NHU CẦU VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC HÌNH THỨC LIÊN DOANH VỚI NƯỚC NGOÀI TRONG SẢN XUẤT HÀNG XUẤT KHẨU Ở Nghệ An có bờ biển dài hơn 95 km, có nhiều cảng và luồng lạch, đặc biệt có cảng C
Trang 1NHU CẦU VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC HÌNH THỨC LIÊN DOANH VỚI NƯỚC NGOÀI TRONG SẢN XUẤT HÀNG XUẤT KHẨU Ở
Nghệ An có bờ biển dài hơn 95 km, có nhiều cảng và luồng lạch, đặc biệt
có cảng Cửa Lò đang xây dựng cho tàu 5.000 - 10.000 tấn có thể ra vào được.Cảng Cửa Lò là điểm nối ra biển Đông của đường xuyên Á từ Thái lan, qua Lào vềViệt Nam Cách Cảng Cửa Lò 1 km có đảo Hòn Ngư, xung quanh đảo các loại tàulớn trên 1 vạn tấn hoặc tàu container, tàu dầu lớn có thể neo đậu và chuyển tải hànghóa vào cảng Cửa Lò được Từ cảng Cửa Lò, hàng hóa xuất khẩu của Nghệ An cóthể theo đường biển đi đến Xingapo, Inđônêxia, Philippin, Nhật Bản, có thể đi quađảo Hải Nam đến các tỉnh Quảng Châu, Thiên Tân của Trung Quốc, có thể đi đếncác cảng khác của Nga và các cảng Châu Âu khác Đây là một thuận lợi lớn chotriển vọng phát triển các mặt hàng xuất khẩu có khối lượng lớn như hàng nông sản,hải sản và hàng vật liệu xây dựng của Nghệ An
Trang 2Phía Tây của Nghệ An giáp Lào, phía Tây Bắc đi theo đường quốc lộ 7 quacửa khẩu Nậm Cắn có thể sang tỉnh Xiêng Khoảng, một tỉnh kết nghĩa của Nghệ
An, hoặc theo phía Tây Nam, qua cửa khẩu "Cầu Treo" của Hà Tĩnh có thể đi lêntỉnh Polykhămxay của Lào Đây là một tỉnh tương đối sầm uất, thương mại pháttriển tương đối cao và thuận lợi, giáp với các tỉnh phía Đông của Thái Lan và cóthể lên Viên Chăn - Thủ đô của nước Lào tương đối gần Với lợi thế này trongnhững năm gần đây, việc trao đổi hàng hóa, giao lưu buôn bán và xuất nhập khẩuqua biên giữa Nghệ An, Hà Tĩnh với nước bạn Lào và Thái Lan ngày càng pháttriển Riêng năm 1998, kim ngạch xuất nhập khẩu của Nghệ An với nước bạn Lào
đã đạt gần 20 Triệu USD
Về đường bộ, đường quốc lộ 1A và đường sắt xuyên qua hầu hết các huyệnđồng bằng của Nghệ An, với chiều dài gần 100km Ga Vinh là ga chính của khuvực miền Trung Đây cũng là một thuận lợi lớn để có thể phát triển giao lưu buônbán và trao đổi hàng hóa với các địa phương khác ở hai đầu Bắc Nam, đồng thờihàng hóa xuất khẩu xuất qua cảng Hải Phòng hoặc cảng Đà Nẵng bằng cáchchuyển tải theo đường bộ hoặc đường sắt
Tóm lại, Nghệ An tuy không phải là một trung tâm thương mại công nghiệp
hay là một đầu mối xuất nhập khẩu như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, HảiPhòng, Vũng Tàu nhưng cũng là một điểm giao lưu thuận lợi của các tuyến hànghải quốc tế, đồng thời có thể phát triển phương thức xuất nhập khẩu qua biên giới
và trao đổi hàng hóa với cả hai miền Bắc-Nam
2.1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Nghệ An là một tỉnh miền Trung đứng thứ ba trong cả nước về quy môdiện tích lẫn dân số Diện tích đất tự nhiên là 1.637.000 ha bao gồm đầy đủ cả bavùng kinh tế; đồng bằng, trung du, miền núi và miền biển Diện tích đất lâm nghiệp
là 1.294.628 ha chiếm 79% đất tự nhiên, trong đó đất có rừng là 707.125 ha (bằng
Trang 354,6 diện tích đất lâm nghiệp) đất đai tốt kết hợp với vùng khí hậu nhiệt đới giómùa, mưa nhiều, nắng nhiều, độ ẩm cao nên cây rừng phát triển rất nhanh Hệ thựcvật rừng rất phong phú về chủng loại từ rừng lá kim nhiệt đới đến rừng lá rộngnhiệt đới, trong đó rừng lá rộng nhiệt đới là phổ biến nhất Rừng có nhiều gỗ quýnhư pơ mu, lát hoa, lim, táu, săng lẻ, giổi, vàng tâm, gõ và nhiều loại dược quýnhư trầm hương, quế, sa nhân, cánh kiến, thiên niên kiện rừng có nhiều loại độngvật quý như voi, khỉ, hổ, bò tót, gấu, hươu Đặc biệt Nghệ An còn có hơn 10 vạn
ha rừng nguyên sinh phù mát, trong đó có trên 130 loài động vật và 356 loài thựcvật sinh sống (có cả những động vật quý hiếm trên thế giới) Đây không chỉ tạo ralợi thế phát triển du lịch xuất khẩu hàng hóa tại chỗ, mà còn tạo ra những mặt hàngxuất khẩu đặc sản, một lợi thế tĩnh ban đầu rất quan trọng của Nghệ An hiện nay.Trữ lượng gỗ khoảng 40 triệu m3, trữ lượng tre, nứa, mét 800 triệu cây Ngoàinhững khu rừng tự nhiên trên, Nghệ An còn có những khu rừng đặc sản và rừngtrồng bao gồm 800 ha quế, 7.500 ha thông, 5000 ha bạch đàn, đây là một lợi thế đểphát triển sản xuất các sản phẩm từ gỗ và hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu [84, tr.4]
Vùng trung du, miền núi Nghệ An có 135.000 ha đất đỏ Bazan rất thíchhợp cho việc phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày phục vụ cho xuất khẩunhư cà phê, chè, cao su, cam chanh Đất nông nghiệp với diện tích 201.864 ha tầngđất dày, màu mỡ, trong đó diện tích trồng lúa khoảng 98.000 ha số còn lại chủ yếu
là đất phù sa, đất cát, đất đồi rất thích hợp để gieo trồng các loại cây nông sản ngắnngày cho xuất khẩu như lạc, vừng, đậu, ớt, trong đó diện tích đất trồng lạc là lớnnhất khoảng 30 - 40 ha, đây là sản phẩm nông sản xuất khẩu chủ lực của Nghệ An,
có sản lượng lớn nhất trong cả nước Ngoài ra các loại đất đồi ở vùng trung dumiền núi, đất ven sông và hơn 20.000 ha đất có khả năng nông nghiệp chưa được
sử dụng, Nghệ An có thể phát triển các vùng nguyên liệu như mía ngô sắn chocông nghiệp chế biến hàng xuất khẩu [21, tr 15]
Trang 4Bảng 2.1: Di n tích, s n lện tích, sản lượng một số sản phẩm xuất khẩu ản lượng một số sản phẩm xuất khẩu ượng một số sản phẩm xuất khẩu ng m t s s n ph m xu t kh u ột số sản phẩm xuất khẩu ố sản phẩm xuất khẩu ản lượng một số sản phẩm xuất khẩu ẩm xuất khẩu ất khẩu ẩm xuất khẩu
v cung c p nguyên li u cho ch bi n h ng xu t kh u à cung cấp nguyên liệu cho chế biến hàng xuất khẩu ất khẩu ện tích, sản lượng một số sản phẩm xuất khẩu ế biến hàng xuất khẩu ế biến hàng xuất khẩu à cung cấp nguyên liệu cho chế biến hàng xuất khẩu ất khẩu ẩm xuất khẩu
cá và các loại hải sản khác phát triển Biển Nghệ An còn là một trung tâm phátsinh, phát triển các loài sinh vật biển Các luồng cá có thể di chuyển từ vùng biểnTrung Hoa, Nhật Bản xuống và từ Indonesia, Malaysia lên Hầu hết các loại hải
Trang 5sản có giá trị như cá chim, cá thu, cá nhám, cá ngừ, cá sú, tôm, mực đều có thểkhai thác với khối lượng khá lớn ở vùng biển Nghệ An Vùng biển phía bắc Nghệ
An còn có nhiều luồng lạch như lạch quèn, lạch thơi, lạch cạn rất thuận lợi đểxây dựng ngư cảng phục vụ cho các đội thuyền đánh cá Ven biển các cửa lạch cónhiều đầm lầy, đầm phá thuận lợi cho phát triển các vùng nuôi tôm, nuôi cua nướcmặn Đây là một tiềm năng rất quan trọng, tạo lợi thế cho phát triển các mặt hàngxuất khẩu thủy sản
Trong lòng đất, tuy không phải là tỉnh có nhiều khoáng sản kim loại quýnhưng có đến 350 triệu m3 đá vôi, hàng tỷ m3 đá xây dựng và có trữ lượng lớn đáhoa, đá granit (khoảng 2 triệu m3 ở Quỳ Hợp) Các khoáng sản này có thể khai thác
để phát triển sản xuất các mặt hàng vật liệu xây dựng cho nhu cầu trong nước vàxuất khẩu[85, tr 5-7]
2.1.1.3 Nguồn nhân lực
Về lao động: Theo số liệu của cục thống kê Nghệ An, dân số ở Nghệ An
đến ngày 30/12/1998 là 2.930.000 triệu người chiếm 3,9% dân số cả nước, 30%dân số các tỉnh Bắc Trung Bộ, trong đó nữ 50,9% Dân số trong độ tuổi lao động1,45 triệu người (trong đó hiện vẫn còn tới 8,62% lực lượng trong độ tuổi lao động
ở khu vực thành thị bị thất nghiệp)
Người Nghệ An hiếu học, cần cù, chịu khó Về chất lượng nguồn lao độngtoàn tỉnh hiện có 1,52% số người lao động có trình độ học vấn từ cao đẳng trở lên,tập trung chủ yếu trong các ngành giáo dục và y tế Tỷ lệ công nhân kỹ thuật chiếm3,2 % lực lượng lao động Nguồn lao động mới được bổ sung hàng năm khoảng 4vạn người, phần lớn có trình độ văn hóa phổ thông cơ sở, phổ thông trung học vàtốt nghiệp các trường dạy nghề [84, tr 12]
Lợi thế về lao động ở Nghệ An còn thể hiện ở chỗ người lao động sẵn sàngchấp nhận mức tiền công thấp khi có việc làm Tuy là một tỉnh nghèo, có mức thu
Trang 6nhập bình quân theo đầu người rất thấp (năm 1999 khoảng 190 USD, bằng 52%mức bình quân chung của cả nước), nhưng đổi lại, người Nghệ An cần cù, chịukhó, có khả năng làm việc dẻo dai.
- Về nhân văn: Nghệ An là một vùng đất cổ, có nhiều dấu tích của nền văn
hóa xa xưa, nơi hội tụ của một cộng đồng đa dân tộc đã chung lưng đấu cật xâyđắp quê hương giàu đẹp và tạo dựng truyền thống văn hóa phong phú và đa dạng
Nền văn minh lúa nước đã có từ lâu đời, nghệ thuật kiến trúc độc đáo giản
dị, nghề thủ công khá đa dạng và đã trở thành truyền thống và tạo nền cho các dântộc trên đất Nghệ An phát triển
Con người Nghệ An sớm có phẩm chất cao quý đẹp đẽ, có lòng yêu nước,chí kiên cường bất khuất, tinh thần đoàn kết keo sơn, trí thông minh sáng tạo, đứccần cù, nhẫn nại, với truyền thống hiếu học, cần cù, dũng cảm đã được thử tháchqua nhiều thời kỳ lịch sử và cách mạng, đã tạo ra nhiều nhân tài trong các lĩnh vựcquân sự và chính trị, văn học và cả lĩnh vực kinh tế xã hội
Trong giai đoạn tới, quá trình giao lưu văn hóa rộng rãi tiếp cận với khoahọc hiện đại, với truyền thống hiếu học, cần cù, thông minh, con người Nghệ An sẽkhắc phục được những nhược điểm, hạn chế nhất là tính bảo thủ trì trệ, để cónguồn nhân lực mạnh có chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển các lĩnh vực kinh
tế xã hội trong đó có SXHXK và kinh tế đối ngoại
2.1.2 Triển vọng phát triển một số mặt hàng xuất khẩu Nghệ An
2.1.2.1 Sản phẩm xuất khẩu từ các loại cây nông sản ngắn ngày
Lạc: Theo quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế xã hội của Nghệ An đến
năm 2010, với việc mở rộng diện tích trồng lạc lên 35.000 ha
Vừng: Vừng là một cây nông sản nhiệt đới dễ trồng thời gian sinh trưởng
ngắn, có thể gieo trồng trên đất pha cát mà ít phải chăm bón, hoặc có thể trồng xen
Trang 7vụ, phấn đấu đến năm 2010 có thể phát triển được 10.00 ha vừng Vừng cũng là mộtloại sản phẩm nông sản nhiệt đới có giá trị xuất khẩu cao.
Ngoài ra còn có các loại sản phẩm khác như ớt, đậu, dâu tằm đều có khảnăng phát triển và xuất khẩu với sản lượng và kim ngạch hàng năm tương đối lớn[85, tr 30-35]
2.1.2.2 Sản phẩm xuất khẩu từ các loại cây công nghiệp dài ngày
Cây chè: Trong tương lai, có thể phát triển một vùng chè với diện tích
hơn 10.000 ha kéo một vệt dài trên 150 km dọc theo phía hữu hạn sông Lam, baotrùm cả ba huyện miền núi từ Anh Sơn, Thanh Chương, Con Cuông và một phầncủa vùng Quỳ Hợp Phát triển chủ yếu theo kinh tế hộ gia đình, mô hình vườn hoặctrang trại, cung cấp nguyên liệu cho chế biến chè theo quy mô nhỏ và vừa nhưnghiện đại Dự kiến sản lượng chè khô năm 2010 khoảng 14.000 tấn trong đó 80%dành cho xuất khẩu
Cây cà phê: Với vùng đất đỏ Bazan thuộc các huyện miền núi Nghệ An,
cây cà phê có thể phát triển để có sản lượng lớn nếu du nhập được loại giống phùhợp Dự kiến diện tích cà phê, chè có thể lên hơn 10.000 ha năm 2010, trong đódiện tích kinh doanh từ 65% - 70% để có sản lượng cà phê nhân là 15.000 tấn
Cây cao su: Dự kiến diện tích có thể phát triển đến 15.000 ha năm 2010,
trong đó diện tích kinh doanh là 12.000 ha [85, tr 30-35]
Cây ăn quả: Dự kiến cây ăn quả là 10.000 ha năm 2010 Hình thành vùng
cây ăn quả Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳ Hợp, kết hợp với xây dựng các nhà máy chếbiến hoa quả phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu
2.1.2.3 Sản phẩm xuất khẩu từ phát triển chăn nuôi
Diện tích đồng cỏ để phát triển chăn nuôi là 15.000 ha, hiện nay mới sửdụng 3.268 ha, ngoài ra có thể tận dụng diện tích các triền đồi núi để chăn nuôitheo hình thức thả đàn Các sản phẩm ngô, khoai, sắn, lạc kể cả các sản phẩm phụ
Trang 8như cây lá và các loại bã trong chế biến dầu và tinh bột là nguồn thức ăn rất lớncho chăn nuôi Vì vậy sản lượng trâu, bò, lợn hàng năm của Nghệ An tương đốilớn Đây là một nguồn sản phẩm vừa có thể xuất con sống sang Lào vừa cung cấpthịt cho chế biến đông lạnh, thịt hộp xuất khẩu.
Kế hoạch phát triển chăn nuôi từ năm 2000 đến năm 2010 là phát triểnmạnh các đàn gia súc có sừng (trâu, bò, dê, hươu ) ở khu vực trung du miền núi,các vùng bán sơn địa và bãi bồi ven sông theo mô hình chăn nuôi gia đình Pháttriển các trang trại theo mô hình kết hợp chăn nuôi và trồng trọt Phát triển chănnuôi gắn với các vùng sản xuất lương thực, xây dựng các nhà máy chế biến thức ăngia súc Khuyến khích các hộ gia đình nuôi hươu, bò sữa, ong và các loại gia cầm
ở vùng nông thôn và ven đô
Tổng đàn trâu bò năm 2000 là 540.000 con, năm 2010 là 590.000 con, dựkiến tổng đàn lợn năm 2000 là 900.000 con, năm 2010 là 1.300.000 con Tổng đànhươu năm 2000 là 200.000 con, năm 2010 là 300.000 [85, tr 32]
2.1.2.4 Sản phẩm xuất khẩu từ đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản
Tổng trữ lượng hải sản của Nghệ An khoảng 83.000 tấn, khả năng khai thác
từ 35 - 37.000 tấn hải sản Hiện nay trên toàn tỉnh mới khai thác được 22.000 tấn,
dự kiến đến năm 2000 khai thác được khoảng 29.000 tấn Như vậy nếu làm tốtcông tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản thì khả năng khai thác còn cho phép khoảng60.000 tấn nữa, chưa kể đến việc di chuyển ngư trường ra ngoài tỉnh và ngoài lãnhhải
Về khả năng nuôi trồng thủy sản, Nghệ An có diện tích mặt nước rất lớn:14.747,3 ha nước ngọt, 22.000 ha nước lợ, chưa kể 20.000 ha sông suối tự nhiên vàdiện tích bãi triều Đến nay diện tích mặt nước đưa vào nuôi mới đạt 10.393 ha(nước ngọt) và 1.440 ha (nước lợ) [85, tr 30-35] Hơn nữa hình thức nuôi của tỉnh
ta còn trong tình trạng quảng canh Mật độ và năng suất còn thấp hơn nhiều so vớitoàn quốc và đặc biệt so với các nước trong khu vực (Ví dụ: mật độ nuôi tôm 0,6
Trang 9con/m3, năng suất 100 kg/ha so với mật độ 20 con/m3 và năng suất 1.000 kg/ha ởtỉnh Bình Thuận) Đây chính là khả năng có thể phát triển sản lượng thủy sản chínhyếu sau này.
2.1.2.5 Khả năng khai thác và phát triển các nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp và chế biến hàng xuất khẩu ở Nghệ An
* Khả năng khai thác nguồn nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng
Theo kết quả thăm dò, Nghệ An có khả năng khai thác khoảng 180.000
tấn/năm đá vôi trắng cho xuất khẩu ở vùng Quỳ Hợp, khai thác và sản xuất đá ốplát và đá mỹ nghệ cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu với công suất 40.000 m3/ năm
- 50.000 m3/ năm
Ngoài ra nếu gọi được vốn LD trong hoặc nước ngoài để cơ cấu lại số vốnvay thương mại đầu tư xây dựng Nhà máy xi măng Hoàng Mai và có biện phápgiảm giá thành hợp lý, kết hợp với phần góp vốn vào LD đầu tư xây dựng Nhà máy
xi măng Nghi Sơn (Góp 15% bằng quyền khai thác mỏ) Hàng năm ngoài nhu cầutiêu dùng nội địa, có thể xuất khẩu được từ 200.000 - 300.000 tấn xi măng/ năm sangthị trường Lào và một số thị trường các nước ASEAN khác
* Khả năng phát triển các nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến hàng nông sản xuất khẩu.
Ngoài các mặt hàng nông sản như lạc, vừng, cà phê, chè vừa có thể xuấtkhẩu dưới dạng sản phẩm thô vừa có thể cung cấp nguyên liệu cho công nghiệpchế biến hàng xuất khẩu, ở Nghệ An còn có khả năng phát triển các loại sản phẩmkhác để cung cấp cho công nghiệp chế biến như mía, sắn, ngô:
Mía: Có thể đưa diện tích trồng mía lên 38.000 ha tương ứng với sản
lượng 1.800.000 vào năm 2010 gồm các vùng chính:
+ Vùng nguyên liệu cho nhà máy đường Sông Lam 800 ữ 1.200 ha
Trang 10+ Vùng Phủ Quỳ 20.000 ha gồm Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, một phần QuỳChâu, một phần Quỳnh Lưu và một phần Bắc Tân Kỳ.
+ Vùng Tân kỳ - Anh Sơn - Con Cuông - Đô Lương quy mô diện tích cóthể 15.000 ha [85, tr 31]
Một số cây lương thực phụ như ngô, sắn có khả năng phát triển lớn ở vùngtrung du miền núi và trồng xen với các loại cây khác, sản lượng hàng năm bình quânmỗi loại từ 60.000 đến 70.000 tấn Đây là nguồn thức ăn vô tận cho chăn nuôi (bao gồm
cả cành, lá, ngọn), đồng thời có thể chế biến thành các sản phẩm xuất khẩu như sắn látkhô, keo dính công nghiệp, bột ngô ăn liền, tinh dầu ngô
Ngoài ra với năng lực sản xuất hiện có và nguồn lao động dồi dào, giá nhâncông rẻ Nghệ An còn có thể phát triển các sản phẩm xuất khẩu từ ngành côngnghiệp dệt, may, giày da và các loại hàng thủ công mỹ nghệ
2.2 NHU CẦU VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC HÌNH THỨC LDVNN TRONG SXHXK Ở NGHỆ AN
2.2.1 Sự cần thiết phát triển các hình thức LDVNN trong sản xuất hàng xuất khẩu ở Nghệ An
Tuy Nghệ An là một tỉnh có tiềm năng và triển vọng phát triển các mặthàng xuất khẩu về nông sản, hải sản, vật liệu xây dựng chăn nuôi như phần 2.1.1
đã trình bày, nhưng SXHXK vẫn kém phát triển, kim ngạch xuất khẩu vẫn rất thấp,kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người chỉ đạt 12 -14 USD/ người/ năm, thấphơn so với bình quân chung của cả nước
Xét về cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu, giá trị xuất khẩu của các mặt hàngnông sản, hải sản thô vẫn chiếm tỷ lệ chủ yếu (trên 90%) Nhưng các mặt hàng nàycũng manh mún, phân tán, không ổn định Ngoài các mặt hàng lạc vỏ có kim ngạchxuất khẩu trên 5 triệu USD Các mặt hàng còn lại chỉ có giá trị từ một đến vài trămtriệu Đô la, có mặt hàng chỉ đạt từ 30 - 50.000 USD
Trang 11Một số mặt hàng trước đây có kim ngạch xuất khẩu hàng năm tương đốilớn như mặt hàng hoa quả, ớt bột, kê, dược liệu nhưng sau khi thị trường các nướcXHCN Đông Âu sụp đổ đã không còn "đầu ra" để duy trì sản xuất Tỷ lệ giá trịxuất khẩu của các mặt hàng chế biến, hàng tiểu thủ công nghiệp và các mặt hàngcông nghiệp khác rất nhỏ Đó là nguyên nhân chính dẫn đến kim ngạch xuất khẩu
ở Nghệ An tăng chậm và thiếu ổn định
Về thị trường xuất khẩu, sau khi mất thị trường các nước XHCN Đông Âu,các mặt hàng xuất khẩu ở Nghệ An chủ yếu chỉ tập trung ở một số nước ở khu vựcChâu Á như Singapo, Thái Lan, Inđonêxia, Philipin, Lào, Malaixia, Hàn Quốc, ĐàiLoan, Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Quốc Các thị trường còn lại tỷ lệ không đáng kể
và hầu như phải xuất khẩu gián tiếp qua các công ty trung gian như Xigapore,Hồng Công [72, tr 3-8]
Bảng 2.2: Tình hình xuất khẩu của Nghệ An từ năm 1991-1998
n v : 1.000 USD Đơn vị: 1.000 USD ị: 1.000 USD
Trang 12Nguồn: Sở thương mại Nghệ An 1999
Với những bất cập giữa tiềm năng, triển vọng và thực trạng SXHXK như
vậy nên việc phát triển mạnh các hình thức LDVNN trong SXHXK ở Nghệ An hếtsức cần thiết bởi các lý do sau:
Một là, các hình thức LDVNN nhằm bổ sung một lượng vốn cần thiết cho đầu tư phát triển sản xuất hàng hóa nói chung và sản xuất hàng xuất khẩu nói riêng với mục tiêu thực hiện CNH, HĐH kinh tế tỉnh nhà.
Với mục tiêu đưa tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của Nghệ Anthời kỳ 2001 - 2005 từ 9,5 - 10,5% và thời kỳ 2006 - 2010 từ 8,5 - 9,5% Trong đónông nghiệp tăng từ 4 - 4,5%; công nghiệp 15-18%; dịch vụ từ 10 - 11%; xuấtkhẩu tăng bình quân 20%/năm, đưa kim ngạch xuất khẩu năm 2005 đạt 180 triệuUSD, năm 2010 đạt 320 triệu USD, nhu cầu về vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội
ở Nghệ An bình quân hàng năm khoảng 560 triệu USD, trong đó dự kiến vốn thuhút từ bên ngoài vào chiếm 60% [85, tr 57-58] và (phụ lục 1)
Nhưng trong thực tế hiện nay, nguồn vốn đầu tư của ngân sách địa phương
rất hạn chế Theo số liệu thống kê, nguồn thu của các ngân sách địa phương từ cácloại thuế và phí trên địa bàn hàng năm chỉ đạt từ 450 - 550 tỷ đồng, trong khi đónguồn chi của ngân sách lại rất lớn, chỉ riêng cho hành chính sự nghiệp hàng năm
đã từ 600 - 700 triệu đồng [21, tr 84]
Khả năng tự đầu tư của các doanh nghiệp cả trong và ngoài quốc doanhcũng không đáng kể:
Trang 13- Về doanh nghiệp nhà nước, qua 3 đợt sắp xếp, giải thể, sát nhập và cơ cấulại, đến năm 1998 có 138 doanh nghiệp, trong đó có 12 doanh nghiệp công ích.Quy mô vốn bình quân là từ 3 đến 4 tỷ đồng nhưng phần lớn là những tài sản cốđịnh như nhà cửa, kho tàng, phương tiện chưa khấu hao hết không có khả năngphát huy hiệu quả Phần còn lại nằm trong công nợ Số nợ lũy kế của doanh nghiệphiện nay là 56,3 tỷ đồng và số nợ khó đòi là 69 tỷ đồng [69] Hệ thống doanhnghiệp ngoài quốc doanh của Nghệ An, tuy số lượng đông nhưng đa số là các hộtiểu thương, các hợp tác xã, các cửa hàng vàng bạc, các sản xuất và chế biến hàngxuất khẩu rất ít, vốn bình quân của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (trừ một sốcông ty trách nhiệm hữu hạn có đăng ký vốn từ 500 triệu đến 1 tỷ đồng) đại đa sốcòn lại đều có vốn đăng ký từ 50 đến 200 triệu đồng [35, tr 12]
Vì vậy, có thể nói rằng khả năng tự đầu tư để đổi mới công nghệ sản xuất
và chế biến của hệ thống doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu ở Nghệ An hầunhư rất nhỏ
Bảng 2.3: Vốn đầu tư xây dựng cơ bản của các doanh nghiệp quốc doanh và
ngoài quốc doanh (1996-1998)
Doanh nghiệp quốc doanh
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
21.369 9.009
20.031 -
8.731 -
Trang 14Như phần trên đã đề cập, các điều kiện về tự nhiên đất đai, khí hậu, mặtbiển và các diện tích nuôi trồng thủy sản ở Nghệ An rất tiềm tàng để phát triển cácmặt hàng xuất khẩu nông lâm hải sản nhưng do thiếu vốn đầu tư, thiếu các loạigiống cây con có năng suất cao và các quy trình chăm bón tiên tiến nên sản lượngthấp, chất lượng kém đặc biệt là giá thành cao Kết hợp với việc thiếu thị trườngtiêu thụ ổn định nên giá trị kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng này hàng năm manhmún, thiếu mặt hàng chủ lực Vì vậy việc phát triển các hình thức LDVNN nhất là
LD với những đối tác ở các quốc gia có kinh nghiệm về việc sản xuất và có thịtrường tiêu thụ các mặt hàng này sẽ là điều kiện nhằm tăng khả năng đầu tư thâmcanh, nâng cao năng suất, sản lượng và tăng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàngnông lâm hải sản
Ba là, Các LDVNN trong SXHXK góp phần thúc đẩy việc chuyển dịch cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu ở Nghệ An.
Một trong những hạn chế lớn làm cho sự tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu
ở Nghệ An thiếu ổn định, đó là cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu Trong tổnggiá trị kim ngạch xuất khẩu hàng năm của Nghệ An thì giá trị xuất khẩu của cácmặt hàng nông sản thô và nguyên liệu chiếm 90%, tỷ lệ các mặt hàng chế biến vàdịch vụ là rất nhỏ Nguyên nhân của nó là do thiếu máy móc, thiết bị, thiếu côngnghệ và những quy trình chế biến hàng xuất khẩu có hiệu quả
Vì vậy giải pháp cần thiết cho việc tăng nhanh và ổn định kim ngạch xuấtkhẩu ở Nghệ An là việc tiến hành các hình thức LDVNN để xây dựng cơ sở vậtchất và trang bị các dây chuyền công nghệ nhằm chuyển dịch cơ cấu sản xuất cácmặt hàng xuất khẩu theo hướng sau
- Tăng nhanh tỷ trọng các mặt hàng chế biến nông sản hải sản như chế biếnlạc, vừng, đậu, mía, ngô, sắn, chè, cà phê
- Thu hút các hình thức LD để cơ cấu lại nguồn vốn đầu tư và mở rộng thịtrường để xuất khẩu các loại vật liệu xây dựng như xi măng, đá trắng, đá ốp lát
Trang 15- Phát triển các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động như các ngànhdệt, may, dày da
- Khôi phục lại các ngành nghề truyền thống như các ngành tiểu thủ côngnghiệp, các ngành sản xuất mỹ nghệ
- Hướng tới việc phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động trí tuệ nhưngành điện tử, tin học phần mềm
Bốn là, Phát triển các hình thức LDVNN tạo điều kiện phục hồi và tận dụng những cơ sở vật chất, thiết bị đã được đầu tư ở một số doanh nghiệp Nghệ
An để đẩy mạnh sản xuất hàng xuất khẩu.
Bằng các nguồn vốn khác nhau, một số doanh nghiệp Nghệ An trước đây
đã được đầu tư các dây chuyền thiết bị như nhà máy dệt kim Hoàng Thị Loan, nhàmáy thuộc da nhưng do thiếu đổi mới mẫu mã sản phẩm, thiếu thị trường và tổchức sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, giá thành cao nên sản phẩm không xuấtkhẩu được, sản xuất bị đình đốn Các nhà máy này nếu có được đối tác liên doanh
để đổi mới mẫu mã quy cách sản phẩm, tăng thêm vốn lưu động và mở rộng thịtrường tiêu thụ sẽ tận dụng được những năng lực sản xuất sẵn có như nhà xưởng,mặt bằng đất đai, đội ngũ kỹ sư, công nhân đã được đào tạo
Ngoài ra, cũng như các địa phương khác trong cả nước, các hình thứcLDVNN còn là những giải pháp hữu hiệu để thực hiện chuyển giao công nghệ,nâng cao trình độ quản lý, đào tạo tay nghề cho công nhân, mở rộng thị trường tiêuthụ sản phẩm, chia sẻ rủi ro các bạn hàng
2.2.2 Quá trình hình thành và phát triển các hình thức LDVNN trong SXHXK
2.2.2.1 Hình thức LD theo các hợp đồng hợp tác sản xuất gia công hàng xuất khẩu với các bạn hàng thuộc các nước XHCN trước đây .
Trang 16 Các hình thức LDVNN trong SXHXK ở Nghệ An đầu tiên được hìnhthành từ các hình thức hợp tác sản xuất và gia công hàng xuất khẩu với các bạnhàng thuộc các nước XHCN trong Hội đồng tương trợ kinh tế (khối SEP) thôngqua các hợp đồng kinh tế của các Tổng công ty xuất nhập khẩu Việt Nam Ví dụ:Hợp đồng sản xuất gia công hàng Mây Tre đan qua Tổng công ty Mây Tre ViệtNam (Barotex), Hàng thủ công mỹ nghệ qua Tổng công ty Mỹ nghệ Việt Nam(Artimex), hàng nông sản qua Tổng công ty Nông sản Việt Nam (Agrexport) Bạnhàng ở các nước XHCN theo hợp đồng ứng trước cho các doanh nghiệp xuất nhậpkhẩu ở Nghệ An một số vốn nhất định và cung cấp một số mẫu mã và quy cáchhàng hóa Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu ở Nghệ An tiến hành nhập khẩu hoặcmua nguyên liệu trong nước, tổ chức sản xuất với chuyên gia kỹ thuật của nướcngoài và xuất khẩu cho bạn hàng đặt gia công theo giá xuất khẩu đã được các hợpđồng ký kết quy định
Với các hình thức này, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu ở Nghệ An từnăm 1987 đến năm 1990 đã sản xuất hàng năm được từ:
- 15.000 - 20.000 m2 thảm len; 200.000 - 300.000 m2 thảm đay; 180.000 300.000 m2 thảm cói; 600.000 - 800.000 sản phẩm mây tre đan; 600.000 - 800.000
-m2 chiếu chẻ và chiếu xe đan; 5.000 - 10.000 m2 đá ốp lát; 300 - 500 m2 đá Blốc;30.000 - 50.000 các loại ghế gỗ và ghế mây
Kim ngạch xuất khẩu thực hiện được:
Năm 1987: 2.503.000 Rúp; Năm 1988: 3.291.000 Rúp; Năm 1989:3.500.000 Rúp; Năm 1990: 2.300.000 Rúp
(Nguồn: Công ty SX - DV- XNK hàng thủ công mỹ nghệ Nghệ An 1999)
Cũng theo phương thức này, Liên hiệp công ty xuất nhập khẩu Nghệ An từnăm 1985 - 1988 mỗi năm đã xuất được từ 4.000 ữ 6000 tấn cam và khoảng 2.000tấn ớt bột sang thị trường Đông Âu
Trang 17Thực chất đây là một hình thức LD theo dạng hợp đồng hợp tác kinhdoanh, phía đối tác nước bạn ứng vốn và đảm nhận thị trường tiêu thụ, cung cấpmẫu mã, quy cách sản phẩm, chuyên gia kỹ thuật Phía các doanh nghiệp XNKNghệ Tĩnh đóng góp bằng quá trình sản xuất gia công hàng xuất khẩu
Nhờ những hình thức hợp tác sản xuất gia công này, ngành ngoại thươngNghệ Tĩnh trong thời gian đó đã tạo được hàng triệu Rúp - USD/ năm cung cấpngoại tệ cho tỉnh để nhập các loại vật tư, phân bón và lương thực bảo đảm nhu cầusản xuất và tiêu dùng xã hội Các hình thức LD này cũng đã thu hút được hàngngàn lao động trong các hợp tác xã nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dân cưcác vùng trồng đay, trồng cói
2.2.2.2 Hình thức LDVNN để khai thác nguồn nguyên liệu sẵn có ở Nghệ An trong SXHXK
Nghệ An không phải là một tỉnh có nhiều khoáng sản quý dầu mỏ, quặngsắt, quặng đồng, crôm Nhưng với địa hình phần lớn diện tích đất đai là rừng núi,Nghệ An có nguồn đá vôi, đá xây dựng, đá ốp lát vô tận rất thuận lợi để phát triểncác ngành công nghiệp vật liệu xây dựng Đặc biệt với 707.125 ha đất có rừng,Nghệ An có nguồn gỗ, song, mây và tre, nứa, mét tương đối lớn cộng với nguồn gỗcủa các tỉnh lân cận thuộc các nước bạn Lào, Nghệ An đã trở thành thị trường gỗ
và sản phẩm gỗ hấp dẫn cho các công ty Đài Loan, Hồng Công và Nhật Bản
Năm 1992, với chính sách bảo vệ môi trường sinh thái và bảo vệ cácnguồn tài nguyên, Nghị định số 18-HĐBT ngày 17/1/1992 của Hội đồng Bộ trưởng(nay là Chính phủ) đã cấm xuất khẩu gỗ tròn, gỗ sơ chế và song mây nguyên liệu.Các công ty của Đài Loan, Hồng Công có công nghệ và có thị trường tiêu thụnhưng thiếu nguyên liệu Một số xí nghiệp chế biến gỗ ở Nghệ An có mặt bằng nhàxưởng và lực lượng lao động với chi phí nhân công thấp, tương đối có kinh nghiệm
về sản xuất các mặt hàng này, nhưng thiếu công nghệ và thiếu thị trường tiêu thụ
Trang 18Từ những năng lực sản xuất và nhu cầu hợp tác của cả hai bên, đồng thờitrên cơ sở mối quan hệ làm ăn và hiểu biết lẫn nhau nên các hợp đồng LD và hợptác sản xuất kinh doanh được hình thành.
a) Năm 1992, xí nghiệp LD chế biến gỗ Nghệ An được thành lập trên cơ sởhợp đồng LD giữa nhà máy gỗ Vinh - thuộc sở Lâm nghiệp Nghệ An và Công tyHer Chuen woodwork Co LTD - Taiwan (thường gọi là Công ty Xuân hòa củaĐài Loan) theo giấy phép số 466 / GP ngày 19/11/1992 của Bộ Kế hoạch và Đầutư
- Sản phẩm của LD là khung cửa, cánh cửa các loại, ván sàn tinh chế, cácchi tiết đồ gỗ, bàn ghế, giường tủ, các chi tiết cầu thang, sản phẩm dùng cho xâydựng, cốt pha, palét, cột điện (phụ lục 4, HĐ1)
Trong năm 1993 phía Việt Nam đã thực hiện góp vốn đầy đủ theo cam kếttrong hợp đồng LD (264.800USD/ 258.873USD đạt 102%) và phía Đài Loan chỉmới góp được 104.900USD/ 259.197 đạt 40,5%, nhưng xí nghiệp vẫn triển khaikinh doanh Kết quả sản xuất trong năm 1993 là sản xuất và xuất khẩu được146.000USD, nộp thuế xuất khẩu được 12.200USD Do năm thứ nhất triển khaisản xuất công suất đạt thấp nên xí nghiệp lỗ 5.300USD tương đương 55 triệu đồngtiền Việt Nam
Sang năm 1994 hai bên cơ bản đã đóng góp đầy đủ và bắt đầu sản xuất ổnđịnh, nguyên liệu là gỗ Pơmu mua từ Nghệ An và gỗ thông mua từ Lào Sản phẩm
là các loại Palét, khung cửa, các chi tiết của hàng nội thất Nhưng cơ bản đều dướidạng gỗ thành khí dài từ 1,2 m đến 2,4 m dày từ 0,1 m trở lên Giá trị sản lượngxuất khẩu trong năm 1994 của xí nghiệp là 327.000USD, đóng thuế xuất khẩuđược 78.700USD, lợi nhuận 66.100USD, tạo được việc làm ổn định cho 87 ngườivới lương bình quân là 42,8USD/tháng
Năm 1994 và đầu năm 1995 do gian lận thương mại trong việc xuất khẩu
gỗ Pơmu nên ban giám đốc xí nghiệp phải ra tòa, bộ máy tổ chức xí nghiệp phải
Trang 19thay đổi nên sản xuất có giảm sút, nhưng xí nghiệp vẫn xuất khẩu được 286.700USD và có lãi 39.200 USD.
Năm 1996 và năm 1997, xí nghiệp chủ yếu là mua gỗ thông từ các công tycủa Lào và từ các đơn vị trong tỉnh có quan hệ buôn bán và xây dựng với Lào vàđược trả nợ bằng gỗ, làm nguyên liệu để sản xuất và xuất khẩu Kim ngạch xuấtkhẩu hàng năm là 300.000 USD với lợi nhuận hàng năm khoảng 50.000 USD, tạoviệc làm cho 98 lao động vơi mức lương bình quân là 48 USD
Từ năm 1998 trở lại đây, nguồn gỗ ngày càng khó khăn, phía các công tycủa Lào trực tiếp xuất khẩu gỗ tròn cho Nhật qua các cảng của Việt Nam tại Nghệ
An và Hà Tĩnh, giá gỗ nguyên liệu cao Trong khi đó giá gỗ thành phẩm trên thịtrường xuất khẩu lại giảm (từ 900USD/m3 xuống 600 USD/ m3 FOB Hải Phòng)
Xí nghiệp chỉ sản xuất cầm cự với việc gia công cho các công ty của Lào Năm
1998 giá trị xuất khẩu chỉ đạt 200.000 USD và lợi nhuận giảm xuống 17.600 USD,
6 tháng đầu năm 1999, giá trị xuất khẩu chỉ đạt 83.000 USD và lỗ 12.880 USD(phụ lục 4, HĐ 1)
Để khắc phục những khó khăn trên, một mặt xí nghiệp LD tăng cường việcthu mua nguồn gỗ từ Lào, nguồn gỗ rừng trồng từ Nghệ An, Hà Tĩnh, mặt kháctăng cường việc gia công hàng xuất khẩu cho các công ty của Lào Về mặt tàichính để giảm bớt phần tài sản phải tính khấu hao, xí nghiệp đang trình Sở Kếhoạch và đầu tư Nghệ An chuyển từ hình thức góp vốn bằng giá trị quyền sử dụngđất (150.000 USD) sang hình thức thuê đất để tính tiền thuê đất hàng năm
b) Liên doanh giữa Công ty Sản xuất - Dịch vụ - Xuất nhập khẩu XNK) hàng thủ công mỹ nghệ Nghệ An và Công ty NEW LUCKY WOODEN Cocủa Đài Loan
(SX-DV-Công ty SX-DV-XNK hàng thủ công mỹ nghệ trước đây trực thuộc Liênhiệp các Công ty Xuất nhập khẩu Nghệ An chuyên sản xuất gia công hàng thủcông mỹ nghệ từ gỗ, song, mây, tre, nứa theo hợp đồng gia công hàng xuất khẩu
Trang 20với các bạn hàng thuộc các nước XHCN Đông Âu Sau khi Liên xô và các nướcXHCN Đông Âu sụp đổ, công ty phải tìm thị trường xuất khẩu mới để duy trì sảnxuất kinh doanh và tạo việc làm cho cán bộ công nhân viên chức Nhưng do khảnăng về công nghệ và trình độ kỹ thuật còn thấp nên chất lượng và mẫu mã của sảnphẩm không đáp ứng với yêu cầu của thị trường xuất khẩu.
Việc ký kết hợp đồng kinh tế giữa Công ty SX- DV- XNK hàng thủ công
mỹ nghệ Nghệ An và Công ty NEW LUCKY WOODEN Co của Đài Loan vớimục đích hợp tác sản xuất kinh doanh hàng mỹ nghệ từ gỗ là nhằm đáp ứng yêucầu về công nghệ và thị trường xuất khẩu cho Công ty SX-DV-XNK hàng thủ công
mỹ nghệ và đáp ứng yêu cầu về nguyên liệu cho phía Công ty NEW LUCKYWOODEN Co Đài Loan
Thực chất và nội dung của hợp đồng là một hợp đồng LD vì hai bên cùnggóp vốn tài sản, cùng tổ chức thu mua nguyên liệu, tổ chức sản xuất và xuất khẩu(phụ lục 4, HĐ2) nhưng lại được ký kết dưới dạng một hợp đồng kinh tế, mua thiết
bị trả chậm và thuê đất đai nhà xưởng, thuê quản lý nên hai bên không làm thủ tụcxin giấy phép đầu tư Công ty SX-DV-XNK hàng thủ công mỹ nghệ chỉ xin UBNDtỉnh Nghệ An phê duyệt hợp đồng kinh tế và xin giấy phép nhập khẩu thiết bị của
Bộ thương mại để tiến hành đầu tư
Tình hình thành lập và hoạt động của LD như sau:
Năm 1993, phía Công ty NEW LUCKY WOODEN - Đài Loan cung cấp mộtdây chuyền đồng bộ về thiết bị cưa, cắt ngâm, sấy, bào, phay, tiện, đánh bống với tổng trị giá khoảng 4.400.000 USD Giá cả thỏa thuận và theo đánh giá của haibên trên cơ sở giá quốc tế tại thời điểm đó
Phía Việt Nam cung cấp nhà xưởng, sân bãi và trạm điện với tổng giá trị là350.000 USD
Trang 21Năm 1994 LD bắt đầu tiến hành sản xuất với các loại sản phẩm là đồ gỗ
Mỹ nghệ dùng trong gia đình như đĩa, bát, khay, lọ hoa, lọ hương, các loại đồ trangsức phụ nữ với tủ gương kính nhỏ và một ít các loại bàn ghế
Các sản phẩm nội thất và xây dựng như Lamgi, trần nhà, khung xửa
Giá trị sản xuất và xuất khẩu các năm như sau:
Năm 1994 1.000.000USD; Năm 1995 1.500.000USD; Năm 1996 1.700.000 USD; Năm 1997 - 2.200.000 USD; Năm 1998 - 2.300.000 USD
-Sáu tháng đầu năm 1999 chỉ đạt được 711.000 USD do giá gỗ nguyên liệulên cao
- Thị trường xuất khẩu: Đài Loan, Nhật và một ít xuất sang Mỹ
- Các khoản thuế, các khoản nộp ngân sách cho Nhà nước thực hiệnnghiêm túc
- Khấu hao nhà xưởng, tiền thuê đất tính đủ đưa vào giá thành sản phẩm
- Hoa hồng của phía Việt Nam được hưởng
Năm 1994 - 90.000 USD; năm 1995 - 138.000 USD; năm 1996 - 156.000USD; năm 1997 - 215.000 USD; năm 1998 - 224.000 USD
(Toàn bộ số tiền hoa hồng này Công ty SX-DV-XNK hàng thủ công Mỹnghệ Nghệ An hạch toán chung vào chi phí sản xuất kinh doanh của cả công tykhông tách riêng phần lãi của xí nghiệp ra được)
Lao động trực tiếp cho liên doanh: 500 lao động
Với thu nhập bình quân: 600.000đ/ tháng
(Chưa tính khoảng 2000 lao động có tính chất thời vụ)
(Nguồn: Công ty SX-DV-XNK hàng thủ công Mỹ nghệ Nghệ An)
Trang 22Đây là một hình thức LD không chính thức nhưng tương đối phổ biến vì cónhững ưu điểm riêng:
- Chủ yếu là các bên tự chịu trách nhiệm với nhau tài sản và vốn đóng gópcủa các bên là theo yêu cầu của sản xuất Dự án ít phải qua quá trình thẩm định, xétduyệt và cấp giấy phép nên chi phí đầu tư giảm và rút ngắn thời gian thực hiện
Do những quy định và ràng buộc của hợp đồng nên thu nhập của các bêntham gia LD hoàn toàn phụ thuộc vào sản lượng hàng hóa được sản xuất và tiêuthụ, không phân chia theo tỷ lệ đóng góp về vốn và tài sản nên hạn chế được hiệntượng nâng giá các yếu tố đầu vào đồng thời khuyến khích các bên đẩy mạnh sảnxuất và nâng cao kim ngạch xuất khẩu
Tuy vậy, hợp đồng LD này có hạn chế: Không thực hiện theo đúng luật đầu tưnước ngoài tại Việt Nam, nên LD không được thừa nhận một cách chính thức; phíaViệt Nam không có điều kiện để tiếp cận thị trường xuất khẩu, không có quy định vềchuyển giao công nghệ và nếu có tranh chấp rất khó giải quyết
c) Cũng theo hình thức này năm 1993, Công ty Dịch vụ ngoại thương vàđầu tư chế biến hàng xuất khẩu Nghệ An đã ký hợp đồng kinh tế với Công ty HữuNghị Đài Trung (Đài Loan) để thu mua, chế biến và xuất khẩu song mây sơ chế.Hợp đồng đã được triển khai, giấy phép nhập khẩu thiết bị và giấy phép thu muanguyên liệu đã được duyệt Phía Đài Loan đã đưa một ít máy móc thiết bị sang và
tổ chức sản xuất và xuất khẩu, nhưng sau đó do quy định cấm xuất khẩu song mây
sơ chế nên hợp đồng không tiếp tục triển khai
d) Tháng 11/1993, Công ty Xuất nhập khẩu Nghệ An (Bên A) và Công ty
gỗ, tổ chức sản xuất và xuất khẩu các loại ván sàn, cán chổi
LD hoạt động dưới hình thức xí nghiệp trực thuộc mang tư cách pháp nhâncủa công ty XNK Nghệ An tương tự như hợp đồng trên
Trang 23Tuy nhiên, theo hợp đồng này, lợi nhuận Bên A (phía Việt Nam) chỉ đượcgói gọn trong 3% giá trị xuất khẩu của sản phẩm (giá FOB Hải Phòng) Trong giáthành sản phẩm đã tính đầy đủ khấu hao nhà xưởng và trụ sở (dưới hình thức tiềnthuế), tiền lương công nhân và các loại thuế đối với Nhà nước Nhưng nếu có rủi roxảy ra sản xuất không triển khai được thì bên A chỉ chịu một phần tổn thất làkhông khấu hao được nhà xưởng và các tài sản khác, công nhân mất việc.
Phần lợi nhuận còn lại do bên B hưởng nhưng bên B phải chịu toàn bộ tổnthất xảy ra, tự chịu lỗ hoặc mất vốn
Thực chất của hợp đồng này cũng là một hợp đồng LD như hợp đồng trênnhưng được ký kết dưới dạng hợp đồng mua bán sản phẩm và hai bên không tiếnhành xin giấy phép đầu tư vì tổng vốn đầu tư nhỏ (phía đài Loan chỉ góp vốn140.000 USD bằng thiết bị và 730 triệu đồng tiền Việt Nam bằng chi phí cải tạonhà xưởng và các công trình phụ trợ, phía Việt Nam đóng góp bằng 300 m2 nhàxưởng cũ) (phụ lục 4, HĐ3)
- Trong năm 1993, tổng giá trị sản xuất là 2.473.256.624 đ Phía Công tyXuất nhập khẩu Nghệ An thu được 39.673.629 đ tiền phí xuất khẩu và 224.774.000tiền thuê nhà và tài sản cố định
- Năm 1994, tổng giá trị sản xuất là 2.555.293.000, tiền phí xuất khẩu là37.759.000, tiền thuê nhà là 95.960.000 đ
Thực chất của hợp đồng này là phía Đài Loan muốn tranh thủ trong thờigian những quy định của Việt Nam về cấm xuất khẩu gỗ chưa quá nghiêm ngặt đểthu mua nguyên liệu gỗ (trong đó có các loại gỗ quý) và chế biến một cách hìnhthức như ván sàn, cán chổi để xuất khẩu qua biên giới và đưa về nước Vì vậy saunăm 1996, do nguồn gỗ ở Nghệ An khan hiếm, đồng thời do quy định về cấm xuấtkhẩu sản phẩm gỗ (trừ sản phẩm mỹ nghệ) của Chính phủ Việt Nam nên phía ĐàiLoan đã tự động rút về nước và không cần thu hồi số thiết bị nhỏ của mình đã đónggóp
Trang 24Năm 1998, để tận dụng mặt bằng nhà xưởng và số thiết bị do phí đài Loan
để lại đồng thời để tạo việc làm và tăng thu nhập cho doanh nghiệp và cho ngườilao động, Công ty XNK Nghệ An đã cho phép xí nghiệp chuyển sang hình thức giacông hàng xuất khẩu cho Công ty MATSUGI CORPORATION của Nhật (phụ lục
4, Hđ3b)
Năm 1998 xí nghiệp sản xuất được 400 m³ sản phẩm với giá trị xuất khẩu(giá FOB Hải Phòng) là 400.000 USD
Phía Việt Nam được hưởng: 400 m3 x 700.000đ/m3 = 280.000.000đ
+ Năm 1999 xí nghiệp sản xuất được 1.450 m3 sản phẩm với giá trị xuấtkhẩu là 1.305.000 USD
Phía Việt Nam được hưởng 1.450 m3 x 700.000đ/m3 = 1.015.000đ
Tạo việc làm ổn định cho hơn 60 công nhân với thu nhập bình quân là 35
USD/ tháng (nguồn: Công ty XNK Nghệ An)
Năm 1998 do mới triển khai hợp đồng mới nên chỉ phát huy được 25%công suất Sau khi trừ chi phí quản lý, tiền lương công nhân, tiền điện và các loạivật tư phụ tùng thay thế, nếu trích khấu hao thiết bị nhà xưởng đầy đủ thì xí nghiệp
lỗ gần 150 triệu Năm 1999 lãi 300 triệu (vì xí nghiệp không hạch toán độc lập nênchỉ báo cáo doanh thu và chi phí)
e) Với hình thức LD khai thác nguồn nguyên liệu sẵn có ở Nghệ An choSXHXK còn có dự án LD đầu tư xây dựng nhà máy xi măng Nghi Sơn (Thanhhóa) sản xuất 2 triệu tấn/ năm cho xuất khẩu, trong đó Nghệ An góp 15% vốn bằngnguồn nguyên liệu đá vôi tại vùng núi thuộc Quỳnh Lưu (Nghệ An) vừa khánhthành cuối năm 1999
Trong năm 1999, giữa Công ty Khoáng sản thuộc Sở Công nghiệp Nghệ
An với hai công ty của Nhật là Công ty YBASHI INTERNATIONNALvà Công tyMELWA CORPORATION đã ký hợp đồng LD thành lập công ty LD với tên gọilà: "Công ty khoáng sản Việt Nhật" (VIỆT NAM - JAPAN MINERAL
Trang 25RESOURCE INDUSTRY CORPORATION) với mục tiêu là khai thác chế biến đávôi trắng cho xuất khẩu, công suất 180.000 m3 Hiện nay dự án đang được triểnkhai đầu tư xây dựng
Ngoài ra còn một số LD khai thác các nguồn khoáng sản ở Nghệ An như
xí nghiệp LD khai thác mỏ thiếc ở Quỳ Hợp với Liên Xô cũ Các xí nghiệp LD vớicác đối tác Thái Lan, để khai thác đá quý ở Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn trướcđây nhưng thời gian tồn tại ngắn, doanh thu bán hàng thu ngoại tệ không đáng kểnên tác giả không phân tích cụ thể
2.2.2.3 Hình thức LDVNN với mục đích chuyển giao thiết bị và công nghệ trong SXHXK
Nghệ An là một tỉnh đông dân, nhưng sản xuất chủ yếu là nông nghiệp, côngnghiệp, các ngành nghề khác kém phát triển, lao động thiếu việc làm nhất là khu vựcthành phố Giá trị sản xuất hàng xuất khẩu thấp, nhất là các mặt hàng của ngành côngnghiệp và chế biến Các mặt hàng xuất khẩu có thể thu hút được nhiều lao độngnhư dệt, may, giày da rất cần thiết phát triển nhưng thiếu công nghệ và thiếu thịtrường tiêu thụ, nên chưa có dự án triển khai Đảng bộ và Chính quyền Nghệ Anthường xuyên quan tâm đến việc phát triển sản xuất các mặt hàng này ở khu vựcthành phố Vinh và các thị trấn tập trung đông dân cư
Nắm được yếu tố này, Công ty INTERNATIONAL SCHUH - MASHINETRADE & SEVICE Gmbh (gọi tắt là Công ty ISMC), một công ty con làm nhiệm
vụ dịch vụ và thương mại của tập đoàn INTERNATIONAL SCHUH MASHINEN Co Gmbh của Đức đang rất cần thay đổi thế hệ công nghệ sản xuấtgiày da đã có từ năm 1938, với sự môi giới của Liên hiệp hỗ trợ và phát triển khoahọc công nghệ (gọi tắt là STD Hà Nội) Công ty ISMC đã tiếp xúc với công ty Sảnxuất và Xuất nhập khẩu Việt An (Công ty SX - XNK Việt An) thuộc Ban tài chínhquản trị tỉnh ủy Nghệ An, một công ty thành lập từ năm 1992 chủ yếu là kinhdoanh hàng tiêu dùng nhập khẩu, kinh doanh khách sạn và dịch vụ
Trang 26-Công ty ISMC đã đưa một chương trình LD cả gói bao gồm 3 hợp đồng cụthể như sau:
Hợp đồng thứ nhất: Hợp đồng LD ký ngày 02 tháng 09 năm 1996 giữa
công ty SX - XNK Việt An thuộc Ban tài chính quản trị tỉnh ủy Nghệ An và công
ty ISMC Năm 1998 công ty này phá sản chuyển giao lại cho Công ty EPCEUROPEAN PROJECT COMPANY Gmbh (gọi tắt là Công ty EPC) cũng là mộtCông ty con của Tập đoàn INTERNATIONAL SCHUH - MASHINEN Co Gmbhcủa Đức
Nội dung hợp đồng này là hai Bên cùng đóng góp và tài sản để đầu tưthành lập công ty LD Giày da Việt Đức (gọi tắt là công ty Liên doanh) Với ngànhnghề là sản xuất giày da xuất khẩu, công suất là 300.000 đôi/năm theo chất lượngmẫu mã của Đức
Tổng vốn đầu tư là 5.340.000 DM trong đó, chi phí xây dựng trụ sở nhàmáy và các chi phí đầu tư xây dựng cơ bản khác khoảng 600.000 DM do Công tycông ty SX - XNK Việt An tự vay để thực hiện
- Chi phí mua sắm dây chuyền thiết bị và các chi phí chuyển giao côngnghệ, chuyển giao thị trường, đào tạo công nhân là 4.240.000 DM Phía Công tyISMC (sau này là Công ty EPC) đóng góp 30% số chi phí này, còn lại là do Công
ty SX - XMK Việt An đóng góp
- Phần còn lại là vốn lưu động, do Công ty LD trực tiếp vay khi triển khaisản xuất (phụ lục 4, HĐ 4a)
Hợp đồng thứ hai: Hợp đồng mua bán thiết bị (ký ngày 15/12/1998).
Nội dung của hợp đồng là công ty EPC do ông Tilo Ulmer giám đốc điềuhành của Công ty EPC (đồng thời là phó Chủ tịch Hội đồng quản trị của công tyLD) và Công ty LD do ông Hoàng Đức Ái Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty
LD (đồng thời là giám đốc Công ty SX - XNK Việt An) thống nhất mua và bán
Trang 27một dây chuyền thiết bị làm giày, công suất 300.000 đôi/năm với giá trọn gói là4.240.000DM.
Trong đó giá thiết bị cộng chi phí vận chuyển đường biển và bảo hiểm là2.400.000 DM, còn lại là 1.840.000 DM là các chi phí khác như chi phí chuyểngiao công nghệ, chuyển giao thị trường, chi phí đào tạo chảy thử, chi phí thamquan khảo sát, lương chuyên gia
Điều kiện thanh toán là thanh toán bằng tín dụng thư không hủy ngang trảngay 100% khi người bán xuất trình bộ chứng từ giao hàng đầy đủ cho ngân hàng
mở L/C (phụ lục 4, HĐ 4b)
Hợp đồng thứ ba: Hợp đồng bao tiêu hàng xuất khẩu
Nội dung của hợp đồng là Công ty MANAGEMENT AND MARKETINGINTERNATIONAL COMPANY Gmbh (gọi tắt là MMIC) thuộc Tập đoànINTERNATIONAL SCHUH - MASHINEN TRADE do Công ty EPC chỉ định, kýhợp đồng bao tiêu toàn bộ sản phẩm do Công ty LD sản xuất theo mẫu mã, quycách của MMIC cung cấp
Giá bao tiêu sản phẩm được ấn định cao hơn 30% so với giá thành sản xuất.Trong trường hợp giá nguyên liệu lên cao thì giá bao tiêu sản phẩm cũng sẽ nânglên tương ứng (phụ lục 4, HĐ 4c)
Nội dung và quá trình thực hiện các hợp đồng kinh tế của dự án LD Giày
da Việt Đức đã được các ngành của địa phương và trung ương thẩm định và phêduyệt, được cấp giấy phép đầu tư số 1861A/GP ngày 17/12/1998
Công ty SX - XNK Việt An đã vay 23 tỷ của Cục Đầu tư Nghệ An và 3 tỷcủa Ban tài chính quản trị tỉnh ủy Nghệ An, một số khác của ngân hàng ngoạithương để mở L/C mua sắm thiết bị và xây dựng trụ sở nhà xưởng và các côngtrình hạ tầng Một L/C với trị giá là 4.240.000 DM của phía Việt Nam được chấpnhận mở cho Công ty EPC, trong đó có 1.272.000 DM do công ty EPC góp vốn.Cho đến tháng 3 năm 1999 công ty SX - XNK Việt An chuyển nốt 1.100.000DM
Trang 28cho công ty EPC để thanh toán chi phí chuyển giao công nghệ, chuyển giao thịtrường, chi phí đào tạo, lương chuyên gia
Tháng 5/1999 Công ty LD Giày da Việt Đức tuyên bố khánh thành để đivào hoạt động Nhưng từ đó đến nay toàn bộ chuyên gia của Công ty EPC vàMMIC sau khi được thanh toán đầy đủ các khoản đầy đủ các khoản kinh phí theohợp đồng quy định đã tự động rút về nước không thực hiện cam kết bao tiêu sảnphẩm Nhà máy phải đóng cửa, phía Việt Nam phải vay tiền của ngân hàng để trảlại tiền đào tạo cho công nhân và cho công nhân nghỉ việc
Cho đến nay tổng số tiền vay và lãi suất vay vốn đầu tư cho Công ty LDViệt Đức của Công ty SX - XNK Việt An đã hơn 30 tỷ nhưng nhà máy vẫn đóngcửa Phía Việt Nam nhiều lần yêu cầu phía Đức (Công ty MMIC) trả lời việc tiêuthụ sản phẩm, MMIC trả lời chỉ chấp nhận giá mua là 16 DM/đôi với số lượngkhoảng 40.000 đôi/năm Trong khi đó giá nguyên vật liệu nhập khẩu của Mmic đã
là 14 DM/đôi Nếu tính đầy đủ các loại vật tư, phụ kiện khác, khấu hao thiết bị,tiền thuê nhà xưởng đất đai, chi phí nhân công, vận chuyển và các chi phí khác, giáthành 1 đôi giày là 24 DM
Đây là một thiệt hại rất lớn cho Công ty SX - XNK Việt An nói chung vàcho ngân sách Nghệ An nói riêng
Tóm lại, về hình thức và thủ tục, việc thành lập LD thực hiện rất đầy đủ và
có sức thuyết phục cao, rất khả thi và có tỷ suất lợi nhuận lớn Nếu theo công suấtthỏa thuận và giá trị bao tiêu sản phẩm như dự kiến ban đầu, sau khi tính toán đầy
đủ chi phí, mỗi năm xí nghiệp sẽ có một khoản lãi trước thuế là: 300.000 x 24 DM/đôi = 2.160.000 DM So với Tổng mức đầu tư là 5.340.000DM thì tỷ lệ sinh lãitrên tổng vốn đầu tư là 30%, lớn hơn nhiều so với lãi suất vốn đầu tư hiện tại là9,72%/năm, do đó dự án được cơ quan cho vay vốn chấp nhận Hợp đồng LD lạikèm theo chuyển giao bí quyết công nghệ, đào tạo tay nghề và chuyển giao thịtrường nên được Tỉnh ủy, UBND tỉnh và các ngành kinh tế ở Nghệ An ủng hộ
Trang 29Về thực chất đây là một hợp đồng nhằm bán những thiết bị máy móc, côngnghệ sản xuất giày đã lỗi thời của Tập đoàn INTERNATIONAL SCHUH -MASCHINEN Co.Gmbh qua sự đạo diễn của ông TILO ULMER Tuy các điềukhoản của hợp đồng chi tiết và đầy đủ các khoản mục nhưng có rất nhiều sơ hở:
Thứ nhất, Công ty INTERNATIONAL SCHUH - MASCHINEN Gmbh &
Co là một công ty dịch vụ thương mại buôn bán thiết bị với vốn đăng ký là 50.000USD và vốn cổ phần là 54.000 DM lại đang đứng bên bờ phá sản hoàn toàn không
có khả năng tài chính để thực hiện góp vốn LD Công ty EPC EUROPEANPROJECT COMPANY Gmbh thay thế cũng chỉ là một công ty trung gian và môigiới với số vốn đăng ký là 50.000 DM Cả hai công ty này đều là Công ty môi giớibán hàng cho Công ty EPC SHOE - PRODUCTION EQUIMENT Gmbh
Thứ hai,Về phía đối tác Việt Nam, Công ty SX - XNK Việt An chỉ chuyên
kinh doanh nhập khẩu hàng tiêu dùng và kinh doanh khách sạn hoàn toàn không cókinh nghiệm về chuyên môn và công nghệ sản xuất Giày da và thị trường tiêu thụ.Đội ngũ lãnh đạo chủ chốt của công ty kém năng lực, ít hiểu biết về quản lý đầu tưxây dựng nhất là đầu tư nước ngoài, thiếu trình độ và thiếu kinh nghiệm về thanhtoán quốc tế mua và sắm thiết bị công nghệ Việc chọn lựa và bố trí nhân lực vàoHội đồng quản trị và Ban giám đốc thiếu hợp lý, thiếu sự ràng buộc về trách nhiệmgiữa người vay vốn, sử dụng và quản lý vốn Trong thời gian đầu tư xây dựng, cảChủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc đều phải thay đổi
Thứ ba, dự án LD đầu tư xây dựng nhà máy được đi kèm theo một hợp
đồng bao tiêu 100% sản phẩm với giá xuất khẩu cao hơn 30% giá thành, rõ ràng là rấtkhả thi, nhưng phía đối tác nước ngoài chỉ góp vốn bằng 30% chi phí mua sắmthiết bị và chuyển giao công nghệ thị trường, nếu tính trên tổng mức đầu tư số vốnnày chỉ chưa đầy chiếm 25% Nếu xem xét và nhìn nhận một cách chặt chẽ, lôgic,phía nước ngoài hoàn toàn không có thiện chí cùng góp vốn làm ăn lâu dài, cùng chia
Trang 30sẻ lợi nhuận và rủi ro mà cố tình lách luật và lợi dụng sơ hở của phía đối tác ViệtNam và công tác thẩm định để mua bán thiết bị
Thứ tư, giá trọn gói của thiết bị, chuyển giao công nghệ, chuyển giao thị
trường, đào tạo tham quan, khảo sát là 4.240.000 DM Trong đó giá bán máy mócthiết bị chỉ là 2.400.000 DM, còn lại toàn bộ 1.840.000 là giá phần mềm trong đó
có những chi phí chưa phù hợp và chi phí tính trùng như chi phí tham quan, khảosát, đã tính chi phí đào tạo lại còn tính cả tiền lương cho chuyên gia trong thời gianđào tạo Theo cách góp vốn và tỷ lệ góp vốn của các bên, phía đối tác nước ngoàisau khi thanh toán đầy đủ các loại kinh phí, nếu rút khỏi LD không cần tính số vốngóp của mình thì việc bán máy móc thiết bị vẫn có lãi, chưa tính đến giá thiết bịkhông được đấu thầu và không được thẩm định có đúng với giá đích thực của nóhay không
Thứ năm, Trong điều khoản thanh toán của hợp đồng mua sắm thiết bị quy
định bên mua phải mở tín dụng thư không hủy ngang thanh toán ngay 100% giá trịhợp đồng khi bên bán xuất trình bộ chứng từ giao hàng là sai quy định của Điều lệquản lý đầu tư và xây dựng đối với việc mua sắm thiết bị từ nước ngoài cho các dự
án đầu tư xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam dù dưới hình thức đấu thầu hay chỉ địnhthầu Trong những chứng từ cần thiết để có thể thanh toán 100% tiền mua sắm thiết
bị, còn thiếu những chứng từ sau:
+ Bảo lãnh thực hiện hợp đồng của người bán có giá trị từ 10 - 15% giá trịhợp đồng kể từ khi hợp đồng có hiệu lực đến hết thời hạn bảo hành cơ khí
+ Biên bản nghiệm thu của thiết bị
Thứ sáu, Trong Điều khoản quy định chất lượng của thiết bị không nêu rõ
tình trạng của thiết bị là phải hoàn toàn mới và không quy định năm sản xuất, tạo
sơ hở cho việc chuyển giao thiết bị đã lỗi thời
- Trong hợp đồng cũng không quy định có chứng thư giám định của cơquan giám định Việt Nam (VINACONTROL) tại cảng đến hoặc tại nhà máy mà