Từ năm 1885 – cuối thế kỷ XIX

Một phần của tài liệu Chuyên đề Lịch sử Việt Nam lớp 8 (Trang 29 - 36)

+ Phong trào Cần Vương:

Khởi nghĩa Bãi Sậy (1883 – 1892) do Đinh Gia Huế, từ năm 1885 là Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo.

Khởi nghĩa Ba Đình (1886 – 1887) do Phạm Bành và Đinh Công Tráng lãnh đạo.

Khởi nghĩa Hùng Lĩnh (1886 – 1892) do Tống Duy Tân và Cầm Bá Thước lãnh đạo.

Khởi nghĩa Hương Khê (1885 – 1896) do Phan Đình Phùng và Cao Thắng lãnh đạo.

+ Phong trào nông dân :

Khởi nghĩa nông dân Yên Thế (1883 – 1913) do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo.

Phong trào đấu tranh của đồng bào miền núi và các dân tộc thiểu số như Thái, Mường, Mông, Hoa,….

Câu1 6 :Tại sao nói từ năm 1858 đến năm 1884 là quá trình triều đình Huế đi từ đầu hàng từng bước đến đầu hàng toàn bộ trước thực dân Pháp

* Căn cứ vào nội dung các sự kiện để phân tích, làm rõ :

- Rạng sáng 1 – 9 – 1858, quân Pháp nổ súng mở đầu cuộc xâm lược nước ta.

- Ngày 17-2-1859, quân Pháp tấn công thành Gia Định. Quân triều đình chống cự yếu ớt rồi tan rã, mặc dù có nhiều binh khí, lương thực.

- Ngày 5-6-1862, triều đình Huế kí với Pháp Hiệp ước Nhâm Tuất, nhượng cho chúng nhiều quyền lợi.

- Ngày 15-3-1874, triều đình Huế lại kí với thực dân Pháp Hiệp ước Giáp Tuất.

Hiệp ước Giáp Tuất đã làm mất một phần quan trọng chủ quyền lãnh thổ, ngoại giao và thương mại của Việt Nam.

- Ngày 25-8-1883, triều đình Huế chấp nhận kí Hiệp ước Quý Mùi (Hác-măng), triều đình Huế chính thức thừa nhận nền bảo hộ của Pháp ở Bắc Kì và Trung Kì, mọi việc giao thiệp với nước ngoài đều do Pháp nắm.

- Ngày 6-6-1884, chính phủ Pháp lại bắt triều đình Huế kí Hiệp ước Pa-tơ-nốt. Hiệp ước Pa-tơ-nốt đã chấm dứt sự tồn tại của triều đại phong kiến nhà Nguyễn với tư cách là một quốc gia độc lập, thay vào đó là chế độ thuộc địa nửa phong kiến.

=> Quá trình đi từ các hiệp ước 1862, 1874, 1883, 1884 là quá trình cắt từng bộ phận lãnh thổ rồi đi đến thừa nhận nền thống trị của Pháp trên toàn nước ta, các điều khoản, điều kiện ngày càng nặng nề hơn, tính chất thỏa hiệp ngày một nghiêm trọng hơn.

Câu1 7 Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858-1884) đã nhiều lần quân triều đình bỏ lỡ cơ hội tiêu diệt địch. Em hãy phân tích tình hình quân Pháp trên triến trường Gia Định năm 1859-1862 và tình hình chiến trường sau trận Cầu Giấy năm 1873 để thấy được điều đó.

* Chiến sự ở Gia Định:

- Ngày 17-2-1859 Pháp kéo quân vào Gia Định, quân triều đình chống cự yếu ớt rồi tan rã.

- Pháp gặp khó khăn tại chiến trường Trung Quốc nên phải rút quân chỉ để lại ở Gia Định 1000 quân ->Lực lượng Pháp mỏng

- Triều đình Huế không tổ chức huy động đánh đuổi quân Pháp ra khỏi nước ta mà chỉ lo phòng thủ

- Sau khi ổn định chiến trường TQ, Pháp kéo quân vào Gia Định. Ngày 24-2-1861 Pháp chiếm đại đồn Chí Hòa, thừa thắng chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kì

- Triều Huế kí với Pháp hiệp ước Nhâm Tuất, thừa nhận sự cai quản của Pháp ở 3 tỉnh Miền Đông Nam Kì

-> Triều Huế đã bỏ lỡ cơ hội đánh đuổi thực dân Pháp ra khỏi nước ta tại chiến trường Gia Định

* Tình hình sau trận Cầu Giấy:

- Sau trận Cầu Giấy, TD Pháp hoang mang dao động có ý định rút quân khỏi Bắc Kì - ND phấn khởi sẵn sàng đứng lên đánh Pháp

- Triều Huế mu muội, lo sợ ảnh hưởng đến thương lượng nên đã kí hiệp ước Giáp Tuất. Hiệp ước thừa nhận 6 tỉnh Nam Kì thuộc Pháp, mất một phần chủ quyền dân tộc

-> Việc làm của triều Huế đã tạo điều kiện cho Pháp xâm lược nước ta.

Câu 18: - Khái quát về truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta trải qua các thời kỳ lịch sử

- Giữa thế kỷ XIX CNTB phương tây đang phát triển mạnh và chuyển sang CNĐQ.

Vì vậy vấn đề thị trường và thuộc địa là một nhu cầu tất yếu ….Châu á là đối tượng nhòm ngó của TB phương tây , Việt Nam nằm trong hoàn cảnh chung đó.

- Đầu thế kỷ XIX Nguyễn ánh lập lên nhà Nguyễn nhưng không nhận được sự ủng hộ của nhân dân vì đã lật đổ một triều đại tiến bộ… vì thế nhà Nguyễn lâm vào tình trạng khủng hoảng

- Nhà Nguyễn thi hành những chính sách phản động… mâu thuẫn giữa ND với nhà Nguyễn ngày càng sâu sắc, nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân đã nổ ra nhưng đều bị dập tắt nhưnhg đã làm cho nhà Nguyễn suy yếu tạo cơ hội cho TB phương tây xâm lược.

- Năm1858 pháp và Tây ban nha xâm lược nước ta , nhân dân ta đã đứng lên chống Pháp cùng với quân đội triều đình nhưng nhà Nguyễn không kiên quyết mặc dù có thể đánh bại Pháp vì lúc đó Pháp chưa đủ mạnh để xâm lược nước ta nên mới phảI liên kết với Tây Ban Nha …Thái độ nhân nhượng dần đi tới thoả hiệp càng làm cho TD Pháp lấn tới buộc triều đình phải ký những điều ước có lợi cho TD Pháp nhượng 3 tỉnh miền Đông rồi 3 tỉnh miền tây. Mặc dù các cuộc đấu tranh đã liên tiếp nổ ra như của Trương Định, Nguyễn Trung Trực, ….Chiến thắng ở Cầu Giấy lần 1 và lần 2 làm cho TDP lo sợ nhưng triều đình không biết tận dụng cơ hội để phát động nhân dân kháng Pháp mà tiếp tục thoả hiệp…

- Phong trào đấu tranh của các nhà văn nhà thơ diễn ra mạnh mẽ nhưng cũng không được nhà Nguyễn ủng hộ mà còn ra sức ngăn cấm như Phạm Văn Nghị…

Khước từ một loạt các đề nghị cải cách duy tân của các sĩ phu tiến bộ Vì vậy năm 1883 và 1884 nhà Nguyễn liên tiếp ký các hiệp ước Hác Măng và Patơ nốt chấp nhận sự có mặt của Pháp trên lãnh thổ Việt Nam. Việc nướ ta rơi vào ta Pháp là trách nhiệm của nhà Nguyễn.

Tóm lại Pháp xâm lược nước ta lúc đầu nhà Nguyễn con có 1 vài hành động tích cực nhưng rồi sau đó trượt dài trong sự nhân nhượng thoả hiệp để bảo vệ quyền lợi của giai cấp mình, quên đi quyền lợi của dân tộc, không cùng nhân dân chống Pháp, nên việc mất nước là một điều tất yếu.

Câu 19* Khi thực dân Pháp xâm lược 6 tỉnh Nam Kì, triều đình nhà Nguyễn và nhân dân có sự phản ứng khác nhau. Sự khác nhau được thể hiện:

- Triều đình nhà Nguyễn sau một thời gian ngắn, chống đối yếu ớt, đã đi từ thoả hiệp này đến thoả hiệp khác và cuối cùng đầu hàng thực dân Pháp.

+ Năm 1862 kí hoà ước cắt 3 tỉnh miền Đông cho Pháp.

+ Năm 1867 để mất 3 tỉnh miền Tây.

- Thái độ của nhân dân: Có 4 hoạt động chính:

+ Phối hợp với quan quân triều đình chống Pháp ( 1859-1861)

+ Tự động vũ trang lập căn cứ chống Pháp: Trương Định, Nguyễn Trung Trực…

+ Chiến đấu bằng ngòi bút như: Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị…

+ Bất hợp tác với Pháp.

* Có sự khác nhau đó là vì:

- Triều đình muốn bảo vệ quyền lợi của dòng họ Nguyễn. Phải đứng trước 2 nguy cơ: TD Pháp và nhân dân, triều Nguyễn chấp nhận thoả hiệp với Pháp.

- Nhân dân chỉ có sự lựa chọn là vũ trang chống ngoại xâm: Bảo vệ chủ quyền của quốc gia, bảo vệ cuộc sống của chính họ.

Câu 20: Nhận xét tinh thần chống Pháp của vua quan triều đình nhà Nguyễn (từ 1858 đến 1867)

Trong quá trình xâm lược của thực dân Pháp đối với nước ta từ năm 1858 đến 1867, thái độ chống Pháp của vua quan triều đình nhà Nguyễn được thể hiện như sau:

+ Lúc đầu vua quan triều đình nhà Nguyễn tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp, biết hợp tác với nhân dân, được nhân dân ủng hộ.

+ Về sau tỏ thái độ lo sợ thực dân Pháp, quay mặt với nhân dân, thậm chí phản đối cuộc kháng chiến của nhân dân để rồi đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác.

+ Từ đó có thể nhận thấy rằng tinh thần chống Pháp của vua quan triều đình nhà Nguyễn đi từ chỗ chống ngoại xâm đến chỗ nhượng bộ, từng bước đầu hàng giặc, thể hiện sự hèn yếu, tinh thần bạc nhược trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

Câu 21:Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của triều đình nhà Nguyễn cuối thế kỉ XIX có điểm khác biệt gì về kẻ thù, tiềm lực đất nước, đường lối kháng chiến so với các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của nhân dân ta thế kỉ XI- XIII?

- Kẻ thù

+ Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của triều đình nhà Nguyễn cuối thế kỉ XIX đã phải chống lại một kẻ thù mạnh là thực dân Pháp, hơn ta một phương thức sản xuất…

+ Các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của nhân dân ta thế kỉ XI-XIII cũng phải chống lại những kẻ thù mạnh như quân Tống, Mông- Nguyên song cùng trình độ phát triển…

- Tiềm lực đất nước

+ Trước nguy cơ bị xâm lược, Triều đình nhà Nguyễn đã không đề ra được các chính sách phù hợp để củng cố sức nước, sức dân, cố kết nhân tâm…hệ quả là đặt Việt Nam vào thế bất lợi trước cuộc xâm lược vũ trang của thực dân Pháp…

+ Trước nguy cơ bị xâm lược, các vua nhà Lý, nhà Trần đã có các chính sách để đoàn kết nhân dân, đoàn kết nội bộ triều đình…

- Đường lối kháng chiến

+ Khi Pháp xâm lược triều Nguyễn đã không đề ra được một đường lối kháng chiến đúng đắn, ngày càng xa rời đường lối đấu tranh vũ trang truyền thống của dân tộc…

+ Trước các thế lực ngoại xâm triều Lý, triều Trần đã chủ động đề ra đường lối kháng chiến, phát huy truyền thống đấu tranh vũ trang của dân tộc…

Câu 22: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân dân ta ở Bắc Kì đã diễn ra như thế nào trong những năm 1873-1883? Tại sao cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân dân ta cuối thế kỉ XIX chưa giành được thắng lợi?

1. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân dân ta ở Bắc Kì trong những năm 1873-1883

- 1873, quân Pháp nổ súng đánh thành Hà Nội. Nguyễn Tri Phương đã đốc thúc quân sĩ chiến đấu dũng cảm nhưng không giữ nổi thành…Tại cửa Ô Thanh Hà, dưới sự chỉ huy của viên chưởng cơ, khoảng 100 binh lính triều đình đã chiến đấu và hi sinh đến người cuối cùng…

- Khi Pháp mở rộng đánh chiếm các tỉnh Bắc Kì, tới đâu chúng cũng bị quân dân ta chặn đánh. Tại Phủ Lý, Hưng Yên, Hải Dương, Nam Định…quân Pháp vấp phải sự kháng cự quyết liệt của quân dân ta, phải rút về cố thủ trong thành ở các tỉnh lị.

Các sĩ phu, văn thân yêu nước lập Nghĩa hội, bí mật tổ chức chống Pháp…

- 21-12-1873, quân dân ta làm nên chiến thắng Cầu Giấy, nhân dân phấn khởi đứng lên chống Pháp, quân Pháp hoảng sợ, hoang mang. 1874, Triều đình Huế kí Hiệp ước (Giáp Tuất) gây bất bình lớn trong nhân dân…

- 1882, quân Pháp nổ súng đánh thành Hà Nội, Tổng đốc thành Hà Nội là Hoàng Diệu lên mặt thành chỉ huy quân sĩ chiến đấu nhưng không giữ được thành.

- Khi quân Pháp nổ súng tấn công, nhân dân Bắc Kì đã anh dũng đứng lên chiến đấu. Ở Hà Nội, dọc sông Hồng, nhân dân tự tay đốt nhà mình, tạo thành bức tường lửa làm chậm bước tiến của giặc…Khi quân Pháp đánh chiếm các tỉnh đồng

bằng, đi đến đâu chúng cũng vấp phải sức chiến đấu quyết liệt của các địa phương…

- 19-5-1883, quân dân ta làm nên chiến thắng Cầu Giấy lần hai, làm nức lòng nhân dân cả nước, bồi đắp ý chí quyết tâm tiêu diệt giặc của nhân dân, quân Pháp hoang mang lo sợ…trong khi triều Nguyễn vẫn tiếp tục đường lối hoà hoãn…

2. Nguyên nhân cuộc kháng chiến chống thực Pháp xâm lược của quân dân ta cuối thế kỉ XIX chưa giành được thắng lợi

- Thực dân Pháp có sức mạnh của chủ nghĩa tư bản…;Cuối thế kỉ XIX, chế độ phong kiến Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc…triều đình nhà Nguyễn đã không có sự chuẩn bị chu đáo trước cuộc kháng chiến…

- Trong quá trình kháng chiến triều đình nhà Nguyễn đã không phát huy được truyền thống đánh giặc của dân tộc: đoàn kết, đường lối đấu tranh vũ trang…; bỏ qua nhiều cơ hội để xoay chuyển cục diện chiến tranh…

Câu 23 : Bằng nhận thức lịch sử, em hãy chứng minh rằng "Pháp xâm lược Việt Nam là điều không thể tránh khỏi và cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam cuối thế kỉ XIX là vô cùng khó khăn"?

* Pháp chuẩn bị xâm lược Việt Nam.

- Từ thế kỉ XVII, Pháp đưa giáo sĩ vào Việt Nam truyền đạo để thăm dò tình hình Việt Nam.

- Thế kỉ XVIII, lợi dụng sự cầu cứu của Nguyễn Ánh, Pháp can thiệp sâu vào Việt Nam.

- Đầu thế kỉ XIX, Pháp ráo riết chuẩn bị xâm lược Việt Nam

=> Việc Pháp xâm lược Việt Nam là một tất yếu không thể tránh khỏi.

* Chế độ phong kiến Việt Nam suy yếu, lạc hậu, khối đoàn kết dân tộc bị rạn nứt.

- Đầu thế kỉ XIX, Nguyễn Ánh đánh đổ Tây Sơn, lập ra nhà Nguyễn. Nhà Nguyễn chủ trương chủ trương xây dựng chế độ phong kiến trung ương tập quyền theo hệ tư tưởng Nho Giáo đã lỗi thời, không phù hợp với lịch sử.

- Nhà Nguyễn mải lo bảo vệ quyền lực, không có những chính sách để phát triển đất nước làm cho nhân tài, vật lực cạn kiệt, đời sống nhân dân khó khăn.

- Mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân với chính quyền phong kiến ngày càng sâu sắc, nhiều cuộc đấu tranh chống phong kiến đã diễn ra. Khối đoàn kết dân tộc bị rạn nứt.

=> Đất nước không có sức mạnh để chống lại kể phương Tây trong đó có Pháp, là những nước đang có nền kinh tế TBCN phát triển mạnh mẽ.

Chứng minh trong lịch sử dân tộc Việt Nam, khi toàn dân đoàn kết 1 lòng thì kháng chiến thắng lợi, khi khôi đoàn kết bị rạn nứt, kháng chiến bị thất bại

- Thắng: tiêu biểu 3 lần kháng chiến chống quân Mông- Nguyên thời nhà Trần.

Nhà Trần đã tổ chức được cuộc kháng chiến toàn dân.

- Thua: kháng chiến chống Triệu Đà năm 179 TCN do nội bộ vua tôi An Dương Vương có mâu thuẫn.

- Kháng chiến chống Minh thời nhà Hồ không được nhân dân ủng hộ.

=> Báo hiệu trước một cuộc kháng chiến có nhiều khó khăn.

Câu 24:Bằng kiến thức lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858-1884, em hãy làm rõ:

a) Những yếu tố cơ bản thúc đẩy thực dân Pháp xâm lược nước ta ?

- Nửa sau thế kỉ XIX, CNTB nói chung và tư bản Pháp đang trên đà phát triển, nhu cầu về nguyên liệu, thị trường, nhân công ngày càng lớn; bản chất tham lam tàn bạo của chủ nghĩa thực dân đế quốc.

- Việt Nam có vị trí địa lí thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên phong phú, thị trường tiêu thụ lớn, nguồn nhân công rẻ; chế độ phong kiến nhà Nguyễn đang lâm vào khủng hoảng suy yếu.

Lấy cớ bảo vệ đạo Gia Tô, Pháp nổ súng xâm lược nước ta.

b) Trong quá trình Pháp xâm lược Việt Nam (1858-1884), nhà Nguyễn đã có rất nhiều cơ hội để có thể đánh Pháp giành độc lập, nhưng nhà Nguyễn đã bỏ lỡ:

- 1-9-1858, Pháp tấn công Đà Nẵng, nhân dân đã phối hợp với quân triều đình chống trả quyết liệt, làm thất bại âm mưu “đánh nhanh thắng nhanh” của Pháp.

Nhưng lúc này triều đình lại không phát huy sức mạnh của dân tộc để đánh bại Pháp hoàn toàn ngay từ ngày đầu xâm lược mà để Pháp chiếm được bán đảo Sơn Trà.

- Năm 1860, phần lớn quân Pháp bị điều động sang chiến trường châu Âu và Trung Quốc. Số quân còn lại ở Gia Định chưa đến 1000 quân, phải dàn mỏng trên một phòng tuyến dài hơn 10 km. Nhưng quân ta vẫn đóng ở Đại đồn Chí Hòa trong tư thế “thủ hiểm”.

- Ngày 21-12-1873, quân Pháp đánh ra Cầu Giấy, lọt vào trận địa phục kích của ta.

Gác-ni-ê cùng nhiều sĩ quan Pháp và binh lính bị giết tại trận. Chiến thắng Cầu Giấy khiến quân Pháp hoang mang, quân ta thì hăng hái đánh giặc. Giữa lúc đó triều đình Huế lại kí với thực dân Pháp Hiệp ước Giáp Tuất.

- Ngày 19-5-1883, hơn 500 quân Pháp kéo ra Cầu Giấy đã lọt vào trận địa mai phục của ta. Ri-vi-e cùng nhiều sĩ quan và binh lính Pháp bị giết. Chiến thắng Cầu Giấy lần thứ hai càng làm cho quân Pháp thêm hoang mang, dao động. Chúng đã toan bỏ chạy nhưng triều đình lại chủ trương thương lượng với pháp.

* Nhận xét về thái độ chống Pháp của nhà Nguyễn:

- Không kiên quyết đánh Pháp. Khi Pháp mở rộng chiến tranh cũng không cùng nhân dân chống Pháp mà còn ngăn cản nhân dân chống giặc, luôn ảo tưởng thương lượng, từng bước thỏa hiệp, kí hiệp ước đầu hàng bán nước.

-Với thái độ không kiên quyết, nhà Nguyễn đã từ bỏ con đường đấu tranh truyền thống của dân tộc, sợ dân hơn sợ giặc.

Một phần của tài liệu Chuyên đề Lịch sử Việt Nam lớp 8 (Trang 29 - 36)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(79 trang)
w