Chương 3. NGHỆ THUẬT PHẢN ÁNH MÙA XUÂN TRONG THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT
3.3.2. Thành phần ngôn ngữ dân tộc
Trên cơ sơ vay mượn ngôn ngữ Hán, bằng tài năng, óc sáng tạo, đặc biệt là tinh thần tự tôn dân tộc, ông cha ta đã sáng tạo ra ngôn ngữ riêng của dân tộc mình. Đến với những sáng tác thơ Nôm của Nguyễn Trãi, các nhà thơ thời Hồng Đức, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương và đặc biệt là Hồ Xuân Hương người được mệnh danh là
“Bà chúa thơ Nôm” thì ngôn ngữ dân tộc ngày càng khẳng định được vẻ đẹp trong sáng, tinh tế và uyển chuyển của mình.
Thành phần ngôn ngữ dân tộc bao gồm các các lớp từ thuần Việt, các từ Việt hóa, ngôn ngữ dân gian: tục ngữ, thành ngữ, ca dao... Qua quá trình tìm hiểu những bài thơ Nôm viết về đề tài mùa xuân thì từ thuần Việt chiếm một tỉ lệ lớn và chúng tỉ lệ thuận cùng với sự phát triển của thơ Nôm.
Có thể nói Nguyễn Trãi là người đặt nền móng cho thơ, văn viết bằng ngôn ngữ dân tộc. Là một nhà thơ yêu thiên nhiên tha thiết, có cơ hội sống gần gũi với thiên nhiên và với cuộc sống của nhân dân lao động nên ngôn ngữ trong thơ ông mộc mạc, giản dị rất gần với lời ăn tiếng nói của nhân dân lao động. M. Gorki – đại thi hào Nga đã từng khẳng định:
“Văn học dân gian là ngọn nguồn đầu tiên của nghệ thuật ngôn từ”. Trong những bài thơ viết về mùa xuân của QÂTT, ta gặp không ít bài mang âm hưởng của tục ngữ, thành ngữ, ca dao:
Nẻo có ăn thì có lo,
Chẳng bằng cài cửa ngáy pho pho.
(Ngôn chí, bài 21 – QÂTT) Hay: Biên xanh nỡ phụ người đầu bạc,
Đầu bạc xưa nay có thưở xanh.
(Thơ tiếc cảnh, bài 4 – QÂTT)
Những câu thơ đó được viết dựa trên sự vận dụng sáng tạo câu tục ngữ: “Có bụng ăn, có bụng lo" và “Đầu xanh tuổi trẻ" nên có hiệu quả cao trong việc bộc lộ lối sống nhàn dật và lòng ham sống mãnh liệt của tác giả. Đó là minh chứng cho thấy Nguyễn Trãi là người có công đưa thơ ca dân gian và thơ ca bác học xích lại gần nhau.
Cũng có khi Nguyễn Trãi dùng hoàn toàn từ thuần Việt với số lượng lớn các từ đơn:
Tự bén hơi xuân tốt lại thêm Đầy buồng lạ mầu thâu đêm Tình thư một bức phong còn kín Gió nơi đâu gượng mở xem.
(Cây chuối – QÂTT)
Từ thuần Việt đã đem lại hiệu quả lớn giúp nhà thơ vẽ lên một bức tranh mùa xuân mang đậm hồn cốt của quê hương đất nước Việt Nam qua hình ảnh cây chuối. Hình ảnh cây chuối đang độ trẻ trung, nguyên trinh hiện lên đầy ấn tượng, đó không chỉ là đối tượng thẩm mĩ mà còn cho ta thấy sự phá vỡ tính ước lệ trong quan niệm sáng tác của nhà thơ.
Đến với tập thơ cung đình, các nhà thơ thời Hồng Đức vẫn tiếp tục phát huy việc đưa từ thuần Việt vào trong sáng tác thơ ca:
Một khí trời đắp đổi vần,
Ba tháng đông lại ba tháng xuân.
(Vịnh cảnh mùa xuân – HĐQÂTT)
Còn trong thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, do có điều kiện kế thừa những thành tựu của lớp nhà thơ đi trước nên ngôn ngữ dân tộc được phát triển lên một tầm cao mới.
Trong thơ của Trạng Trình ta ít gặp các từ cổ như thức, bui, mựa, khứng... hơn so với QÂTT và HĐQÂTT. Vì thế mà người đọc dễ dàng tiếp nhận được ý nghĩa của bài thơ cũng như tâm tư, tình cảm của tác giả. Với những cố gắng trong việc lựa chọn, trau chuốt ngôn từ, BVQNTT đã góp vào những bức tranh xuân những vần thơ giàu chất trữ tình, mĩ lệ:
Xuân về, hoa nở mùi hương nức, Khách đến, chim mừng dáng mặt quen.
(Thơ Nôm, bài 118 – Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Trong những sáng tác thơ Nôm Đường luật, bức tranh mùa xuân còn được các tác giả miêu tả qua việc sử dụng rất nhiều từ láy. Đó là những từ đa tiết, trong đó giữa các âm tiết có sự hòa phối ngữ âm không chỉ có tác dụng tạo nghĩa mà còn có giá trị biểu tượng cao. Mỗi từ láy bao gồm một tiếng là thành tố gốc tạo nghĩa còn một tiếng lặp lại yếu tố gốc
gọi là thành tố láy. Các thi nhân đã sử dụng một hệ thống từ láy rất phong phú trong sáng tác của mình, có lúc láy âm, có khi láy vần cũng có trường hợp láy hoàn toàn.
Trước hết, hãy đến với QÂTT của Nguyễn Trãi, hệ thống các từ láy được thi nhân sử dụng vô cùng sinh động theo ba hình thức láy trên mang giá trị biểu cảm cao:
Láy hoàn toàn: khuâng khuâng, khoan khoan, hoa hoa, nguyệt nguyệt, vân vân, đâu đâu...
Láy phụ âm đầu: tốt tươi, mơn mởn, dắng dỏi, xuân xanh, tuổi tác, vấn vít, lạnh lùng, hời hợt, dửng dưng...
Láy phần vần: Lểu thểu, lẽo đẽo, lửng thửng...
Từ láy tốt tươi, mơn mởn trong câu thơ “Một đóa đào hoa khéo tốt tươi/Cách xuân mơn mởn thấy xuân cười", Nguyễn Trãi đã diễn tả thành công vẻ đẹp tràn đầy sức sống của bức tranh mùa xuân qua sắc, hương của đóa hoa đào. Vượt qua tính ước lệ, tượng trưng của thơ ca trung đại, đóa hoa đào mơn mởn, đung đưa trong gió nhẹ đã làm nên vẻ đẹp mang đậm màu sắc của quê hương đất nước Việt Nam.
Là thế hệ đi sau nên các thi sĩ thời Hồng Đức trong HĐQÂTT đã thể hiện tài năng điêu luyện của mình trong việc sử dụng từ láy vào trong quá trình sáng tác. Có khi họ sử dụng những từ láy hoàn toàn như: làu làu, lâng lâng, hây hây, lộng lộng, ngửa ngửa, song song... có khi là láy hoàn toàn nhưng biến âm như rờ rỡ, vòi vọi, chăm chắm, đĩnh sinh...
cũng có khi là láy phụ âm đầu như: bốn bể, đắp đổi, tươi tốt, móc mưa, khắc khoải, phơi phới, chấp chới, thung thăng...
HĐQÂTT còn có hiện tượng đặc biệt đó là trong bài thơ gần như câu thơ nào cũng được tác giả sử dụng từ láy:
Lật lật bình phong mở mấy lần, Khắp hòa chốn chốn một trời xuân.
Hiu hiu gió thổi hương lồng áo, Phơi phới mưa sa ngọc đượm chân.
Liễu vẽ mày xanh oanh chấp chới,
Mai tô má phấn, bướm xun xoăn.
(Vịnh mùa xuân - HĐQÂTT)
Hàng loạt những từ láy được các thi nhân thời Hồng Đức sử dụng góp phần làm cho bức tranh mùa xuân trở nên sinh động với sự xuất hiện của những hình ảnh, âm thanh trong hương sắc ngào ngạt của hoa lá mùa xuân.
Trong những bài thơ Nôm viết về mùa xuân của Nguyễn Bỉnh Khiêm, từ láy xuất hiện không nhiều tuy nhiên đây cũng là phương tiện quan trọng để nhà thơ khẳng định quan niệm sống của mình:
Một mai, một cuốc, một cần câu, Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn người đến chốn lao xao
(Thơ Nôm, bài 73 – Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Những từ láy thơ thẩn, vắng vẻ trong sự đối lập với lao xao giúp ta hình dung rõ hơn về cuộc sống ở ẩn nhàn nhã, thanh tịnh chốn quê nhà bỏ lại đằng sau chốn lao xao nhiều bất công ngang trái. Nhà thơ tự nhận mình là dại và khen người là khôn nhưng thực chất là cách nói ngược bởi dại mà bảo toàn được khí tiết của nhà nho như tác giả lại là dại khôn, cái dại khiến người đời phải mơ ước và kính trọng. Cũng có lúc từ láy được tác giả sử dụng nhằm nhấn mạnh quy luật tất yếu của tự nhiên:
Cỏ hoa xuân đến cũng đầm hâm,
(Thơ Nôm – Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Với tài năng bậc thầy ngôn ngữ, thơ Nôm Hồ Xuân Hương đã đưa ngôn ngữ tiếng Việt phát triển lên một tầm cao mới xứng đáng với lời nhận xét của Xuân Diệu là bà chúa thơ Nôm. Cách sử dụng từ láy góp phần tạo nên một hiện tượng đặc biệt trong sáng tác thơ Nôm của Hồ Xuân Hương:
Bốn cột khen ai khéo khéo trồng, Người thì lên đánh kẻ ngồi trông.
Trai đi gối hạc khom khom cật, Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng.
Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới, Hai hàng chân ngọc duỗi song song.
(Đánh đu – Hồ Xuân Hương)
Với năm từ láy được sử dụng trong bài thơ thì có đến bốn từ láy hoàn toàn còn lại là một từ láy phụ âm đầu. Tất cả thể hiện một cách sinh động hoạt cảnh hội xuân với trò chơi đánh đu quen thuộc trong dân gian mỗi dịp tết đến xuân về.
Từ láy còn giúp tác giả Nguyễn Khuyến khi thì giãi bày nỗi đau của một nhà nho yêu nước đến cháy lòng mà đành bất lực chấp nhận mất nước:
Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ, Âý hồn Thục Đế thác bao giờ?
...
Thâu đêm ròng rã kêu ai đó.
Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ.
(Cuốc kêu cảm hứng – Nguyễn Khuyến)
Khi lại lắng lòng trong tâm trạng nôn nao trước những âm thanh quen thuộc báo hiệu thời khắc chuyển giao thiêng liêng giữa năm cũ và năm mới:
Ình ịch đêm qua trống các làng, Ai ai mà chẳng rước xuân sang.
Trước lũy nhấp nhô cò cụ tổng, Cách ao lẹt đẹt pháo thầy nhang.
(Khai bút – Nguyễn Khuyến)
Bên cạnh việc sử dụng các từ láy, ngôn ngữ dân tộc trong những tác phẩm thơ Nôm viết về mùa xuân của Nguyễn Khuyến còn được thể hiện thông qua việc vận dụng khéo léo, tài tình ý của tục ngữ làm cho những câu thơ, lời thơ của ông thêm ý vị và giàu hình ảnh:
Một năm một tuổi trời cho tớ.
Tuổi tớ trời cho, tớ lại càng.
(Khai bút – Nguyễn Khuyến)
Hai câu thơ lấy ý từ câu tục ngữ: “Càng già càng dẻo càng dai” thể hiện cái cười hóm hỉnh, tràn đầy tinh thần lạc quan của tác giả trước thềm năm mới, tuổi mới đến với con người.
Trần Tế Xương là tác giả khép lại cánh cửa của văn học trung đại, là tác giả sinh sau đẻ muộn nên có điều kiện kế thừa những tinh hoa của các thế hệ nhà thơ đi trước. Sinh ra trong bối cảnh xã hội nước mất nhà tan, tây ta lẫn lộn nên Tú Xương càng có ý thức cao độ trong việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc để khắc họa bức tranh xã hội với biết bao nhố nhăng, kệch cỡm đồng thời bộc lộ nỗi xót xa, đau đớn của mình. Thơ ông có rất nhiều bài nói đến tết – một trong những phong tục đẹp có từ ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Nhà thơ đã làm sống lại cái không khí cổ truyền của dân tộc, đó cũng là cách để ông xoa dịu nỗi đau của người dân mất nước:
Đì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột, Loẹt lòe trên vách bức tranh gà.
(Xuân – Tú Xương)
Từ láy đì đẹt, loẹt lòe được tác giả sử dụng trong câu thơ khắc họa thành công bức tranh ngày tết đậm đà màu sắc dân tộc. Nhưng cũng trong thời khắc đáng lẽ con người có được niềm vui trọn vẹn thì Tú Xương lại đau đớn trước lối sống thực dụng, vô luân của không ít các cô gái bấy giờ:
Chí cha chí chát khua giày dép, Đen thủi đen thui cũng lượt là.
(Xuân nhật ngẫu hứng – Nguyễn Khuyến)
Nhà thơ đã chỉ huy ngôn từ thật tài tình tạo nên sự sáng tạo vượt bậc trong cách sử dụng ngôn ngữ dân tộc qua việc sử dụng láy bốn “Chí cha chí chát”– một hiện tượng chưa hề có ở các nhà thơ trước đó. Từ láy đó có hiệu quả cao trong việc khắc họa một phần của bức tranh xã hội ô hợp lúc bấy giờ của nhà thơ.
Nhìn chung, trong những bài thơ Nôm viết về đề tài mùa xuân, các thi nhân không những khẳng định tài năng mà còn bộc lộ cái tâm trong ý thức sử dụng ngôn ngữ của dân tộc mình. Trong đó, những từ thuần Việt và từ láy có vai trò quan trọng khiến những bức tranh mùa xuân không chỉ mang vẻ đẹp trang nhã, sang trọng mà còn mang vẻ đẹp dân dã, bình dị, đậm đà màu sắc của đất nước, con người Việt Nam.
3.3.2.2. Ngôn ngữ đời sống
Bên cạnh việc sử dụng ngôn ngữ Hán – Việt, ngôn ngữ dân tộc thì những tác phẩm thơ Nôm viết về đề tài mùa xuân còn hay sử dụng ngôn ngữ đời sống. Ngôn ngữ đời sống là lời ăn tiếng nói hàng ngày dùng để thông tin, trao đổi ý nghĩ, tình cảm... đáp ứng những nhu cầu trong cuộc sống. Ngôn ngữ đời sống khi đi vào trong văn thơ khiến các tác phẩm đó trở nên gần gũi và mang đậm hơi thở của đời sống hiện thực. Là nhà thơ mở đầu cho phong trào sáng tác thơ ca bằng ngôn ngữ dân tộc nên Nguyễn Trãi không sử dụng nhiều ngôn ngữ đời sống. Ngôn ngữ ấy được thể hiện rõ nhất ở đại từ nhân xưng, từ để hỏi đặc biệt là các đại từ: mày, khách, ai, ta... Chẳng hạn:
Xuân đến nào hoa chẳng tốt tươi.
Ưa mày vì tiết sạch hơn người.
(Thơ mai, bài 1 - QÂTT) Chim kêu hoa nở ngày xuân tĩnh, Hương lọn cờ tan tiệc khách thôi.
(Ngôn chí, bài 1 – QÂTT) Khí dương hòa há có tư ai,
Năng một hoa này nhẫn mọi loài.
(Thơ hoa đào, bài 4 – QÂTT)
Việc sử dụng các đại từ nhân xưng tạo nên sự gần gũi, giao hòa giữa con người với thiên nhiên. Thiên nhiên trở thành người bạn nhỏ, thành tri âm tri kỉ để nhà thơ giãi bày nỗi niềm tâm sự đầy vơi. Nguyễn Trãi đã vận dụng khá linh hoạt lớp từ vựng khẩu ngữ, cũng có khi ta gặp trong thơ ông những từ ngữ mang đậm dấu ấn lời ăn tiếng nói của người dân lao động:
Lểu thểu chưa nên tiết trượng phu (Ngôn chí, bài 2 – QÂTT)
Qua đó, có thể thấy được những nỗ lực, cố gắng của Nguyễn Trãi trong việc cố gắng xây dựng ngôn ngữ dân tộc trên cở sở ngôn ngữ của nhân dân và ngôn ngữ của văn học dân gian. Hơn nữa, trong những bài thơ Nôm viết về mùa xuân của thi nhân ta còn ấn tượng với những hình ảnh thiên nhiên bắt nguồn từ cuộc sống đời thường chốn thôn quê như: cây chuối, ngõ cày đất ải, cây mía, cây dâm bụt...
HĐQÂTT tuy là tập thơ mang dấu ấn cung đình nhưng do ra đời sau nên ngôn ngữ đời sống được các thi nhân sử dụng nhiều hơn. Những đại từ nhân xưng được họ sử dụng nhiều như: tao, mi, đứa, gã, kẻ... khiến cho tập thơ bớt đi tính khuôn sáo, trang nghiêm mà gần gũi hơn với cách cảm, cách nghĩ của người dân lao động:
Ả Ngụy, nàng Diêu khoe đẹp đẽ,
Người thơ, khách rượu rộn mời khuyên.
(Lại vịnh cảnh mùa xuân, bài 6 – HĐQÂTT)
Hoa mẫu đơn được các thi nhân thời Hồng Đức nhân cách hóa là ả, nàng khiến bức tranh mùa xuân trở nên có hồn hơn, sinh động và rực rỡ hơn. Mặt khác còn cho ta thấy sự gần gũi, không có khoảng cách giữa con người với thiên nhiên, người thơ và khách rượu say sưa ngắm cảnh trong men rượu nồng nàn thật giản dị và dân dã biết bao.
Đến với thơ của Hồ Xuân Hương là người đọc được tiếp xúc với ngôn ngữ thuần túy của dân tộc, không điển tích cao xa, không chữ sách thông thái. Thơ Hồ Xuân Hương là một lối thơ tự nhiên, thật gần gũi với đời sống thường nhật, với lời ăn tiếng nói của nhân dân lao động. Lời thơ tuy không cầu kì, gọt giũa nhưng nó vẫn có sức ngân vang và mang vẻ đẹp thẩm mĩ riêng. Bà được giới nghiên cứu đánh giá là nghệ sĩ ngôn từ, biểu diễn từ
ngữ trên những dòng thơ như những nghệ sĩ xiếc trên dây. Ngôn ngữ đời sống trong thơ của bà được thể hiện ở các lớp từ: từ cảm thán, từ mỉa mai, từ tục, từ chửi, từ nói lái… Dưới sự điều khiển của người nghệ sĩ ngôn từ ấy, ngôn ngữ đời sống đã biến hóa khôn lường trong những sáng tác của bà, đặc biệt là những bài thơ viết về mùa xuân. Có khi là nỗi niềm chán ngán, uất hận bởi sự héo úa, hao khuyết của mùa xuân cuộc đời trước vẻ đẹp viên mãn của mùa xuân đất trời:
Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại, Mảnh tình san sẻ tí con con.
(Tự tình II – Hồ Xuân Hương)
Những hình ảnh hết sức bình dân, quen thuộc trong đời sống hàng ngày dưới ngòi bút tài hoa của bà bỗng trở thành những thi liệu đắc lực để bộc lộ nỗi niềm của mình và cũng là tiếng lòng của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Những lời nói dân dã làm tăng giá trị thơ của Hồ Xuân Hương, là yếu tố góp phần tạo nên sự thành công trong việc khắc họa nên những bức tranh xuân náo nức, rộn ràng không khí hội xuân như bài Đánh đu.
Được mệnh danh là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam nên trong thơ của Nguyễn Khuyến ta bắt gặp thiên nhiên, đất nước, con người mang đậm hồn cốt Việt Nam. Thành công ấy được tạo nên một phần bởi tài năng sử dụng ngôn ngữ đời sống linh hoạt và uyển chuyển của cụ Tam Nguyên Yên Đổ. Ngôn ngữ ấy đươc thể hiện rõ nhất qua những hình ảnh chân thực, thân thuộc với làng quê Việt Nam như phiên chợ Đồng ngày giáp tết trên quê hương tác giả, là cảnh người dân trong làng ríu rít chung thịt đón tết, là tiếng trống, tiếng pháo báo hiệu thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới… Nguyễn Khuyến đã làm sống lại biết bao thuần phong mĩ tục của quê hương đất nước mình khiến người đọc nao lòng xúc động.
Trong thơ Trần Tế Xương, ngôn ngữ đời sống là yếu tố quan trọng có giúp ông phản ánh một cách chân thực bức tranh xã hội nhố nhăng lúc bấy giờ. Lớp từ khẩu ngữ được nhà thơ đất thành Nam sử dụng thường xuyên, phổ biến trong sáng tác của mình. Ngôn ngữ đời sống ấy được hiện hình qua tiếng chửi bọn giàu sang hãnh tiến như trong bài “Năm mới chúc nhau”. Trong thơ Trần Tế Xương ta bắt gặp rất nhiều những hình ảnh quen thuộc đã ăn sâu vào máu thịt của người dân Việt Nam. Nói đến Tết thì có rượu cúc, trà sen, bánh