đối tác nước ngoài Giữ vững và tạothêm quan hệ với các đối tác truyền thống, tìm kiếm đối tác trên thị trường mới.Đặc biệt, cần chủ động góp vốn đầu tư từ các nước công nghiệp phát triển để tiếpnhận chuyển giao "công nghệ gốc" Mở rộng LD với các đối tác thuộc các nướctrong khu vực Đông Nam Á và Đông Bắc Á, các nước Bắc Âu
3.2.5 Phát triển các hình thức LDVNN trong SXHXK phải hướng tới mục đích phát triển một nền kinh tế bền vững
Quan điểm này nhằm gắn việc phát triển các hình thức LDVNN trongSXHXK với các giải pháp bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ các nguồn tàinguyên thiên nhiên và phát triển lực lượng sản xuất trong nước
3.2.6 Phát triển các hình thức LDVNN trong SXHXK phải trên quan điểm toàn diện về cả mặt hiệu quả tài chính và các mặt hiệu quả kinh tế-xã
hội
Mục đích phát triển các hình thức LDVNN trong SXHXK là thu hút, tậptrung vốn, phát triển kỹ thuật, công nghệ, khai thác tối đa lợi thế so sánh, mở rộngthị trường, tăng nhanh giá trị hàng hóa xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ Tiêu chuẩn caonhất của việc phát triển các LD là nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội
Nếu xét riêng từng bên tham gia LD, không kể bên Nhà nước và các đốitác là các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác hoặc với các nướcngoài, thì tiêu chuẩn trực tiếp là hiệu quả sử dụng vốn hay mức lợi nhuận thu được
Trang 13Song, nếu xét về phía Nhà nước, tức là về phía toàn bộ nền kinh tế quốc dân, thì điềuquan tâm trước hết trong đánh giá dự án và đánh giá kết quả hoạt động của cácdoanh nghiệp LD cũng như toàn bộ hoạt động LD là hiệu quả kinh tế - xã hội thuđược Hiệu quả ấy thể hiện trên các mặt chủ yếu như sau:
- Phù hợp với phương hướng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốcdân theo hướng CNH, HĐH tạo sản lượng hàng hóa có sức cạnh tranh và vươn xatrên thị trường quốc tế
- Nâng cao trình độ khoa học- công nghệ của sản xuất, thúc đẩy sự pháttriển có tính chất liên ngành và liên vùng
- Tạo ra được sản phẩm có giá trị gia tăng trong nước cao, tạo thêm nhiềuviệc làm, góp phần vào việc giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc
3.3 CÁC GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM PHÁT TRIỂN CÓ HIỆU QUẢ CÁC HÌNH THỨC LIÊN DOANH VỚI NƯỚC NGOÀI TRONG SẢN XUẤT HÀNG XUẤT KHẨU Ở NGHỆ AN
3.3.1 Hoạch định một chiến lược phát triển các hình thức LDVNN trong SXHXK gắn với chiến lược tổng thể phát triển kinh tế xã hội của cả tỉnh
Sở dĩ cần phải có một chiến lược tổng thể cho phát triển các hình thức
LDVNN trong SXHXK, bởi vì: trước hết, LD là một hình thức tổ chức kinh tế không phải ra đời, tồn tại và phát triển một cách tự phát; thứ hai do trình độ phát
triển kinh tế của Nghệ An còn thấp, các nguồn lực rất khan hiếm, nên việc huyđộng các nguồn lực dưới hình thức tổ chức kinh tế nào và việc phối hợp các hình
thức đó trong nền kinh tế lại càng đòi hỏi tính chủ động cao hơn; thứ ba, tất nhiên
cơ chế thị trường có vai trò điều tiết sự hình thành các tổ chức kinh tế kể cả hìnhthức LD, nhưng nó chỉ có ý nghĩa trong ngắn hạn, bởi vậy cần phải có một tổ chứcnhân danh xã hội là Nhà nước trong việc xác định con đường phát triển và tạo ra
các điều kiện thực hiện trong dài hạn; thứ tư, chiến lược tổng thể phát triển các
Trang 14hình thức LDVNN trong SXHXK sẽ một tài liệu cung cấp "tầm nhìn" và khuônkhổ tổng quát, xác định rõ vị trí của hình thức LD trong các hình thức đầu tư trong
hệ thống các loại hình doanh nghiệp của nền kinh tế, qua đó mà có thái độ và biệnpháp thích hợp
Vì hình thức LDVNN trong SXHXK chỉ là một bộ phận cấu thành trongtoàn bộ đầu tư của một tỉnh cũng như của cả nước, nên việc hoạch định chiến lượcphát triển của bộ phận này nhất thiết phải được đặt trong chiến lược đầu tư của nềnkinh tế Trong khi đó chiến lược đầu tư này có nhiệm vụ bảo đảm thực hiện đượccác mục tiêu chiến lược CNH, HĐH tạo cốt vất chất cho các mục tiêu phát triểnkinh tế - xã hội Bởi vậy quá trình hoạch định chiến lược phát triển các hình thứcLDVNN trong SXHXK không thể tách rời, biệt lập với chiến lược đầu tư và chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và của cả nước, mà phải đặt trong mối quan
hệ gắn bó hữu cơ, trong đó LDVNN trong SXHXK chỉ là một con đường thực hiệnchiến lược phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn CNH, HĐH
Thực tiễn vừa qua ở Nghệ An cho thấy tuy đã có chủ trương phát triển cáchình thức đầu tư LD, nhưng do thiếu quan tâm đến quy hoạch chiến lược phát triểnhình thức này, nên quá trình phát triển còn thụ động, lúng túng, chưa thu hút mạnh
mẽ và có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư vào LD Trong thời gian đến, để phát triểnhình thức đầu tư này mạnh mẽ hơn, vững chắc hơn, cần phải coi hoạch định chiếnlược tổng thể phát triển các hình thức LDVNN trong SXHXK là một giải pháp rấtquan trọng
Nội dung việc hoạch định chiến lược phát triển các hình thức LDVNNtrong SXHXK ở Nghệ An cần phải gắn với chiến lược tổng thể đầu tư phát triểnkinh tế và xã hội của cả tỉnh đồng thời phải dựa vào cơ sở đánh giá và dự báo vềnhững mặt sau:
- Tiềm năng và triển vọng phát triển các mặt hàng xuất khẩu ở Nghệ An
Trang 15- Bối cảnh quốc tế và khu vực trong giai đoạn hiện nay- cơ hội và tháchthức.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật và các công trình hạ tầng, trình độ phát triển củalực lượng sản xuất trong tỉnh
- Khả năng huy động các nguồn lực của địa phương
- Quy hoạch phát triển hệ thống doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tếtrong tỉnh và khả năng thực hiện các dự án đầu tư của các doanh nghiệp này
- Khả năng mở rộng thị trường xuất khẩu của các mặt hàng mà Nghệ An cóđiều kiện và cần phát triển
- Khả năng sinh lãi và hiệu quả kinh tế xã hội của các dự án đầu tư
- Các hình thức đầu tư và LD phù hợp
Tổng hợp những cơ sở trên và tham khảo báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnhNghệ An trong QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH NGHỆ AN THỜI KỲ 1996 - 2010 (Phụ lục 5) Tác giả xếp các dự án đầu tư sản xuấthàng xuất khẩu ở Nghệ An từ nay đến năm 2010 thành 4 nhóm để lựa chọn hình thứcđầu tư LD như sau:
* Nhóm thứ nhất: Các dự án đầu tư mở rộng sản xuất, tăng năng suất sản
lượng và nâng cao chất lượng sản phẩm của các loại cây trồng và vật nuôi có khả năng xuất khẩu tương đối lớn ở Nghệ An
Như chương 2 đã đề cập, sản phẩm của các loại cây trồng vật nuôi có khảnăng xuất khẩu ở Nghệ An bao gồm: lạc, vừng, ớt, tỏi, dâu tằm, cà phê, chè, cam,trâu bò, lợn, nuôi trồng thủy sản, bò sữa Trong đó mặt hàng lạc và thủy sản là mặthàng chủ lực mà Nghệ An cần tập trung phát triển
- Nội dung đầu tư của các dự án này bao gồm:
+ Quy hoạch và đầu tư cải tạo đồng ruộng, nương đồi, đồng cỏ, đầm lầy,đầm phá và ao hồ
Trang 16+ Du nhập giống mới, sản xuất thử và nhân rộng diện tích.
+ Tăng mật độ nuôi trồng và áp dụng quy trình chăm bón tiên tiến
+ Cung cấp lương thực, phân bón và thuốc trừ sâu cho nhân dân các vùngsản xuất hàng xuất khẩu theo hợp đồng hai chiều ổn định và lâu dài
+ Hướng dẫn quy trình thu hái theo đúng yêu cầu của xuất khẩu, tổ chứcmạng lưới thu gom và cung ứng đầu tư lượng vốn lưu động cần thiết cho việc thumua sản phẩm
+ Đầu tư xây dựng, cải tạo hệ thống kho tàng bảo đảm các yêu cầu cần thiếtnhư độ ẩm, nhiệt độ, độ thông thoáng, khô ráo (riêng các sản phẩm thủy sản phảixây dựng các kho lạnh bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật) có khả năng bảo quản và dựtrữ các sản phẩm xuất khẩu với thời gian tương đối dài để chủ động trong xuấtkhẩu, hạn chế yếu tố mùa vụ
- Đặc điểm của các dự án đầu tư này là địa bàn đầu tư rất dàn trải, từ lúcgieo trồng đến thời gian thu hoạch kéo dài, vòng quay vốn lưu động chậm, thờigian thu hồi vốn đầu tư lâu, khả năng sinh lãi trên vốn đầu tư nhỏ nhưng rủi ro lạicao Nhưng hiệu quả kinh tế xã hội và tầm quan trọng của nó rất lớn Phát triển các
dự án này tạo ra việc làm và thu nhập ổn định cho hàng triệu lao động, giảm tỷ lệthất nghiệp, xóa đói giảm nghèo và thay đổi bộ mặt của nông thôn, miền núi, miềnbiển, thực hiện chuyển dịch cơ cấu các loại cây trồng vật nuôi Đồng thời lợi íchcủa nó còn được thực hiện một cách gián tiếp thông qua việc nhập khẩu các loạihàng hóa, vật tư thiết bị từ nguồn ngoại tệ do xuất khẩu các mặt hàng này tạo ra
Tuy trước mắt việc xuất khẩu các mặt hàng này còn khó khăn nhưng triểnvọng sẽ khả quan khi xu thế tiêu dùng một số loại thực phẩm của thế giới văn minhđang hướng về các sản phẩm tự nhiên thuần túy
+ Với các dự án này hình thức LD thích hợp nhất là phát triển các hợp đồnghợp tác kinh doanh giữa các doanh nghiệp của địa phương và các đối tác nướcngoài
Trang 17Tuy nhiên do đặc điểm của các dự án đầu tư này là tỷ lệ sinh lãi thấp nhưnghiệu quả kinh tế xã hội rất lớn nên cần có sự hỗ trợ thích đáng của Nhà nước và sựgiúp đỡ của chính quyền địa phương Bằng nguồn vốn của ngân sách hoặc nguồnvốn vay ODA chính quyền địa phương cần hỗ trợ đầu tư trong một số nội dungnhất định như cải tạo đồng ruộng, đầm phá, xây dựng hệ thống tưới tiêu, xây dựng
hệ thống kho tàng, xây dựng hệ thống cầu cống và đường giao thông, hỗ trợ để ổnđịnh đời sống cho dân cư các vùng sản xuất hàng xuất khẩu, trợ giá như một sốmặt hàng nông sản
* Nhóm thứ hai: Các dự án đầu tư xây dựng và cải tạo các cơ sở chế biến hàng nông sản, hải sản xuất khẩu.
Như chương 2 đã đề cập, Nghệ An có khả năng phát triển các nguồnnguyên liệu cho công nghiệp chế biến hàng xuất khẩu và tiêu dùng nội địa nhưmía, ngô, sắn, cà phê, chè một tỷ lệ nhất định của lạc, vừng, hải sản, thủy sản vàthịt gia súc, gia cầm
- Nội dung đầu tư:
+ Xây dựng nhà máy chế biến đường, chế biến bột ngô ăn liền và tinh dầungô, chế biến sắn khô và keo công nghiệp, chế biến cà phê, chế biến chè đen, chèxanh, ép dầu thực vật, chế biến cá hộp và thịt hộp, chế biến sữa bò, chế biến bánhkẹo cao cấp từ các loại nông sản như lạc,vừng, đậu
- Đặc điểm của các dự án này là đầu tư tập trung vào một số vùng có khảnăng phát triển các nguồn nguyên liệu nhưng cơ sở hạ tầng như điện, nước, giaothông phải bảo đảm Do phải đầu tư xây dựng nhà xưởng, trụ sở, các công trìnhphụ trợ và đầu tư trang thiết bị máy móc hiện đại nên tổng vốn đầu tư tương đốilớn, phải có bộ máy quản lý tập trung và đội ngũ công nhân được đào tạo một cách
cơ bản
Trang 18Thực hiện các dự án đầu tư này nhằm khai thác tối đa khả năng phát triểncác nguồn nguyên liệu từ nông sản hải sản ở Nghệ An; tạo ra giá trị gia tăng lớnhơn cho hàng xuất khẩu; thực hiện chuyển dịch cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu ởNghệ An theo hướng tăng dần tỷ trọng giá trị các mặt hàng xuất khẩu đã qua chếbiến; khắc phục những hạn chế của việc xuất khẩu các mặt hàng nguyên liệu và sảnphẩm thô; tăng thêm việc làm cho người lao động và thúc đẩy công nghiệp địaphương phát triển; đào tạo tay nghề và nâng cao trình độ tổ chức sản xuất vàchuyên môn nghiệp vụ cho bộ máy quản lý của các doanh nghiệp địa phương.
Với các dự án đầu tư này nên tạo điều kiện để thành lập các xí nghiệp LDtrong các ngành hàng mà Nghệ An đã có kinh nghiệm sản xuất và có các cơ sở chếbiến nhất định như chế biến chè đen, sản xuất bánh kẹo, ép dầu thực vật Cácngành hàng khác cần khuyến khích và thu hút đầu tư dưới hình thức thành lập xínghiệp 100% vốn nước ngoài sẽ có hiệu quả hơn
Tuy nhiên đầu tư phát triển các dự án này ở Nghệ An nói riêng và ở ViệtNam nói chung còn rất khó khăn do khả năng nội sinh công nghệ còn hạn chế, giáthu mua nguyên liệu cao, chi phí sản xuất lưu thông lớn nên giá thành cao, khóxuất khẩu Để có thể phát triển các dự án này cũng cần có các chính sách ưu đãiphù hợp của Nhà nước và sự giúp đỡ của chính quyền địa phương trong việc hỗ trợđầu tư phát triển vùng nguyên liệu, xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ đào tạo và trợgiá thu mua nông sản
* Nhóm thứ ba: Các dự án đầu tư nhằm khai thác các nguồn tài nguyên
sẵn có như đá vôi trắng, thiếc, gỗ, hải sản tự nhiên để sản xuất và chế biến hàng xuất khẩu.
Các dự án đầu tư này tổng mức đầu tư không quá lớn và thời gian thu hồivốn tương đối nhanh Việc khai thác phải đi đối với các giải pháp bảo vệ các nguồntài nguyên và bảo vệ môi trường sinh thái nhằm mục đích phát triển bền vững Đốivới các dự án này cần đầu tư bằng các nguồn vốn của ngân sách quốc gia hoặc
Trang 19ngân sách của địa phương hoặc bằng các nguồn vốn tự có của các doanh nghiệpquốc doanh để chủ động điều chỉnh mức độ và quy hoạch khai thác một cách hợp
lý Chỉ nên thành lập các xí nghiệp LD với nước ngoài trong những trường hợpthật cần thiết như thiếu thị trường tiêu thụ, việc khai thác tài nguyên đi đôi vớicông nghệ chế biến cao, nguồn vốn đầu tư quá lớn mà trong nước chưa đảm đươngnhư sản xuất xi măng, sản xuất sản phẩm gỗ mỹ nghệ và đá ốp lát
* Nhóm thứ tư: Các dự án đầu tư nhằm khai thác nguồn lao động dồi dào
ở Nghệ An ( bao gồm cả lao động trí tuệ) cho SXHXK.
Bao gồm các dự án thuộc ngành dệt, may, giày da, điện tử, tin học, nghiêncứu ứng dụng
Các ngành nghề dệt, may, giày da ở Nghệ An đã có một số cơ sở sản xuấtnhất định, đội ngũ công nhân được đào tạo ở các cơ sở sản xuất trong nước tươngđối đông, vốn đầu tư không quá lớn Nhưng vấn đề khó khăn nhất ở các cơ sở sảnxuất này là vấn đề mẫu mã sản phẩm, vấn đề chất lượng và thị trường tiêu thụ, vấn
đề tổ chức sản xuất có hiệu quả Đối với các ngành này không nên giới hạn bất cứmột hình thức đầu tư hoặc LD nào miễn là có hiệu quả Tuy nhiên, các ngành hàngnày lại ít sử dụng vật tư và nguyên vật liệu trong nước, trong khi đó nhu cầu tiêudùng nội địa hầu như đã được đáp ứng bởi các cơ sở sản xuất trong nước và củađịa phương bao gồm cả những nhà máy có dây chuyền thiết bị hiện đại lẫn những
cơ sở sản xuất thủ công và sản xuất gia đình Vì vậy đối với những dự án đầu tưLDVNN trong ngành hàng này, phải có yêu cầu bắt buộc là tỷ lệ xuất khẩu phảitrên 50% để không gây khó khăn cho các cơ sở sản xuất trong nước
Về các lĩnh vực đầu tư cần sử dụng nhiều lao động chất xám, hiện nay ởNghệ An chưa phát triển vì trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật còn kém, thiết bị vàphương tiện để nghiên cứu, thí nghiệm còn nghèo nàn, môi trường đầu tư chưathuận lợi và nhu cầu để ứng dụng và thực hành còn hạn chế Nhưng người Nghệ
An có truyền thống hiếu học, ham tìm tòi, không chịu lùi bước trước khó khăn, lực
Trang 20lượng trí thức trong ngành giáo dục, y tế và các ngành nghiên cứu cơ bản tương đốilớn, đặc biệt Nghệ An có rất nhiều nhà khoa học, các nhà quản lý, chuyên gia kinh
tế, kỹ thuật làm ăn và sinh sống ở khắp mọi miền đất nước Nếu có môi trườngthuận lợi, có điều kiện và cơ hội để phát huy, chắc chắn sẽ thu hút được rất nhiềunhân tài và vật lực Đó vừa là thách thức vừa là cơ hội để phát triển các dự án đầu
tư LD sử dụng nhiều lao động chất xám ở Nghệ An
Ngoài ra, ở Nghệ An cũng cần khuyến khích và tạo mọi điều kiện để pháttriển các dự án LD ra nước ngoài dưới hình thức các công ty của địa phương thựchiện LD với các công ty của nước ngoài và đưa những kỹ sư, chuyên gia kinh tế kỹthuật và đội ngũ lao động của mình sang tham gia sản xuất kinh doanh trong một
số ngành hàng nhất định như may mặc, xây dựng, đánh cá, trồng trọt, khai tháckhoáng sản, gỗ Có thể tiến hành LD ở một số ngành nghiên cứu cơ bản qua việccung cấp các chuyên gia kinh tế kỹ thuật, chuyên gia về y tế, giáo dục Đây là mộthình thức LD để xuất khẩu lao động trên cơ sở hợp tác và phân công lao động, đặcbiệt hình thức LD ra nước ngoài này có thể phát triển mạnh ở một số thị trườngnhư các nước Liên Xô cũ, Các nước Đông Âu, các nước Châu Phi, Trung Đông vàgần nhất là các nước Lào, Campuchia
3.3.2 Đẩy mạnh công tác nghiên cứu và xúc tiến thị trường cho SXHXK ở Nghệ An
Những năm qua, nhân tố ngăn trở nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu và do đóngăn trở phát triển các hình thức liên doanh SXHXK của Nghệ An là sự yếu kémtrong nghiên cứu và mở rộng thị trường Chẳng hạn, Anh là một thị trường khá lớntiêu thụ sản phẩm của Việt Nam, nhưng chúng ta lại không xuất khẩu được trựctiếp sang thị trường này Các công ty thương nhân Anh đã mua hàng hải sản của taqua Hồng Công, Singapore và Thái Lan Trước đây người Anh tiêu dùng chè đen
và chè xanh của Việt Nam qua các thương nhân Hồng Công và Singapore Gần đây
Trang 21nhờ khảo sát thị trường mà Công ty chè Việt Nam đã LD với hai công ty chè củaAnh, mở ra cơ hội xuất khẩu trực tiếp sản phẩm chè sang thị trường đầy tiềm năngnày.
Đức là thị trường có khả năng tiêu thụ một khối lượng khá lớn sản phẩmcủa Việt Nam như thực phẩm đông lạnh, thịt hộp, cà phê, chè, giày dép, may mặc;đồng thời Việt Nam cũng có nhu cầu tiêu thụ nhiều sản phẩm của Đức như máymóc, thiết bị cho ngành dệt, luyện kim, năng lượng, cơ khí, dược phẩm, hóa chất
Có thể áp dụng hình thức LD để thực hiện đối lưu các mặt hàng này nếu có khảosát tốt thị trường
Liên bang Nga là một thị trường truyền thống và dễ chấp nhận các sảnphẩm xuất khẩu của Việt Nam bao gồm các hàng nông sản nhiệt đới như lạc càphê, quả khô, rau quả tươi, quả hộp Ta có thể tìm kiếm hình thức LD nhằm chế biến,bảo quản, vận chuyển và tiêu thụ hàng hóa trên thị trường này v.v
Cần để ý rằng, tìm kiếm thị trường là một giải pháp rất quan trọng để giảiquyết sản phẩm "đầu ra" của các doanh nghiệp Trong điều kiện các nền kinh tếvừa có cạnh tranh vừa có bảo hộ như hiện nay, bên cạnh các giải pháp thúc đẩy tìmkiếm thị trường, quảng cáo, tiếp thị để trực tiếp xuất khẩu, thì LDVNN mà trựctiếp với nước có khả năng tiêu thụ sản phẩm của ta sẽ mở ra cơ hội mới để ta thâmnhập và "chen chân" vào thị trường nước họ Các lý thuyết giải thích cơ sở của LDcũng như thực tế phát triển LD ở các nước đã hoàn toàn chứng tỏ điều này Bởivậy, giải pháp này cần phải tích cực xúc tiến làm căn cứ cho việc lựa chọn đối táctrong chiến lược phát triển LD trong SXHXK
3.3.3 Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư nhằm thúc đẩy phát triển
và nâng cao hiệu quả hoạt động của các LDVNN trong SXHXK
Môi trường đầu tư hấp dẫn, lành mạnh, thông thoáng, ổn định và ít rủi ro làmong muốn của các chủ đầu tư Trong thời gian qua, một trong những nguyên
Trang 22nhân dẫn đến sự kém phát triển và hiệu quả thấp đối với quá trình phát triển cáchình thức LDVNN trong SXHXK ở Nghệ An và một số tỉnh nông nghiệp kháctrong cả nước chính là môi trường đầu tư chưa thuận lợi và ổn định Đây vừa lànguyên nhân thuộc về hệ thống chính sách kinh tế và quản lý vĩ mô của Nhà nước,vừa thuộc về quá trình tổ chức thực hiện của các ngành, các địa phương Việc tiếptục cải thiện môi trường đầu tư thuận lợi để phát triển các hình thức tổ chức hoạtđộng kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước trong đó có cáchình thức LDVNN trong SXHXK đang trở nên thiết yếu để các tổ chức kinh tế vàcác hình thức hoạt động này phát huy hiệu quả.
Việc tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư bao hàm nhiều nội dung khácnhau và có liên quan chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể thống nhất Dưới đâytác giả xin đưa ra một số nội dung cơ bản cần được thực hiện trong những năm tới
3.3.3.1 Đẩy mạnh hơn nữa việc hoàn thiện môi trường pháp lý và thủ tục hành chính trong việc thành lập và quản lý các hình thức LDVNN
Trước hết cần phải sớm cải tiến và nâng cao chất lượng công tác ban hành các văn bản pháp quy, tránh tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo, nhiều văn bản
nhưng thiếu cụ thể và tình trạng ban hành quá chậm trễ các văn bản hướng dẫndưới luật
Hệ thống pháp luật phải được tiếp tục hoàn thiện theo hướng phát triển nềnkinh tế thị trường mở cửa, thiết lập một "sân chơi phẳng" cho các doanh nghiệpthuộc tất cả các thành phần kinh tế sản xuất kinh doanh, tạo sự bình đẳng và cạnhtranh lành mạnh, chống độc quyền và phù hợp với thông lệ quốc tế Hoàn thiệnpháp luật theo hướng này không chỉ có ý nghĩa thúc đẩy phát triển các hình thức tổchức doanh nghiệp của kinh tế thị trường mà còn trở nên cần thiết để nền kinh tếcủa ta hội nhập vào xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hóa các quan hệ quốc tếthương mại
Trang 23Sớm ban hành luật LD trong đó không chỉ hàm chứa các điều khoản vềLDVNN mà còn hàm chứa các điều khoản quy định về LD giữa các đối tác trongnước, hướng thành lập các doanh nghiệp LD tập trung vào khôi phục các cơ sở sảnxuất kinh doanh đang thua lỗ, gắn với việc tạo ra tiềm lực công nghệ quốc gia, tạo
ra sự phát triển bền vững Về vấn đề này, hiện nay ta mới chỉ lồng ghép các điềukhoản quy định về LDVNN trong luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam ban hànhtháng 12 năm 1987, đã sửa đổi bổ sung tháng 2 năm 1997, chứ chưa có các điềukhoản về LD giữa các doanh nghiệp trong nước, mặc dù đã có chủ trương củaĐảng Đây cũng là nguyên nhân giải thích vì sao thời gian qua các doanh nghiệptrong nước chỉ tiến hành LD dưới hình thức "kinh tế ngầm"
Đa dạng hóa hình thức pháp lý của LD cũng là một yêu cầu của luật đầu tư
trong thời gian tới, không nên quy định một hình thức pháp lý duy nhất đối với cácdoanh nghiệp LD là công ty trách nhiệm hữu hạn, mà cần có quy định mới baohàm cả hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm vô hạn, các hợp đồng giacông hàng xuất khẩu, các hiệp hội góp vốn hữu hạn với tư cách là những hình thứcpháp lý tạo khả năng thu hút vốn dưới các kênh khác nhau cũng như khả năng mởrộng hoạt động của các thị trường vốn trong nước
Vừa qua (tháng 6/2000), Quốc hội đã thông qua việc ban hành luật khoahọc và công nghệ, tạo khung pháp lý chung cho mọi hoạt động khoa học và côngnghệ, khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân tham gia vào phát triển khoa học, côngnghệ, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư thích đáng cho phát triển khoahọc, công nghệ và tham gia vào thị trường công nghệ Đây là bước tiến mới trongquá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật của Nhà nước Tuy nhiên, cần khắc phụcnhững yếu kém trong việc triển khai thực hiện như thời gian qua Chính phủ cầncùng với Bộ khoa học, Công nghệ và Môi trường và các Bộ ban ngành khác có liênquan sớm ban hành các Nghị định, Thông tư, hướng dẫn thi hành luật này, nhằmđưa luật vào đời sống
Trang 24Việc ban hành các văn bản pháp lý liên quan đến khoa học và công nghệcần phải có sự thống nhất với việc ban hành các chính sách về nghiên cứu, triểnkhai và phát triển công nghệ, phù hợp với mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xãhội của cả nước cũng như của địa phương Bảo đảm định hướng việc nghiên cứu
và triển khai công nghệ trong các ngành kinh tế nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo hướng hiện đại, xây dựng hạt nhân công nghệ có vai trò thúc đẩy phát triểnvùng, chuyển dịch cơ cấu vùng
Ngoài ra, cần gắn việc phát triển các hình thức LD với việc đẩy mạnh xuấtkhẩu như việc ưu đãi thuế chỉ áp dụng đối với các doanh nghiệp LD sản xuất hàngxuất khẩu Ví dụ, ở Malaisia, các doanh nghiệp được miễn thuế nhập khẩu máy móc,thiết bị nếu xuất khẩu được từ 80% số sản phẩm sản xuất ra
Thứ hai, Sửa đổi và đơn giản hóa chính sách ưu đãi đầu tư, hoàn thiện chính sách chuyển giao công nghệ.
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được sửa đổi điều chỉnh nhiều lần.Hiện nay các hình thức ưu đãi đầu tư, phạm vi các ngành nghề và địa bàn được ápdụng ưu đãi đầu tư tương đối rộng và thông thoáng Nhược điểm của chúng là cònquá phức tạp, ưu đãi còn tương đối tràn lan, quá nhiều mức độ ưu đãi, giữa cácmức ưu đãi tỷ lệ chênh lệch không đáng kể, ít có tác dụng khuyến khích thật sự.Việc thiếu rành mạch, thiếu ổn định và quá phức tạp này dẫn đến nhiều tiêu cựctrong quá trình thực hiện và vận dụng vào thực tế sản xuất kinh doanh, dẫn đếnhiện tượng xin cho và dàn xếp với nhau giữa các doanh nghiệp và cơ quan chứcnăng
Ví dụ: Theo Nghị định số 12-CP ngày 18/12/1997 của Chính phủ quy định
chi tiết luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Điều 54 quy định thuế suất lợi tức
được áp dụng là 20% đối với dự án xuất khẩu ít nhất là 50% và 15% đối với các dự
án xuất khẩu ít nhất 80% Việc khuyến khích bằng chênh lệch 5% thuế lợi tứctrong điều kiện các doanh nghiệp SXHXK rất ít có lãi và việc hạch toán lỗ lãi hàng
Trang 25năm chưa được rõ ràng và công khai như hiện nay hoàn toàn không có tác dụngthúc đẩy sản xuất Hoặc trong mục III Nghị định 10/1998/NĐ/CP ngày 32/01/1998của Chính phủ quy định danh mục các sản phẩm mà các dự án đầu tư và LDVNNphải đảm bảo xuất khẩu ít nhất 80%, phụ thuộc vào danh mục các sản phẩm côngnghiệp mà sản xuất trong nước đã đáp ứng đủ yêu cầu về số lượng và chất lượng
do Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố trong từng thời kỳ Quy định này làm cho các
dự án đầu tư và LD trong SXHXK rất khó thực hiện và bị động vì thời gian thựchiện các dự án LDVNN thường từ 3 - 5 năm, trong thời gian này danh mục các mặthàng phải bảo đảm tỷ lệ xuất khẩu 80% trở lên sẽ thay đổi làm các nhà đầu tư nướcngoài không yên tâm
Vì vậy, trong thời gian tới cần thiết phải ổn định và đơn giản hóa các quyđịnh về ưu đãi đầu tư theo ngành và theo vùng Các mức ưu đãi về thuế phải cókhoảng cách đủ lớn để có tác dụng khuyến khích đầu tư trong thực tế Danh mụclĩnh vực đầu tư có điều kiện phải được công bố rõ ràng và ổn định trong thời giantối thiểu là 5 năm
Các quy định về chuyển giao công nghệ ở Việt Nam trong các dự án đầu tưLDVNN cũng cần được sửa đổi và hoàn chỉnh
Đối với các LDVNN có hợp đồng chuyển giao công nghệ đi kèm chuyểngiao quyền sở hữu và quyền sử dụng thì cho phép thời hạn hợp đồng tương đươngvới thời hạn bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp đó Còn đối với các hợpđồng chuyển giao công nghệ không đi kèm việc chuyển giao quyền sở hữu vàquyền sử dụng công nghệ thì quy định thống nhất thời hạn hợp đồng là 7 năm, cóthể cho phép thời hạn hợp đồng đến 10 năm đối với trường hợp đặc biệt Cần banhành các tiêu chuẩn về trình độ, mức độ tiên tiến của các công nghệ được chuyểngiao vào Việt Nam một cách cụ thể chi tiết Chi tiết hóa và công khai hóa cáchướng dẫn, các tiêu chuẩn về lựa chọn, đánh giá, định giá, thẩm định công nghệ vàchuyển giao công nghệ
Trang 26Hoàn chỉnh hệ thống chính sách bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, đồngthời nâng cao các tiêu chuẩn bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tương đương vớicác nước trong khu vực và thế giới (phải coi đây là một giải pháp cấp bách nhằmngăn chặn khuynh hướng du nhập vào nước ta công nghệ hạng thấp đã phổ cập từlâu ở nước ngoài) Đổi mới các quy định liên quan đến thuế trong chuyển giaocông nghệ nhằm khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công nghệhiện đại vào Việt Nam.
Mạnh dạn phân cấp thẩm định và phê duyệt các hợp đồng chuyển giaocông nghệ của các doanh nghiệp có vốn đầu tư với nước ngoài cho các địa phương.Dần dần chuyển công tác thẩm định nội dung công nghệ chuyển giao về cho cácchủ đầu tư, Nhà nước chỉ giữ vai trò là người định hướng, kiểm tra, giám sát trên
cơ sở các quy định của pháp luật, các chủ trương chính sách phát triển kinh tế xãhội nói chung và phát triển công nghệ, thu hút đầu tư nước ngoài qua liên doanhnói riêng
Thứ ba, đơn giản hóa các thủ tục hành chính khi xét duyệt dự án LD
Hiện tại, hồ sơ xin thành lập các LD khá phức tạp, bao gồm:
+ Hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp LD;
+ Hồ sơ xin cấp đất xây dựng;
+ Hồ sơ xin xuất nhập khẩu;
+ Hồ sơ xin cấp giấy phép xây dựng;
Trong các loại hồ sơ này có những văn bản giống nhau như đơn xin, giấyphép đầu tư Nên chăng có thể bỏ bớt những văn bản trùng lặp này trong các bộ hồ
sơ để đơn giản hóa khâu hồ sơ Bảo đảm nguyên tắc "một cửa" trong khâu hồ sơ.Cần có sự liên kết, hợp tác chặt chẽ và nhất quán giữa các bộ phận trong xét duyệtcác loại hồ sơ này Hiện nay ở Nghệ An vẫn tồn tại tình trạng chưa rõ ràng, rànhmạch trong quy định về trách nhiệm và quyền hạn của người có thẩm quyền quyết
Trang 27định đầu tư, cơ quan quản lý đầu tư, cơ quan cho vay vốn và chủ đầu tư, làm chochủ đầu tư phải chạy đi, chạy lại nhiều cửa Hiện tượng thẩm định chồng lên thẩmđịnh, cơ quan nay thẩm định của cơ quan khác còn là vấn đề nan giải
Bởi vậy, cần đơn giản hóa các loại văn bản quy định, tạo tính khoa học và
thống nhất, đồng thời đơn giản hóa các cấp thẩm định dự án.
Trong đơn giản hóa các cấp thẩm định dự án, có thể đưa ra và áp dụng quychế phân cấp thẩm định dự án giữa chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy bannhân dân tỉnh Căn cứ để phân cấp thẩm định là:
+ Quy mô dự án;
+ Thời gian hoạt động;
+ Diện tích đất sử dụng;
+ Tầm quan trọng của hoạt động kinh doanh
Trong đó hai căn cứ quy mô dự án và diện tích đất sử dụng là hai chỉ tiêuquan trọng nhất và giữa chúng có mới liên hệ lẫn nhau Quy mô dự án lớn thì thờihạn hoạt động của dự án sẽ kéo dài Còn diện tích đất sử dụng lại phụ thuộc vàonội dung hoạt động của LD Bởi vậy có thể chỉ căn cứ vào quy mô dự án, hoạtđộng kinh doanh và diện tích đất sử dụng để phân cấp thẩm định dự án liên doanh.Những dự án có số vốn đầu tư ít (dưới 1 triệu USD) và thời hạn ngắn, có thể phâncấp để Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố thẩm định
Chuẩn bị đầy đủ, kịp thời những điều kiện cần thiết để đền bù, giải phóngmặt bằng cho xây dựng cơ sở sản xuất của LD, bao gồm địa điểm di dân đến, tiềnđền bù hợp lý
Tiếp tục thực hiện lộ trình giảm chi phí đầu tư, tiến tới áp dụng một biểu giáchung đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cắt giảm tối đa
3.3.3.2.Tạo môi trường kinh tế hấp dẫn, thuận lợi và ổn định
Trang 28Để khuyến khích và thu hút được các công ty, các tổ chức kinh tế trongnước và nước ngoài vào đầu tư và liên doanh SXHXK ở Nghệ An, về môi trườngkinh tế cần phải được xây dựng và điều chỉnh theo những hướng cơ bản sau:
Một là, cơ chế chính sách tác động của Nhà nước cũng như quá trình vận dụng và tổ chức thực hiện của chính quyền của địa phương phải thực sự tạo ra động lực thúc đẩy đầu tư cho SXHXK phát triển.
Như chương 2 đã đề cập, đầu tư cho sản xuất và chế biến hàng xuất khẩu ởnước ta hiện nay (trừ dầu thô) tỷ lệ sinh lãi trên vốn đầu tư rất thấp, đặc biệt là đầu
tư chế biến hàng nông sản ở những tỉnh nông nghiệp nghèo thì Nghệ An lại càngthấp, thậm chí là lỗ trong một thời gian dài (như nhà máy chế biến đường Nghệ An
- Tate & Lyle; hay nhà máy chế biến dầu thực vật Nghệ An ), nhưng bù lại cácmặt hiệu quả kinh tế xã hội khác như giải quyết việc làm, ổn định đời sống của một
bộ phận lớn nông dân, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, phát triển các huyện miềnnúi, phát huy tiềm năng và lợi thế của các vùng sản xuất, tạo ra nguồn ngoại tệ đểphục vụ CNH, HĐH đất nước đồng thời giá trị gia tăng trong nước của nó rấtcao Nhưng động lực thúc đẩy các nhà đầu tư nhất là đầu tư nước ngoài đầu tiênphải là tỷ lệ sinh lãi trên vốn đầu tư, sau đó mới đến các mặt khác Vì vậy, cơ chếchính sách tác động của Nhà nước và quá trình vận dụng tổ chức thực hiện củachính quyền địa phương phải tạo ra được môi trường kinh tế bảo đảm sao cho việc
bỏ vốn đầu tư để sản xuất hàng nông sản xuất khẩu có một tỷ lệ lãi hợp lý lãi mớitạo ra được động lực thúc đẩy phát triển các hình thức LDVNN
Về cơ bản, sản xuất và chế biến hàng nông sản nói chung ở nước ta năngsuất thấp, giá thành bình quân cao hơn của các nước trong khu vực và quốc tế Vìvậy, nếu chỉ xét đơn thuần về xuất khẩu các loại hàng hóa này ra nước ngoài khôngthể tạo ra lợi ích riêng biệt được mà phải đặt nó trong mối quan hệ nhập khẩu cácloại hàng hóa khác mà nhu cầu tiêu dùng trong nước đang cao và chênh lệch giágiữa trong nước và nước ngoài tương đối lớn Đó chính quy luật lợi thế so sánh mà
Trang 29Davít Ricacđô đã đề cập trong tác phẩm những nguyên lý cơ bản của kinh tế chính
trị học: khi tham gia vào thương mại quốc tế các nước sẽ có lợi thế khi chuyên
môn hóa sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm mà họ làm ra với chi phí so sánh thấp hơn so với các nước khác Đây là một lý luận hết sức đơn giản và thô sơ, còn
nhiều hạn chế, tuy nhiên tác giả thấy cần thiết phải đề cập lại để luận cứ cho việcđẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu hàng nông sản ở Nghệ An Giả sử trong quan hệtrao đổi hàng hóa chỉ có hai nước là Việt Nam và Thái Lan, nếu như ở Việt Namsản xuất 1 tấn lạc phải hao phí mất 5 ngày công (quy giá trị hàng hóa về giá trị sứclao động) và sản xuất 1 chiếc xe máy phải mất 30 ngày công Trong khi đó ở TháiLan sản xuất 1 tấn lạc mất 4 ngày công và xe máy là 20 ngày công (bảng 3.1) Tuyhao phí để sản xuất 1 tấn lạc ở Việt Nam cao hơn của Thái Lan là 1 ngày côngnhưng khi xuất lạc để nhập xe máy ở Thái Lan về thì vẫn có lợi khi phân tích và sosánh như sau:
Bảng 3.1:
Nếu ta lấy xe máy làm giá đơn vị thì ở Việt Nam sản xuất 1 tấn lạc mất5/30 xe máy = 1/6 xe máy, và ở Thái lan là 4/20 xe máy = 1/5 xe máy như vậy sảnxuất lạc ở Việt Nam rẻ một cách tương đối hơn so với Thái lan (khi so sánh với xemáy) [ 22]
Nếu ta lấy lạc làm giá đơn vị thì ở Việt Nam sản xuất 1 chiếc xe máy mất30/5 tấn lạc = 6 tấn lạc và ở Thái lan mất 20/4 = 5 tấn lạc, sản xuất xe máy ở ViệtNam đắt hơn so với Thái lan (trong thực tế theo giá bằng đô la Mỹ thì xe máy Việt
Trang 30Nam cũng đắt hơn nhiều) Như vậy nếu Việt Nam chuyên môn hóa việc sản xuấtlạc để xuất khẩu lạc sang Thái lan và nhập xe máy từ Thái Lan về sẽ có lợi hơnnhiều là cả sản xuất lạc và sản xuất xe máy.
Đây chính là động lực thúc đẩy các quốc gia chuyên môn hóa sản xuất vàxuất khẩu các mặt hàng có lợi thế và là một hình thức tham gia vào phân công laođộng quốc tế trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế hiện nay Đối với Việt Nam mà đặcbiệt là Nghệ An sản xuất, chế biến và xuất khẩu các mặt hàng nông sản hải sản làcác mặt hàng có lợi thế phát triển Nhưng do quá chú trọng vào việc bảo hộ hàngsản xuất trong nước nên thời gian vừa qua Việt Nam đã dùng hàng rào thuế quan
và phi thuế quan để hạn chế nhập khẩu ô tô, xe máy, hàng điện tử và một số mặthàng tiêu dùng có chênh lệch giá cao và tạo điều kiện cho các xí nghiệp LDVNNsản xuất và tiêu thụ trong nước, trong khi chính sách hỗ trợ và ưu đãi cho sản xuấthàng xuất khẩu hầu như chưa đáng kể Vì vậy, động lực để đầu tư mở rộng sảnxuất và phát triển xuất khẩu các mặt hàng nông sản ở nước ta phần nào đó đã bịtriệt tiêu Đó là lý do tại sao cho đến nay hầu như chưa có một nhà đầu tư nướcngoài nào vào đầu tư về lĩnh vực sản xuất hàng nông sản xuất khẩu mà chỉ tậptrung chủ yếu vào đầu tư sản xuất hàng thay thế nhập khẩu như ô tô, xe máy, bia
Vào năm 1998, để tháo gỡ những khó khăn trong việc thanh toán hàng xuấtnhập khẩu qua biên giới của một số địa phương nước ta và các doanh nghiệp củaLào, và một số quốc gia lân cận, Chính phủ đã cho phép các doanh nghiệp xuấtkhẩu các loại hàng nông sản, hải sản được nhập khẩu các loại xe máy, phân bón vàmột số hàng tiêu dùng cao cấp khác theo phương thức "hàng đổi hàng" Đây chỉ làmột giải pháp tình thế nhưng đã làm cho kim ngạch xuất khẩu của một số địaphương này tăng vọt lên Riêng Nghệ An kim ngạch xuất khẩu tăng vọt từ28.939.000 USD năm 1997 lên 42.621.000 USD vào năm 1998 Hàng nông sảntăng từ 18.843.000 USD lên 28.081.000 USD, hàng thủy sản tăng từ 25.000.000USD lên 56.000.000 USD [70] Tuy phương thức này còn rất nhiều hạn chế như