Chương 3. NGHỆ THUẬT PHẢN ÁNH MÙA XUÂN TRONG THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT
3.2. Bút pháp nghệ thuật
3.2.3. Bút pháp tả cảnh, ngụ tình
Tả cảnh, ngụ tình là một trong những thủ pháp nghệ thuật quen thuộc nhằm bộc lộ tâm trạng, cảm xúc của con người trong văn học nói chung và thơ ca trung đại nói riêng.
Nói một cách đơn giản, tả cảnh ngụ tình là cách mượn cớ tả cảnh để nói tình, thông qua tả cảnh để “gửi gắm lí tưởng và tình cảm của các thi nhân, ẩn chứa nhiều ngụ ý sâu sắc” [32;
834]. Vì vậy khi tả cảnh, nhiều khi nhà thơ không nhằm hướng người đọc đến vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên mà đích cuối cùng đạt được chính là tình. Cảnh vật chính là cái phông, cái nền để bộc lộ tình cảm của con người. Bởi lẽ thơ “muôn đời là tiếng nói tâm tình của cảm xúc, của tư tưởng. Thơ đồng hành cùng cuộc sống buồn vui, khổ đau, hạnh phúc giữa đời thường” [35; 1]. Nói về mối quan hệ giữa cảnh và tình, cụ Nguyễn Du từng khẳng định:
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Cảnh vật được nhìn qua lăng kính tâm trạng của con người nên nó mang dấu ấn chủ quan. Chính vì vậy mà cùng hướng về khám phá vẻ đẹp của mùa xuân mà các nhà thơ trung đại đã tạo ra những dấu ấn riêng với những tâm sự riêng khi sử dụng bút pháp nghệ thuật này.
Là bậc chính nhân quân tử luôn ý thức được tài năng, phẩm giá của mình, cả cuộc đời luôn mang khát vọng cháy bỏng “trợ nước, yên dân” nhưng gặp thời xã hội nhiều dối trá, lọc lừa, bon chen chém giết nên Nguyễn Trãi đành chọn cuộc sống vui thú điền viên chốn quê nhà, làm bạn với cỏ cây, hoa lá:
Càng thuở già càng cốt cách, Một phen giá một tinh thần.
(Mai – QÂTT)
Hoa mẩy, cây nên, thuở đốc sương, Chẳng tàn, chẳng cỗi, hãy phong quang.
(Lão mai – QÂTT)
Câu thơ được dùng để miêu tả hoa mai – sứ giả đáng yêu của mùa xuân dáng hao gầy, thanh mảnh nhưng đã vượt qua sự hủy diệt khốc liệt của mùa đông mà đơm hoa, tỏa hương thơm ngát. Đặc điểm đó của cây mai cũng chính là phẩm chất tốt đẹp của người quân tử, của đấng trượng phu luôn có một bản lĩnh kiên cường, có tinh thần vượt khó khăn, thử thách, đứng vững trước mọi hoàn cảnh, quyết không a dua theo thời, không sống một cách tầm thường:
Cởi tục chè thường pha nước tuyết Tìm thanh trong vắt tịn chè mai.
(Ngôn chí, bài 1 – QÂTT)
Câu thơ gợi ra một cuộc sống của một tiên ông với phong thái ung dung, tự tại bỏ lại đằng sau những thói đời phàm tục để tìm niềm vui trong sở thích thanh tao: Đó là thưởng thức trà hồng mai trong vòng tay che chở yêu thương thiên nhiên. Đúng thật là trong cảnh có tình, tình được ẩn giấu trong cảnh nên càng tạo ra sức hấp dẫn muôn đời của thơ ca.
Các nhà thơ thời Hồng Đức do được sống trong một xã hội thanh bình, thịnh trị dưới thời Lê, xã hội đó giống như thời đại của vua Nghiêu, vua Thuấn bên Trung Quốc nên bức tranh xuân của họ tràn ngập niềm vui:
Một khi trời đất đắp đổi vần,
Ba tháng đông lại ba tháng xuân.
Sinh thành mọi vật lại tươi tốt,
Đầm ấm nào ngày chẳng đượm nhuần.
(Vịnh cảnh mùa xuân, bài 5 - HĐQÂTT)
Qua sự đầm ấm của không gian mùa xuân, sự tươi tốt của vạn vật mà người đọc cảm nhận rõ được không khí sum vầy trong cuộc sống ấm no, đủ đầy của nhân dân. Niềm vui trước cuộc sống viên mãn của nhân dân lan sang lòng người và phả vào đất trời vạn vật.
Mùa xuân của thiên nhiên cũng chính là mùa xuân của đất nước – một đất nước đang trong giai đoạn phát triển cực thịnh với những ông vua luôn luôn suy nghĩ và hành động hướng về nhân dân. Chính vì vậy mà cảnh đường xá tấp nập, đông đúc, chen chúc xe ngựa cũng mang một niềm vui phơi phới:
Đường chen xe ngựa tai vang nhạc Nào chốn nào là chẳng cõi nhân.
(Vịnh cảnh mùa xuân, bài 13 - HĐQÂTT)
Sở dĩ thiên nhiên là người bạn tri âm muôn đời của thi nhân là bởi thi nhân luôn tìm thấy ở thiên nhiên tiếng nói đồng cảm sâu sắc. Các nhà thơ thời trung đại đã tìm đến thiên nhiên để được bộc bạch, giãi bày, chia sẻ, để được ve vuốt, vỗ về để có thể quên đi những đau đớn, bất công mà xã hội con người mang lại. Sống gần gũi với thiên nhiên, họ đã phát hiện ra giữa quy luật của thiên nhiên có nhiều nét tương đồng với quy luật của cuộc sống con người:
Cỏ hoa xuân đến cũng đầm hâm Thu muộn ai hay trúc có thơm.
(Thơ Nôm, bài 33 – Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Tác giả đã mượn quy luật vận động của tự nhiên, mùa xuân đến cây cỏ tốt tươi, khi hết tiết mùa thu ai hay rằng loài trúc vẫn chịu đựng cái rét mùa đông, vẫn là loài cây có danh thơm. Qua đó, thi nhân muốn khẳng định một chân lí được rút ra từ trải nghiệm của bản thân: gặp thời vận mọi người đều dễ làm nên công danh, nhưng khi hết thời, rất ít kẻ
giữ được khí tiết, danh dự. Có thể nói, Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong số ít những nhà nho đã sáng suốt trong lẽ xuất xử. Khi thời thế không thuận lợi để thực hiện lí tưởng cao đẹp, ông đã dứt khoát từ bỏ “chí để ở công danh” để tìm đến niềm vui của một thiên đường nơi mặt đất:
Hương đầy tiệc khách, hoa khi rụng, Hứng dẫy vườn chim thuở kêu.
Án cũ giở xem ba quyển sách.
Song thưa ngơi nghỉ một con lều.
(Thơ Nôm, bài 37 - Nguyễn Bỉnh Khiêm) Xuân về, hoa nở mùi hương nức,
Khách đến chim mừng dáng mặt quen.
Chốn ấy thanh nhàn được thú, Lọ là Bồng đảo mới tiên.
(Thơ Nôm, bài 118 - Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Thiên đường, chốn Bồng lai tiên cảnh không ở đâu xa mà cũng không cần nhọc công tìm kiếm. Nó ở ngay xung quanh cuộc sống của chúng ta, trong tầm tay với của mỗi người mà ai cũng có thể sở hữu. Đó chính là thiên nhiên, đặc biệt là thiên nhiên trong tiết trời mùa xuân giống như một bữa tiệc lớn với trăm hoa đua nở, chim hót ríu rít. Những bức tranh mùa xuân ấy phản chiếu cuộc sống đầy tự do, phóng khoáng và thanh tịnh của vị Tuyết giang phu tử giữa chốn quê nhà.
Còn nữ thi sĩ Xuân Hương – một nhà thơ có cuộc đời hồng nhan bạc mệnh đã mượn cặp đá chồng, đá vợ vô tri vô giác để nói lên nỗi niềm của mình:
Đá kia còn biết xuân già dặn,
Chả trách người ta lúc trẻ trung.
(Đá ông Chồng bà Chồng – Hồ Xuân Hương)
Qua bút pháp tả cảnh ngụ tình, qua mối tình chung thủy sắt son, bền vững của đá chồng, đá vợ người đọc càng thêm trân trọng khao khát vô cùng chính đáng của bà Hồ Xuân Hương cũng như của người phụ nữ trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ. Đó là khát vọng yêu và được yêu, khát vọng về một mái ấm gia đình hạnh phúc và càng trẻ thì càng phải khao khát. Đặt trong cảnh ngộ riêng tư gặp nhiều bất hạnh, chúng ta càng cảm thông hơn cho nỗi niềm mong ước ấy của bà.
Sống trong cảnh nước mất nhà tan, triều đình phong kiến suy tàn, để giữ gìn sự thanh liêm, cao khiết trong tâm hồn, Nguyễn Khuyến đã cáo quan về ở ẩn. Nhưng là một nhà nho nặng lòng với dân, với nước, Nguyễn Khuyến chưa thể ngoảnh mặt làm ngơ nên bao tâm sự ông gửi gắm hết vào cảnh xuân để nguôi bớt nỗi buồn. Trước thềm năm mới, tâm hồn nhà thơ sống dậy biết bao nỗi niềm tâm sự:
Dăm ba ngày nữa tin xuân đến, Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng.
(Chợ Đồng – Nguyễn Khuyến)
Qua phiên chợ Đồng – phiên chợ giáp tết trên quê hương của mình, nhà thơ đã làm sống lại những nét đẹp văn hóa, những thuần phong mĩ tục của làng quê xưa trong dịp tết đến, xuân về. Trong thời khắc thiêng liêng khi năm cũ sắp qua, năm mới sắp đến, Nguyễn Khuyến cháy lòng một nỗi mong mỏi người dân có được cuộc sống no ấm. Niềm mong mỏi ấy làm sáng ngời tấm lòng yêu nước, thương dân của nhà thơ.
Như vậy, qua bút pháp nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, người đọc vừa được khám phá những bức tranh thiên nhiên mùa xuân tươi đẹp của non sông gấm vóc lại vừa được hòa chung với những nỗi niềm tâm sự thầm kín của các nhà thơ. Tâm trạng của họ có những sắc thái khác nhau song đều bắt nguồn từ hoàn cảnh chung của đất nước, cảnh ngộ riêng của bản thân. Điều đó càng khiến ta thêm trân trọng và ngưỡng mộ nhân cách của các tác giả thơ Nôm Đường luật trung đại.