Chương 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH PHÚ THỌ
2.1. Thi trường du lịch văn hóa
2.1.1. Mục đích tham quan và tìm hiểu của du khách
Mục đích tham quan của khách đi du lịch đến Phú Thọ vô cùng phong phú từ tham quan đơn thuần cho đến tìm hiểu văn hóa, tâm linh, nghỉ dưỡng, giải trí thư giãn, kết hợp ... hầu như các mục đích trên của du khách đều nằm trong đối tượng của du lịch văn hóa.
Thị trường khách du lịch quốc tế chiếm tỉ trọng nhỏ, chiếm chưa đầy 1%
tổng lượng khách đến Phú Thọ. Sở thích của khách du lịch quốc tế là khám phá, tìm hiểu bản sác văn hóa địa phương và một số là khách thương mại công vụ tại các khu công nghiệp với đặc điểm chính là có khả năng chi trả cao và đòi hỏi chất lượng dịch vụ, môi trường tốt. Khách du lịch quốc tế đến với Phú Thọ chủ yếu vào thời gian tổ chức các sự kiện văn hóa, thời gian tổ chức các lễ hội chính như: lễ hội Giỗ Tổ Đền Hùng, hội Bơi Chải Bạch Hạc…
Thị trường khách nội địa chiếm tỉ trọng lớn, chiếm hơn 99% thị phần, chủ yếu là đến từ khắp mọi nơi trên cả nước đặc biệt là các tỉnh Đồng bằng sông Hồng và các tỉnh phía Bắc. Khách nội địa đến Phú Thọ trong thời gian gần đây chủ yếu với mục đích lễ hội, tín ngưỡng, hành hương về cội nguồn, tham quan di tích lịch sử, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng chữa bệnh…Khách nội địa, đặc biệt là khách có lưu trú ngày càng có khả năng chi trả cao và đòi hỏi dịch vụ, chất lượng tốt
Một số mục đích cơ bản của khách.
Mục đích du lịch tâm linh: Trong mấy năm gần đây khách du lịch lễ hội – tín ngưỡng phát triển nhanh. Đối tượng chính của loại hình du lịch này là những người lớn tuổi những người buôn bán, kinh doanh đến từ khắp nơi trên cả nước. Các địa bàn chủ yếu thu hút khách du lịch loại này tập trung ở khu vực Đền Hùng, Việt Trì, Đền Mẫu Âu Cơ ... Tuy nhiên loại khách này ít sử dụng lưu trú.
- Mục đích du lịch thương mại, công vụ: Chủ yếu đến từ Hà Nội và các thành phố lớn khác. Các khách du lịch của loại hình du lịch này thường là các cán bộ công nhân viên trong các cơ quan Nhà nước , các doanh nghiệp ... thường kết hợp giữa
44
công tác và du lịch. Khả năng chi tiêu của các đối tượng này khá cao, nên họ thường sử dụng các dịch vụ cao cấp. Tuy nhiên số lượng khách đến Phú Thọ với mục đích kết hợp thương mại, công vụ không nhiều.
- Mục đích du lịch tham quan thắng cảnh, di tích: Đối tượng khách du lịch thuộc nhiều lứa tuổi, các khu vực đón nhiều khách du lịch nội địa là Thành phố Việt Trì, Xuân Sơn.
Mục đích của du khách đến với Phú Thọ ngày càng đa dạng và phong phú.
Nếu như trước đây du khách đến Phú Thọ chỉ với mục đích tâm linh, tìm về nguồn cội, trẩy hội Đền Hùng thì ngày nay đã xuất hiện nhiều mục đích mới. Du khách đến với Phú Thọ đều mong muốn hướng về cội nguồn, tìm về với cái nôi của văn hóa dân tộc Việt, trải nghiệm các lễ hội độc đáo, nghe một điệu hát Xoan mê đắm lòng người, hay nghỉ dưỡng ở những nơi có không khí trong lành.
Đặc biệt trong thời gian tới, khi việc đầu tư mới, nâng cấp các khu du lịch nghỉ dưỡng như Thanh Thủy, Vườn Quốc gia Xuân Sơn hay đầm Ao Châu, Vân Hội sẽ góp phần dịch chuyển cơ cấu mục đích khách du lịch đến Phú Thọ.
2.1.2. Phân kỳ du khách đến
Tính mùa vụ trong hoạt động du lịch là một đặc trưng của du lịch văn hóa Phú Thọ và điều này biểu hiện rõ nét nhất qua lượng khách đến Phú Thọ vào các tháng trong năm. Nếu sự dao động về lượng khách trong mùa cao điểm và mùa ít khách càng lớn thì tính mùa vụ du lịch tại điểm du lịch đó càng sâu sắc. Kết quả điều tra tại Phú Thọ qua các mùa lễ hội trong các năm qua cho thấy tính mùa vụ trong hoạt động du lịch thể hiện rất rõ với sự chênh lệch về lượng khách giữa mùa du lịch chính và mùa ít khách.
Như vậy mùa du lịch chính tại Phú Thọ chủ yếu diễn ra trong các tháng II, III, IV, V. Các tháng này chiếm tới 97,18% lượng khách du lịch trong năm, riêng tháng III, tháng diễn ra các lễ hội chính trong đó quan trọng nhất là vào mùa lễ hội Đền Hùng, lượng khách tập trung tới 94,3% tổng số khách trong năm.
Mùa vắng khách của Phú Thọ bắt đầu từ tháng VI đến tháng I. Tám tháng này lượng khách du lịch chỉ chiếm có 2,82% tổng lượng khách cả năm mặc dù gấp đôi màu du lịch chính về thời gian. Có thể nói, sự chênh lệch về cường độ tập trung khách giữa hai mùa đã kéo theo những ảnh hưởng to lớn và phức tạp tới hoạt động
45
kinh doanh du lịch. Diễn biến khách du lịch theo mùa kéo theo diễn biến doanh thu theo mùa, diễn biến sử dụng cơ sở lưu trú theo mùa và diễn biến lao động theo mùa.
Công suất sử dụng phòng trung bình của các khách sạn ở đây hiện nay vào khoảng 30% đến 40%. Tuy nhiên vào thời gian cao điểm đa số các khách sạn ở đây đều đầy ắp khách, công suất sử dụng phòng đạt 95-99%. Tuy nhiên, vào các tháng ít khách công suất sử dụng phòng rất thấp, chỉ khoảng 4% đến dưới 10%, có cơ sở lưu trú nhiều ngày liền không đón vị khách nào.
2.1.3. Nhu cầu lưu trú của du khách
Có thể nói lượng khách du lịch lưu trú lại Phú Thọ so với tổng số khách du lịch là rất thấp so với các địa phương khác. Năm 2011, tổng lượng khách đến Phú Thọ là 6,1 triệu lượt khách, chỉ có gần 430 ngàn lượt khách lưu trú chỉ đạt 7%, tương tự, năm 2012 đạt 10% khách lưu trú và năm 2013 đạt gần 11% khách lưu trú.
Nhu cầu lưu trú có quan hệ chặt chẽ với số lượng khách, ngày lưu trú bình quân, công xuất sử dụng buồng phòng trung bình và hệ số sử dụng chung phòng và được tính theo công thức sau:
(Số lượt khách lưu trú) × (Số ngày lưu trú trung bình) Nhu cầu số buồng =
(365 ngày × (Công suất sử dụng × (Số khách trung bình/buồng . Trong năm) phòng trung bình năm)
Trong đó theo dự báo ở trên
- Số ngày lưu trú trung bình từ 1,5; 2 và 2;5 ngày đối với khách quốc tế và từ 1,3;
1,5 và 2,0 ngày đối với khách nội địa theo các giai đoạn.
- Công suất sử dụng buồng trung bình hàng năm sẽ đạt khoảng 55;60 và 65%
- Theo xu hướng chung các khách sạn thường được xây dựng và bố trí mỗi buồng 2 giường đơn hoặc một giường đôi tương ứng 2 người.
Căn cứ vào các chỉ tiêu trên, nhu cầu về khách sạn Phú Thọ từ nay đến năm 2030 có thể tính toán cụ thể được (Phụ lục bảng biểu)
46
2.1.4. Lượng khách du lịch – khách du lịch văn hóa
Năm 2006, Phú Thọ có 3 triệu lượt khách tới tham quan, trong đó có 262 ngàn khách lưu trú, lượng khách quốc tế đạt 2,3 ngàn lượt, đạt tổng doanh thu 403 tỷ đồng.
Năm 2010, toàn ngành đón được 5, 89 triệu lượt khách tham quan, tăng 30% so với năm 2009. Tại các cơ sở lưu trú đón và phục vụ khoảng 395.000 lượt khách tăng 13% so với 2009; với 420.000 ngày khách tăng 9% so với năm 2009. Doanh thu 600 tỷ đồng tăng 13% so với 2009.
Năm 2011, Phú Thọ đã đón khoảng 6 triệu lượt khách tham quan, nhưng cũng chỉ có 460 ngàn lượt khách lưu trú, khách quốc tế đạt 4,2 ngàn lượt, đạt tổng doanh thu khoảng 685 tỷ đồng. Năm 2012, số lượng khách du lịch đạt 6,1 triệu lượt khách, trong đó có 460 ngàn lượt khách quốc tế; năm 2013 đạt khoảng 6,2 triệu lượt và 6 tháng đầu năm 2014, lượng du khách đến tham quan ước thực hiện khoảng 6,2 triệu lượt. Doanh thu du lịch, dịch vụ tăng trưởng cao qua các năm: Năm 2012 là 1.414 tỷ đồng, năm 2013 đạt khoảng 1.420 tỷ đồng; doanh thu 6 tháng đầu năm 2014 ước đạt 800 tỷ đồng và mục tiêu đề ra trong năm 2014, doanh thu của ngành du lịch Phú Thọ đạt 1.450 tỷ đồng
Khách quốc tế lưu trú tăng nhẹ bình quân 11%/năm, chủ yếu là khách du lịch công vụ, một phần nhỏ là khách tham quan, nghỉ dưỡng. Thời gian lưu trú trung bình 1,3 ngày.
Khách du lịch nội địa tăng nhanh tăng bình quân 18,9%/năm, đặc biệt sau khi giỗ Tổ Hùng Vương được công nhận là Quốc giỗ, hát Xoan, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể. Thời gian lưu trú 1,15 ngày.
Nhìn chung lượng khách du lịch đến thành phố Việt Trì nói riêng và tỉnh Phú Thọ nói chung so với các tỉnh trong khu vực trung du miền núi Bắc Bộ và cả nước nếu tính cả khách thăm quan trong ngày đạt ở mức tương đối cao, nhưng khách du lịch quốc tế và khách có sử dụng dịch vụ lưu trú thấp hơn so với các tỉnh lân cận như Lào Cai, Yên Bái, Lạng Sơn… chỉ đứng thứ 8/14 tỉnh trong vùng và thứ 36/63 tỉnh, thành cả nước.
47
2.1.5. Đặc điểm và xu hướng của du khách
Đặc điểm của nguồn khách du lịch đến Phú Thọ: chủ yếu là khách nội địa, tập trung phần lớn vào 1 thời điểm cụ thể nên có sự quá tải cục bộ, chủ yếu là khách tâm linh - hành hương về đất Tổ nên nhu cầu hưởng thụ các dịch vụ bổ sung cho chuyến đi không được cọi trọng, việc đến và đi của du khách trong thời gian ngắn do vậy, các đơn vị kinh doanh du lịch không có nhiều cơ hội đáp ứng các yêu cầu của khách
Khách nội địa: chiếm tới 99% tổng lượng khách, đến từ khắp các tỉnh thành trên cả nước, tuy nhiên chủ yếu từ vùng đồng bằng sông Hồng và khu vực phía Bắc.
Mục đích du lịch hướng tới du lịch hành hương, tham quan lễ hội, du lịch tín ngưỡng và du lịch sinh thái. Tuy nhiên, khách lưu trú tăng không nhiều, thời gian ngắn, chi tiêu chưa cao do hệ thống dịch vụ đi kèm chưa đáp ứng nhu cầu khách.
Khách quốc tế: chỉ chiếm khoảng 1% tổng lượng khách, lượng khách vẫn còn rất hạn chế do hạ tầng đi lại còn khó khăn, chưa có sản phẩm phù hợp và hấp dẫn.
Nguồn gốc khách quốc tế chủ yếu là du khách Trung Quốc theo tuyến đường sắt từ Vân Nam tham gia hành trình du lịch Trung Quốc - Lào Cai - Hà Nội, phần còn lại là du khách đến từ Pháp, Mỹ, Anh, Đức, Canada... mục đích du lịch tham quan lễ hội, ẩm thực, công vụ.