Chương 3. NGHỆ THUẬT PHẢN ÁNH MÙA XUÂN TRONG THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT
3.3.1. Thành phần ngôn ngữ Hán học
Một trong những đặc điểm tiêu biểu của văn học trung đại nói chung và thơ Nôm Đường luật nói riêng là tính quy phạm. Điều đó được thể hiện rất rõ ở thói quen sử dụng ngôn ngữ, hướng chọn đề tài, chủ đề nên việc sử dụng số lượng lớn từ Hán – Việt trong thơ Nôm Đường luật đặc biệt là thơ Nôm Đường luật viết về mùa xuân cũng là điều dễ hiểu.
Từ Hán – Việt là từ vay mượn của tiếng Hán nhưng lại được đọc theo cách phát âm của tiếng Việt. Phần lớn số từ Hán – Việt là những từ đa âm tiết tức là có từ hai âm tiết trở lên như: quân tử, trượng phu, giang sơn, yên hà, công danh, phong lưu, nguyệt... Những từ Hán – Việt được sử dụng trong thơ Nôm Đường luật để biểu thị những thuật ngữ, khái niệm Nho giáo mà tiếng Việt không có hoặc nếu có thì không đảm bảo tính cô đọng, hàm súc của thơ Đường luật.
Mỗi tác giả trong những bức tranh mùa xuân của mình lại sử dụng từ Hán – Việt với một mục đích khác nhau. Trong Quốc âm thi tập, từ Hán – Việt thường được dùng để bộc lộ tư tưởng nhàn dật giúp thi nhân gửi gắm tâm sự của mình một cách kín đáo:
Lểu thểu chưa nên tiết trượng phu Miễn là phỏng dáng đạo tiên nho, Trà mai đêm nguyệt dậy xem bóng, Phiến sách ngày xuân ngồi chấm câu.
(Ngôn chí, bài 2 – QÂTT) Thân nhàn dầu tới, dầu lui, Thua được bằng cờ ai kẻ đôi.
(Ngôn chí, bài 12 – QÂTT) Một phút thanh nhàn trong thuở ấy Thiên kim ước đổi được hay chăng?
(Ngôn chí, bài 15 – QÂTT) Trì thanh, cá lội in vầng nguyệt, Cây tĩnh chim về rợp bóng xuân.
(Bảo kính cảnh giới, bài 38 – QÂTT)
Những từ Hán – Việt như: trượng phu, nguyệt, nhàn, thanh nhàn, thiên kim, thanh đều là những từ ngữ được dùng để diễn tả cuộc sống nhàn dật, thanh thản chốn lâm tuyền cỏ cây, sông nước xa lánh cõi trần. Đó là nơi mà con người tìm thấy được niềm vui sống đích thực trong sự tự do, trong mối giao hòa gắn bó với thiên nhiên. Nguyễn Trãi còn dùng từ Hán – Việt để nói lên triết lí nhân sinh mà mình rút ra từ trải nghiệm của chính bản thân:
Dưới công danh, đeo khổ nhục, Trong dại dột, có phong lưu.
(Ngôn chí, bài 2 – QÂTT)
Qua đó cho ta thấy cùng một chủ đề nhưng Nguyễn Trãi đã sử dụng nhiều từ Hán – Việt khác nhau vừa tạo nên sự đa dạng phong phú cho ngôn ngữ lại vừa bộc lộ được tâm trạng của mình.
HĐQÂTT là tập thơ do vua, quan dưới triều Lê sáng tác nên mang đậm dấu ấn cung đình. Trong những bài thơ Nôm viết về đề tài mùa xuân, họ sử dụng rất nhiều từ Hán – Việt tạo nên vẻ đẹp trang nhã, cao cả. Trước hết từ Hán – Việt trong HĐQÂTT được dùng để nói lên cốt cách, khí tiết của con người
Tiết cứng trượng phu từng ấy bạn, Nết trong quân tử trúc là đôi.
(Mai thụ - HĐQÂTT)
Trượng phu và quân tử là từ Hán – Việt dùng để chỉ đấng nam nhi có khí phách, có lí tưởng, có bản lĩnh vững vàng. Các từ Hán – Việt đó đã tạo nên tính đa nghĩa cho câu thơ khiến người đọc không chỉ cảm nhận đươc vẻ đẹp của cây trúc, cây mai mà sâu sa hơn là lời ca ngợi phẩm chất cao đẹp của người quân tử.
Cũng dùng từ Hán – Việt trượng phu và quân tử nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm lại gắn liền với lẽ xuất xử của nhà Nho chân chính:
Quân tử mới hay nơi xuất xử, Trượng phu cũng có chí anh hùng.
(Thơ Nôm, bài 34 – Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Bên cạnh đó ở HĐQÂTT còn có những bài thơ tả cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp được vẽ lên bởi những thi liệu Hán học có tính chất khuôn mẫu:
Từ thuở Đông Hoàng chịu lấy quyền Thiều quang làm cảnh rạng xuân thiên Đường hoa chấp chới tin ong dạo, Dặm liễu thung thăng sứ điệp truyền
(Lại vịnh cảnh mùa xuân, bài 6 – HĐQÂTT)
Những từ Hán Việt được các nhà thơ thời Hồng Đức sử dụng kết hợp với những từ thuần Việt... khiến bức tranh mùa xuân trở nên lung linh, rực rỡ và sang trọng hơn. Không chỉ miêu tả cảnh đẹp của thiên nhiên, các từ Hán – Việt trong HĐQÂTT còn được dùng để ca ngợi triều đình phong kiến thịnh trị, ca ngợi đấng minh quân sáng suốt, anh minh:
Tượng mở thái hòa Nghiêu vỗ trị Ơn nhiều chẩn thải Hán nuôi dân Đài xuân bốn bể đều vây họp Tuổi tám ngàn tôi chúc thánh quân.
(Vịnh cảnh mùa xuân, bài 5 – HĐQÂTT)
Với tài năng và tinh thần dân tộc, các thi nhân khi sử dụng từ Hán Việt đã có nhiều sáng tạo, Việt hóa nó để trở nên gần gũi với cách cảm, cách nghĩ của nhân dân góp phần làm phong phú kho từ vựng của dân tộc. Sáng tạo này chủ yếu được thể hiện ở hai tập thơ QÂTT và HĐQÂTT. Từ Hán – Việt được Việt hóa bằng nhiều cách, có khi tác giả giữ đúng vị trí của các yếu tố Hán – Việt sang từ Việt như sơ ảnh dịch thành bóng thưa; ám hương được dịch thành lịm đưa hương...
Bóng thưa ánh nước động người vay (Mai, bài 2 – QÂTT)
Lịm đưa hương, một nguyệt hay (Mai, bài 3 – QÂTT) Cũng có khi tác giả có cách đảo từ rất đặc biệt:
Tự bén hơi xuân tốt lại thêm (Cây chuối - QÂTT )
Trong sức trỗi dậy của vạn vật trong trời đất, cây chuối gặp hơi xuân lại càng tốt hơn, cách đảo từ tốt lại thêm có hiệu quả cao trong việc nhấn mạnh cây chuối vốn là tốt nay gặp hơi xuân, khí xuân lại tốt hơn bội phần.
Hay khi để nhấn mạnh tình yêu của mình dành cho cây dương liễu, Nguyễn Trãi đã đảo từ lên đầu câu:
Một phát xuân là một động người (Cây dương - QÂTT)
Cũng là đảo từ lên đầu câu nhưng với bà Hồ Xuân Hương là để nhấn mạnh sự bứt phá, quẫy đạp mạnh mẽ, dữ dội của rêu, của đá cũng là sự nổi loạn của tâm hồn trước một thực tại đầy chua xót:
Xiên ngang mặt đất rêu từng đám, Đâm toạc chân mây đá mấy hòn.
(Tự tình II – Hồ Xuân Hương)
Như vậy, ta thấy rằng việc sử dụng từ Hán – Việt trong thơ Nôm Đường luật viết về đề tài mùa xuân vừa đem lại vẻ đẹp Đường thi cho bức tranh vừa khắc họa vẻ đẹp non tơ, căng tràn nhựa sống của đất trời, vạn vật trong sự cô đọng, hàm súc. Việc sử dụng linh hoạt, uyển chuyển từ Hán - Việt trong các sáng tác của các thi nhân góp phần làm giàu đẹp cho ngôn ngữ dân tộc.
3.3.1.2. Điển cố và thi liệu Hán
Do xuất phát từ quan niệm thời gian tĩnh tại, thời gian vận hành theo vòng tuần hoàn, do tâm lý sùng cổ coi cái đẹp là thuộc về quá khứ của người trung đại nên cái nhìn của họ không hướng về tương lai mà quay trở về quá khứ. Thời đại hoàng kim là thời đại một đi không trở lại, thời đại nay chỉ còn vang bóng. Chính vì vậy, các thi nhân xưa rất hay sử dụng các điển cố, điển tích, những hình ảnh mang tính công thức trong các sáng tác của mình.
Bên cạnh việc sử dụng từ Hán, việc sử dụng điển cố và thi liệu Hán học vào trong sáng tác văn học là một trong những đặc điểm phổ biến của người nghệ sĩ thời trung đại.
Điển cố là những câu chuyện được chép trong sách xưa được tác giả sử dụng lại trong tác phẩm mới nhằm tăng cường sức biểu hiện, mở rộng, đổi mới ý thơ. Việc sử dụng điển cố còn là cách để tác giả kín đáo bộc lộ quan niệm, tâm trạng của mình trước con người và thời cuộc. Ngoài ra, sử dụng điển cố trong thơ Nôm Đường luật còn tạo nên tính cô đọng, hàm súc, thâm thúy và đa nghĩa cho tác phẩm.
Trong những bài thơ Nôm Đường luật viết về đề tài mùa xuân, các tác giả còn hay sử dụng thi liệu Hán. Những bức tranh mùa xuân thường được các thi nhân vẽ lên bằng những nét vẽ tinh tế, mượt mà và mang tính công thức gắn liền với những chất liệu quen thuộc như: đông phong, nguyệt, hoa mai, hoa đào, hoa lê, chim én, bướm... Mức độ sử dụng điển cố và thi liệu Hán ở mỗi tác giả, tác phẩm là khác nhau, có những điển tích được sử dụng nhiều lần nhằm nhấn mạnh tâm trạng, thái độ của mình.
Tập thơ QÂTT, Nguyễn Trãi sử dụng điển và thi liệu Hán không nhiều như trong HĐQÂTT, các điển và thi liệu Hán mà Nguyễn Trãi dùng tập trung thể hiện phẩm chất, tài năng, tấm lòng trung quân ái quốc hay tư tưởng nhàn dật của ông như: Lâm Bô; Cô Dịch;
Thọ Dương; Thái chân...
Gác đông ắt đã từng làm khách, Há những Bô tiên kết bạn chơi.
(Thơ mai, bài 1 - QÂTT)
Điển Bô tiên tức tiên ông Lâm Bô (967 – 1028), nhà thơ đời Tống sống một mình trên Cô Sơn, làm bạn với mai và hạc, mai thê hạc tử suốt đời không ra làm quan, sở trường và nổi tiếng về vịnh thơ mai. Nhờ khéo léo sử dụng điển tích đó và thi liệu Hán gác đông giúp Nguyễn Trãi bộc lộ niềm vui sướng, thanh thản với cuộc sống nhàn dật, thanh cao của mình sau khi từ quan về ở ẩn chốn quê nhà. Có khi Nguyễn Trãi dùng điển và thi liệu Hán để miêu tả vẻ đẹp của hoa mai góp phần tô điểm cho bức tranh xuân rực rỡ:
Hoa mẩy cây nên thuở đốc sương, Chẳng tàn chẳng cỗi hãy phong quang.
Cách song khác ngỡ hồn Cô Dịch, Quáng bóng in nên mặt Thọ Dương.
(Lão mai - QÂTT)
Cô Dịch là tên núi ở tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc. Theo sách Trang Tử, trên núi Cô Dịch có thần nhân ở, da thịt như băng tuyết, yểu điệu như người con gái chưa chồng, không ăn năm loài thóc, chỉ uống gió, uống sương. Còn Thọ Dương tức công chúa Thọ Dương, con gái Tống Vũ Đế thời Nam Bắc triều, tương truyền ngày mồng 7 tháng giêng nằm ngủ ở dưới thềm điện Hàm Chương, có hoa mai rụng xuống trán thành hoa năm cánh, lấy tay gạt bỏ không được. Nhân đó phụ nữ thường vẽ hoa mai trên trán để trang sức, gọi là mai hoa trang, mai trang hoặc Thọ Dương trang. Cả hai điển nay được tác giả sử dụng nhằm ca ngợi cốt cách của hoa mai cũng chính là phẩm chất của người quân tử.
Đến với HĐQÂTT ta hay bắt gặp điển Nghiêu - Thuấn được các thi nhân sử dụng nhằm để thể hiện niềm mong ước về một cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân cũng như ca ngợi sự anh minh, sáng suốt của các đấng minh quân:
Tượng mở thái hòa Nghiêu vỗ trị.
(Vịnh cảnh mùa xuân, bài 5 – HĐQÂTT)
Rờ rỡ cửa vàng ngày Thuấn rạng, Lầu lầu phiến ngọc lịch Nghiêu phân.
(Vịnh tết Nguyên đán, bài 1 – HĐQÂTT)
Trong lịch sử đất nước Trung Hoa, vua Nghiêu, vua Thuấn là những vị vua anh minh bậc nhất, hết lòng chăm lo cuộc sống cho muôn dân, dưới sự trị vì của các vị vua này đất nước được thanh bình, hưng thịnh. Chính vì vậy vua Nghiêu, vua Thuấn đã trở thành những hình mẫu lí tưởng, chuẩn mực cho các triều đại sau này.
Điển tích trên cũng xuất hiện trong thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, cùng với điển Vũ, Thang:
Thu nguyệt sáng soi thông tử phủ Xuân hoa đua nở rỡ phong quang Khúc văn thơ đọc đời Nghiêu, Thuấn Khúc thái bình nhớ chúa Vũ, Thang.
(Thơ Nôm, bài 90 – Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Các điển được kết hợp một cách linh hoạt với các thi liệu Hán học như: thu nguyệt, tử phủ, xuân hoa đem lại hiệu quả cao trong việc miêu tả vẻ đẹp của thiên nhiên cũng như cuộc sống no ấm, thanh bình của nhân dân. Cũng có lúc Trạng Trình dùng điển trong văn học để nói lên thái độ coi thường vinh hoa phú quý của mình:
Rượu đến cội cây, ta sẽ uống, Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.
(Thơ Nôm, bài 73 – Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Câu thơ được viết dựa vào điển tích Hòe An nói về Thuần Vu Phần uống rượu say nằm ngủ dưới gốc cây hòe, rồi nằm mơ thấy mình ở nước Hòe An, được công danh phú quý rất mực vinh hiển. Sau bừng mắt tỉnh dậy thì hóa ra đó là một giấc mộng, thấy cành hòe phía nam chỉ có một tổ kiến mà thôi. Điển tích này được sử dụng để nhấn mạnh quan niệm sống của Nguyễn Bỉnh khiêm – một vị quan từng đạt đỉnh cao tiền tài danh vọng coi giàu sang, phú quý chỉ như một giấc chiêm bao.
Sự xuất hiện của điển cố và thi liệu Hán trong tác phẩm vừa đảm bảo tính cô đọng, hàm súc vừa làm tăng thêm vẻ đẹp Đường thi cho bức tranh thiên nhiên mùa xuân. Tuy nhiên, việc tiếp nhận điển cố, thi liệu Hán không hề đơn giản. Nó đòi hỏi người đọc phải có vốn hiểu biết sâu rộng, uyên thâm. Vì vậy trong quá trình sử dụng, các tác giả đã có những cách tân nhất định để người đọc cảm thấy gần gũi hơn.
Trong quá trình sử dụng thi liệu Hán, dựa vào những câu thơ trong văn học Trung Hoa cổ, các thi nhân đã cố gắng dịch thoát ý và điễn đạt bằng ngôn ngữ dân tộc:
Tiết cứng trượng phu thông ấy bạn Nết trong quân tử trúc là đôi.
(Mai thụ - HĐQÂTT)
Hai câu thơ này được dịch thoát ý bắt nguồn từ câu thơ: “Trúc ngoại thanh tùng trúc hạ mai" trong bài Lâm hoa đình khiến người đọc dễ dàng cảm nhận được vẻ đẹp của hoa mai cũng như cốt cách của người quân tử.
Hay Nguyễn Trãi đã dựa vào ý thơ của Lâm Bô vịnh hoa mai: “Sơ ảnh hoành tà thủy thanh thiển, ám hương phù động nguyệt hoàng hôn" nghĩa là: “Bóng thưa chếnh ngang vũng nước trong, hương ngâm nồng tỏ úa vầng trăng" để viết lên hai câu thơ:
Bóng thưa ánh nước động người vay Lặm đưa hương một người hay.
(Mai thi – QÂTT)
Qua quá trình tìm hiểu cho ta thấy, việc sử dụng điển cố và thi liệu Hán là một trong những đặc điểm thi pháp của văn học trung đại nói chung và thơ Nôm Đường luật viết về mùa xuân nói riêng. Đặc điểm này góp phần tạo nên vẻ đẹp riêng cho văn học trung đại:
bác học, sang trọng, cao quý. Tuy nhiên, trong khi sử dụng các nhà thơ đã vận dụng một cách linh hoạt khiến hình ảnh thơ trở nên gần gũi mang hơi thở cuộc sống con người Việt Nam.