Kết Quả Hoạt Động Tín Dụng.

Một phần của tài liệu KẾ TOÁN THANH TOÁN BÙ TRỪ VỚI CÁC NGÂN HÀNG KHÁC HỆ THỐNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG – CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG (Trang 27 - 29)

Trong công tác tín dụng NHTMCPCT chi nhánh Đà Nẵng đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm hạn chế rủi ro trong cho vay như chấm điểm, đánh giá và xếp hạng khách hàng định kỳ, kiểm soát tốt rủi ro và nắm bắt thông tin thị trường. Vì vậy chất lượng tín dụng được đảm bảo hơn. Hoạt động cho vay của Ngân Hàng chủ yếu tập trung ở cho vay ngắn hạn, tuy nhiên trong năm 2009 hoạt động cho vay của Ngân Hàng có phần giảm hơn so với năm 2008.

Bảng 3: Doanh số cho vay từ năm 2007 – 2009

Chỉ tiêu

Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009

Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng Tổng doanh số cho vay 1.780.428 100% 1.644.588 100% 1.457.000 100%

- Ngắn hạn 1.680.553 94,39% 1.541.034 93,70% 747.000 52%

- Trung dài hạn 99.875 5,61% 103.554 6,30% 710.000 48%

(Nguồn từ phòng tổng hợp Ngân Hàng Công thương Đà Nẵng)

Doanh số cho vay ngắn hạn ở các năm tại Ngân Hàng đều chiếm tỷ trọng cao hơn so với cho vay trung, dài hạn. Về tuyệt đối thì doanh số cho vay ngắn hạn trong năm 2008 là cao nhất nhưng về tương đối thì doanh số cho vay giảm dần từ năm 2007 đến năm 2009. Nguyên nhân chính là do doanh số cho vay trung dài hạn tăng dần qua các năm. Doanh số thu nợ cũng sẽ giảm đi, do các khoản vay trung dài hạn thì có thời hạn thu hồi chậm hơn so với khoản nợ ngắn hạn. Sau đây là tình hình thu nợ từ năm 2007 đến năm 2009:

Bảng 4: Doanh số thu nợ từ năm 2007 – 2009

ĐVT: Triệu đồng Chỉ tiêu

Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009

Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ

trọng Giá trị Tỷ trọng Tổng doanh số thu nợ 1.522.572 100% 1.716.895 100% 1.574.257 100% Ngắn hạn 1.489.479 97,83% 1.706.899 99,42% 1.545.803 98,19%

Trung dài hạn 33.093 2,17% 9.996 0,58% 28.454 1,81%

(Nguồn từ phòng tổng hợp Ngân Hàng Công thương Đà Nẵng)

Tình hình thu nợ của Ngân Hàng cũng tập trung chủ yếu ở nợ ngắn hạn, đây là nguồn thu chủ yếu của Ngân Hàng. về tuyệt đối doanh số cho vay ngắn hạn của năm 2009 giảm so với năm 2008 nên doanh số thu nợ cũng giảm theo nhưng cả hai năm doanh số cho vay và doanh số thu nợ đều tăng so với năm 2007 . Về tương đối doanh số cho vay ngắn hạn năm 2007 cao nhất là vì ở năm này hoạt động cho vay trung dài hạn chiếm tỷ trọng nhỏ nhất. Đó cũng là lý do mà doanh số thu nợ năm 2007 chiếm tỷ trọng tương đối cao.

Tuy hoạt động cho vay và thu nợ đạt được kết quả tốt nhưng dư nợ xấu vẫn ngày càng tăng

Bảng 5: Bảng dư nợ tại Ngân Hàng Công Thương Đà Nẵng năm 2007 – 2009 ĐVT: Triệu đồng

Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009

Dư nợ cuối kỳ 917.520 981.053 1.051.384

Dư nợ bình quân 944.806 949.286 1.016.199

Dư nợ nhóm hai 5.537 559 1.566

Dư nợ xấu 1.367 2.339 3.587

(Nguồn từ phòng tổng hợp Ngân Hàng Công thương Đà Nẵng)

Dư nợ cuối kỳ và bình quân của Ngân Hàng có xu hướng tăng nguyên nhân chủ yếu là do năm 2008 tình hình lạm phát xảy ra làm cho các doanh nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh, làm ăn thua lỗ dẫn đến tình trạng trả gốc và lãi không đúng kỳ... Bên cạnh đó việc xử lý, đôn đốc thu nợ của Ngân Hàng vẫn còn một số vấn đề; việc phân tích cho vay, sàng lọc khách hàng trong quá trình phân tích tín dụng vẫn chưa phát hiện được một số khách hàng không đủ điều kiện vay vốn.

Một phần của tài liệu KẾ TOÁN THANH TOÁN BÙ TRỪ VỚI CÁC NGÂN HÀNG KHÁC HỆ THỐNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG – CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG (Trang 27 - 29)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(82 trang)
w