CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
4.1. BƯỚC ĐẦU KHẢO SÁT VÙNG TRỒNG DIẾP CÁ TẠI CÁC TỈNH BÌNH DƯƠNG, LONG AN, TP HỒ CHÍ MINH
4.1.1. Đặc điểm hình thái
Cây thân thảo, cao khoảng 40 cm, tiết diện thân đa giác, màu xanh pha tía, ở gần các mẫu có màu đỏ tía, toàn cây có mùi tanh.
Cụm hoa dạng bông, trục phát hoa có tiết diện tam giác, dài 4,5 cm, màu xanh. Cụm hoa dài khoảng 1cm, tổng bao lá bắc gồm 4 lá bắc hình bầu dục màu trắng, kích thước 0,8-1 x 0,4 – 0,6 cm; xen kẽ 4 lá bắc lớn có 4 lá bắc nhỏ hơn phía trong, kích thước không đều 2-5 x 0,75- 1 mm.
Hoa trần, lưỡng tính, lá bắc dạng vảy nhỏ cao 1 mm, màu trắng.
Quả nang mở ở đỉnh, hạt hình trái xoan, nhẵn. Mùa quả: tháng 7 – 10.
Hình 4.1 Quả diếp cá
Lá đơn, mọc cách. Phiến lá nguyên hình tim, kích thước 4-6,5 x 3-5 cm, màu xanh lục đậm ở mặt trên, nhạt ở mặt dưới. Gân lá hình chân vịt với 5-7 gân chính nổi rõ ở mặt dưới. Cuống lá hình lòng máng, dài 3-3,5 cm, màu xanh, 2 mép cuống lá có màu đỏ tía.
Lá kèm dạng màng dài khoảng 1,3cm, dính vào cuống lá một đoạn 1cm, màu xanh, 2 mép bên và phần giữa màu trắng, có những sọc dọc màu đỏ tía.
Kết quả đo các chỉ tiêu về chiều dài thân và diện tích lá thực tế Bảng 4.1: Chiều dài thân và diện tích lá diếp cá tại các vùng khảo sát
Tỉnh, TP Chiều dài thân (cm) Diện tích lá (mm2)
Bình Dương 39,89 38,406
Long An 23,93 32,035
TP HCM 34,39 34,145
Qua bảng số liệu cho thấy nguyên liệu vùng Bình Dương có độ dài thân và diện tích lá lớn hơn các vùng khác (độ dài thân 39,89cm, diện tích lá 38,406 mm2). Tiếp theo là vùng TP Hồ Chí Minh (34,39cm và 34,145mm2). Cuối cùng là vùng Long An (23,93cm và 32,035mm2).
Kết hợp với số liệu năng suất trung bình hàng năm tại các vùg khảo sát:
Bảng 4.2. Năng suất diếp cá các vùng khảo sát
Vùng khảo sát Năng suất (tấn/ha)
Bình Dương 150,45
Long An 100,27
TP HCM 120,36
Biểu đồ 4.1. Năng suất diếp cá các vùng khảo sát
Diện tích lá: Tại mỗi điểm lấy mẫu chọn 5 cây diếp cá, mỗi cây chọn 3 lá trưởng thành có màu sắc kích thước điển hình. Trên mỗi lá chọn 6 điểm có diện tích cố định chọn sẵn (0,25mm2). Cân nhanh trọng lượng lá và mẫu rời suy ra diện tích lá.
Biểu đồ 4.2. Diện tích lá diếp cá tại các vùng khảo sát
0 5 10 15 20 25 30 35 40
Chiều dài thân (cm)
Bình Dương Long A n TP HCM V ùng k hảo s át
Chiều dài thân DC 0
20 40 60 80 100 120 140 160
Năng suất (tấn/ha)
Bình Dương Long An TP HCM
Vùng khảo sát Năng suất diếp cá
Biểu đồ 4.3. Chiều dài thân diếp cá tại các vùng khảo sát
Qua kết quả cho thấy diếp cá được trồng ở các vùng khảo sát có đặc điểm hình thái giống nhau. Các đặc điểm này thường ổn định ít bị thay đổi trừ khi chịu tác động quá mạnh từ bên ngoài.
Đặc điểm hình thái của diếp cá được quan sát đo đếm trực tiếp ngoài đồng. Kết quả được trình bày ở bảng 4.1
Tuy nhiên, tùy vào điều kiện đất đai, thổ nhưỡng và tập quán canh tác thu hoạch của từng vùng mà thu chất lượng nguyên liệu khác nhau. Nguyên liệu tốt, xanh, lá to, thân dài nhất là ở vùng Bình Dương. Do đất ở vùng này là đất thịt pha cát giữ nước, giữ phân tốt. Có hệ thống kênh rạch chằng chịt giúp ổn định nguồn nước tưới và điều hòa khí hậu xung quanh vùng nguyên liệu.
Vùng TP Hồ Chí Minh chủ yếu là đất cát pha thịt nhẹ, giữ nước kém, cây thiếu nước kém phát triển, còi cọc, thân ngắn, lá bị ngã vàng, kém xanh tốt, vùng Long An chủ yếu là đất thịt pha sét, lượng mưa hằng năm cao, đất dễ bị ngập úng. Do đó, nông dân 2 vùng này cần cải tạo đất trồng và ưu tiên chọn nơi có nguồn nước tưới vào mùa khô và tiêu nước trong mùa mưa để thu kết quả tốt nâng cao năng suất cây trồng.
Kết hợp với năng suất từng vùng khảo sát ta thấy vùng Bình Dương là vùng có diện tích lớn, và diếp cá ở đây có độ dài thân, kích thước lá lớn hơn các vùng khác, vùng TP HCM có diện tích nhỏ hơn vùng Long An, nhưng lại có độ dài thân và diện tích lá lớn hơn.
Nhận xét: Như vậy, muốn có năng suất cây trồng cao cần nắm rõ các kỹ thuật canh tác, chăm sóc...,các điều kiện thổ nhưỡng tại từng địa phương cụ thể.
30 31 32 33 34 35 36
Diện tích lá (mm2)
Bình Dương Long An TP HCM Vùng khảo sát Diện tích lá DC
Kỹ thuật canh tác
Chọn đất: Đất được chọn là một vùng đất thấp, luôn có độ ẩm tốt, nước không chua, không mặn
Cây diếp cá là loại cây thân thảo ưa vùng đất ẩm ướt, thường bắt gặp mọc hoang ở ven bờ sông suối. Diếp cá không thích hợp ở vùng đất khô, đất cát, nhưng cũng không thích hợp vùng ngập úng quá sâu. Diếp cá rất dễ trồng, nếu so với trồng lúa thì trồng diếp cá nhàn hơn nhiều, đầu tư giống vốn thấp. Cây diếp cá ít bị sâu bệnh, nên ít sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, hiệu quả kinh tế cao gấp 4 - 5 lần. Trồng diếp cá lứa đầu 45 ngày, sau đó mỗi ngày cắt bán 1 lần.
Cách trồng rất đơn giản, trồng bằng cây con hay các hom giống già. Tách gốc giống từ những ruộng đã thu hoạch được 1 năm trở nên là tốt nhất.
Làm đất
Diếp cá rất ưa nước, thích hợp với đất sình ở ruộng chân trũng (ruộng luôn luôn xâm xấp nước). Cày bừa kỹ, bón lót 10-15 tấn phân chuồng, 300kg super lân, 500kg vôi bột cho mỗi ha, rồi san cho phẳng, làm luống thấp, rộng 2-3m, giữa các luống có các mương nước rộng chiều rộng 0,5m; sâu 0,5m.
Trồng cây diếp cá
Thời vụ trồng: diếp cá có thể trồng quanh năm, nhưng thời vụ tốt cho sự sinh trưởng và phát triển của cây là vào mùa mưa, đất luôn giữ nước và đủ độ ẩm cần thiết cho cây
Cây giống: Có thể trồng bằng cây con tách từ cây diếp cá trưởng thành trên đồng ruộng hoặc tận dụng các hom giống già. Các hom này là các đọan thân dài 25cm, còn một, hai lá hoặc không có lá, có rễ hoặc không có rễ.
Trồng từ các cây con có ưu điểm là cây phát triển nhanh, đạt được sự phát triển đồng đều cao.
Tiêu chuẩn cây con dùng làm giống: cây khoẻ, phát triển mạnh, có 5-7 lá, chiều cao cây khoảng 10-12cm. Không chọn cây quá cao, cây dễ bị héo hoặc ngã do hệ rễ còn yếu rễ chưa bám chắc vào đất.
Tách cây con 15 ngày tuổi, cấy như cấy lúa, mỗi gốc 2 – 3 nhánh, khoảng cách cây 15cm. Khoảng 500 cây diếp cá trên 1m2. Không nên trồng quá dày hay quá thưa, nếu trồng quá dày cây không có đủ không gian phát triển, cây yếu, mầm bệnh dễ ẩn
nấp, làm cây còi cọc, nếu trồng quá thưa cỏ dại dễ phát triển, cạnh tranh dinh dưỡng với cây, cây khó chống chọi với thời tiết.
Chăm sóc
Nước giữ vừa ướt mặt luống sau khi trồng và tiến hành làm cỏ thường xuyên, nhất là khi cây chưa phủ kín măt ruộng, tạo điều kiện tốt nhất cho cây phát triển.
Bón phân: diếp cá được biết đến là loại rau thơm ăn lá ở dạng tươi. Để đảm bảo an toàn và tạo niềm tin cho người tiêu dùng, hiện nay các hộ nông dân sử dụng phân bón có nguồn gốc sinh học bón cho rau mang lại hiệu quả mà không gây ô nhiễm môi trường như: Silicas complex, wincrop... Tuy nhiên, các loại phân bón sinh học có giá thành cao, nên việc sử dụng còn nhiều hạn chế.
Ngoài ra, diếp cá trồng sau 10 ngày, có thể bón bằng phân hữu cơ: 20kg urê, 20kg NPK (20 – 20 -15) 2tuần/1lần. Nên bón lúc 5 – 6 giờ chiều, khi bón xong cần xịt nước để rửa trôi để phân không dính lá. Sau 10 ngày, khi cây nảy nhánh con, bón đợt 2 (như đợt 1), một lứa rau bón 2 lần.
Hình 4.2. Diếp cá ở các giai đoạn phát triển
Phòng trừ sâu bệnh: sâu bệnh trên diếp cá tương đối ít không giống như các loại rau khác, các hộ nông dân khi phát hiện sâu trên ruộng mới tiến hành phun, trên rau ăn lá sâu bệnh thường là các loại rệp mềm ta sử dụng Bringhtin (pha 1cc với 1lít nước) phun trên lá. Ngoài ra có thể phun Cyper để phòng trị sâu ăn lá.
Tưới tiêu: diếp cá là cây ưa vùng đất ẩm sấp sấp nước nhưng không quá ngập úng nên cần có hệ thống kênh mương cấp và thoát nước nhanh chóng, tránh khô hạn và ngập úng cho cây.
Thu hoạch
Từ khi trồng tới thu hoạch lứa đầu khoảng 45 ngày, dùng liềm sắc cắt sát gốc, hoặc cách gốc một đoạn 4-5cm, lấy dây nilon buộc lại cân cho thương lái. Nếu trồng diện tích nhiều thì ngày nào cũng có rau cắt bán (cắt xoay vòng). Hiện nay, giá bán dao động từ 6.000 –15.000đ/kg (tùy từng vùng và tùy vào từng mùa). Sau khi thu hoạch,
làm sạch cỏ và bón phân như đợt 1. Rau đợt 2 được thu hoạch nhanh hơn rau đợt 1, khoảng 30 ngày.
Thường thu hoạch vào buổi sáng sớm hay vào chiều mát đảm bảo độ tươi. Nếu thu hoạch với số lượng nhiều có thể thu hoạch từ chiều hôm trước và giữ ở nơi thoáng mát, di chuyển nhẹ nhàng tránh làm nguyên liệu bị úng, dập nát ảnh hưởng đến độ cảm quan của rau.