á ộ kè h
tác động kèm theo
• 3.3.1. Quản lý thoát nước đô thị
ể ế
Sự kiểm soát dòng chảy đô thị hiện nay đã được thiết lập trên cơ sở không chính xác, gây thiệt hại nghiêm trọng đến người dân. Những tác động tiêu cực gây ra chủ yếu bởi hai nguyên nhân:
nhân:
– N guyên tắc thiết kế hệ thống thoát nước:
• hệ thống thoát nước đô thị đã được phát triển trên cơ sở các nguyên tắc sai lầm là hệ thống thoát nước tốt nhất là hệ thống mang nước dư thừa rời khỏi vị trí ban đầu của nó càng nhanh càng tốt
thừa rời khỏi vị trí ban đầu của nó càng nhanh càng tốt.
– Đánh giá và kiểm soát trong các đoạn:
• thiết kế thoát nước tầm vi mô làm tăng lưu lượng và chuyển tất cả lượng nước xuống hạ lưu. Trong thoát nước ở tầm vĩ mô, thoát nước đô thị có xu hướng bị kiểm soát bởi sự kênh mương hóa ở các khu vực đô thị có xu hướng bị kiểm soát bởi sự kênh mương hóa ở các khu vực trọng điểm. Loại giải pháp này dựa trên quan điểm cụ thể của một khu vực của lưu vực, mà không tính đến những hệ quả cho các khu vực khác hoặc các khía cạnh khác trong việc định cư ở đô thị. Kênh mương hóa ở các khu vực trọng điểm chỉ chuyển lũ lụt từ nơi này đến nơi khác
t l
trong lưu vực.
• Kết hợp hai loại lỗi này trong quản lý vi mô đã tác động đế th át ớ tầ ĩ ô ủ á thà h hố ả
đến thoát nước tầm vĩ mô của các thành phố, xảy ra theo trình tự sau:
– Giai đoạn 1: lưu vực bắt đầu được đô thị hoá một cách rộng rãi, với mật
ấ ắ
độ cao hơn ở hạ lưu, lũ lụt xuất hiện trong lòng tự nhiên tại các nút thắt cổ chai tự nhiên dọc theo dòng chảy (Hình 3.13);
– Giai đoạn 2: các biểu hiện kênh mương hóa đầu tiên được thấy ở hạ lưu dựa trên mức độ đô thị hóa hiện tại điều này làm tăng quá trình lưu, dựa trên mức độ đô thị hóa hiện tại, điều này làm tăng quá trình dòng chảy ở hạ lưu, nhưng nó vẫn còn được chứa bởi khu vực lũ thượng nguồn và bởi vì không phải toàn bộ lưu vực được xây dựng.
(Hình 3.13).
– Giai đoạn 3: khi mật độ gia tăng, áp lực từ công chúng khuyến khích các nhà quản lý tiếp tục kênh mương hóa trên thượng lưu. Khi quá trình hoàn thành, và thậm chí trước đó, lũ lụt trở lại hạ lưu, do sự gia tăng của đỉnh lũ khi không có sự mở rộng nào là khả thi Thượng lưu có của đỉnh lũ, khi không có sự mở rộng nào là khả thi. Thượng lưu có chức năng như lưu vực giảm lũ. Ở giai đoạn này, sự kênh mương hóa chỉ đơn giản là chuyển lũ lụt về hạ lưu (hình 3.13). Không có nhiều không gian để mở rộng các kênh mương hạ lưu, và các giải pháp dựa g g g g g trên việc đào các con kênh sâu hơn, với chi phí rất cao (lên tới 50 triệu đô la Mỹ / km, tùy thuộc vào đất nền, chiều rộng, lớp lát mặt, vv).
• Quá trình này là trái với lợi ích công cộng và đại diệ h ột ất át diện cho một mất mát
cực kỳ lớn cho toàn bộ xã hội theo thời gian. Xã hội thiệt hại gấp đôi và trả
thiệt hại gấp đôi và trả khoảng 1000% hoặc
nhiều hơn cho việc kênh mương hóa, trong mối g , g quan hệ với một giải pháp giảm nhẹ
(mitigation), và lũ lụt vẫn ò t ở ê tồi tệ h h còn trở nên tồi tệ hơn cho dân cư hạ lưu.
• 3.3.2. Thiếu quản lý khu vực ven sông trong việc kết hợp với hệ thống thoát nước đô thị ợp ệ g ị
– Như chúng ta đã chỉ ra trong chương trước, phát triển đô thị có xu hướng khuyến khích định cư tại các khu vực ven sông.
– Các nhà quản lý có xu hướng tăng cường khả năng tiêu thoát của sông,
ồ ằ
cho phép người dân định cư tại vùng đồng bằng chịu lũ trên dòng nước (giai đoạn 1 của sự quản lý yếu kém, được mô tả trong Hình 3.14).
– Theo thời gian, lưu vực phát triển lên thượng nguồn, mở rộng đỉnh lũ và tần suất lũ lụt ngày càng tăng do tăng bêtông hóa kênh mương hóa và tần suất lũ lụt ngày càng tăng do tăng bêtông hóa, kênh mương hóa, và thêm các đường ống dẫn.
– Dự án tăng cường năng lực dòng chảy của hạ lưu chỉ tính đến các kịch bản đô thị tại thời điểm nó được thực hiện, và không đánh giá các tác bả đô t ị tạ t ờ đ ể ó được t ực ệ , à ô g đá g á các tác động tiềm năng tương lai; sự đô thị hóa thượng lưu dẫn đến lũ lụt mới ở đồng bằng chịu lũ bị chiếm bởi các khu dân cư, dẫn đến các giải pháp công trình có chi phí cao, chẳng hạn như đào sâu hơn dòng nước giảm độ nhám làm các đường hầm dẫn dòng vv
nước, giảm độ nhám, làm các đường hầm dẫn dòng, vv.
– Các công trình này không khả thi về kinh tế, làm giảm giá trị các tài sản và tăng thiệt hại. Tình huống này được thấy trên sông Tietê ở São
Paulo, Brazil (Hình 3.15).
Paulo, Brazil (Hình 3.15).
– Hình 3.16 minh họa các quá trình thiết lập có nguồn gốc cùng với sự sử dụng đất (định cư tại đồng bằng chịu lũ sông, bêtông hóa, kênh mương hóa dòng chảy), thoát nước và các tác động là kết quả.
Hình 3.14. Gia tăng đô thị hóa, định cư ở các khu vực ven sông và gia tăng tần suất lũ
Hình 3.15. Lũ sông Tietê tại cầu Bandeiras là một kết quả của sự đô thị hóa ở thành phố São Paulo.
Quá trình đô thị hóa không kiểm soát được
Đ ị nh c ư lên các vùng
đ ồ ng b ằ ng lũ Cứng hóa bề mặt đất
‐Giảm lượng mưa thấm
‐Tăng tổng lượng và cũng tăng tốc độdòng chảy mặt
‐ Xâm chiếm lòng sông
‐ Nước chảy ngược
ặ ừ g ố ộ g ảy ặ
T ăng dòng chảy lũ
‐ Chặt phá rừng
‐ Xói lở bờ sông kênh
‐ Giảm diện tích tự nhiên để chứa lũ (hồ, ao tự nhiên, vùng đất thấp…)
Giảm pháp ‐ Đào thêm kênh mương mới ố
(hồ, ao tự nhiên, vùng đất thấp…)
Gi ă dò hả ặ
tạm thời ‐ Nạo vét, khai thông hệ thống sông kênh
Hình 3.16. Quá trình tác động của tiêu thoát nước đô thị (Sudersha, 2002)
Gia tăng dòng chảy mặt