Ngôn ngữ và nhận thức

Một phần của tài liệu BÀI GIẢNG TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG (Trang 45 - 53)

3.6.1. Khái niệm chung về ngôn ngữ và hoạt động lời nói

* Ngôn ngữ

- Con người có khả năng truyền đạt kinh nghiệm cá nhân cho người khác và sử dụng kinh nghiệm của người khác vào hoạt động của mình, làm cho mình có những khả năng to lớn, nhận thức và nắm vững được bản chất của tự nhiên, xã hội và bản thân... chính là nhờ ngôn ngữ.

- Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội - lịch sử. Do sống và làm viêc cùng nhau nên con người có nhu cầu giao tiếp với nhau và nhận thức hiện thực.

- Nói một cách chung nhất, ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu đặc biệt, dùng làm phương tiện giao tiếp và công cụ của tư duy.

* Các chức năng của ngôn ngữ - Chức năng chỉ nghĩa

Ngôn ngữ được dùng để chỉ chính sự vật, hiện tượng, tức là làm vật thay thế cho chúng. Các kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người cũng được cố định lại, tồn tại và truyền đạt lại cho các thế hệ sau là nhờ ngôn ngữ. Chính vì vậy chức năng chỉ nghĩa của ngôn ngữ còn được gọi là chức năng làm phương tiện tồn tại, truyền đạt và nắm vững kinh nghiệm xã hội - lịch sử loài người.

- Chức năng thông báo

Ngôn ngữ được dùng để truyền đạt và tiếp nhận thông tin, để biểu cảm và nhờ đó thúc đẩy, điều chỉnh hành động của con người. Chức năng thông báo của ngôn ngữ còn gọi là chức năng giao tiếp. Giao tiếp bao giờ cũng dẫn đến thay đổi hành vi.

- Chức năng khái quát hóa

Ngôn ngữ không chỉ một sự vật, hiện tượng riêng rẽ, mà chỉ một lớp, một loại các sự vật, hiện tượng có chung thuộc tính bản chất, chính nhờ vậy, nó là một

phương tiện đắc lực của hoạt động trí tuệ. Ngôn ngữ vừa là công cụ tồn tại của hoạt động trí tuệ, vừa là công cụ để cố định lại các kết quả của hoạt động này.

=> Ba chức năng ngôn ngữ nêu trên có mối quan hệ biện chứng, trong đó chức năng thông báo là chức năng cơ bản nhất. Chỉ trong quá trình giao tiếp con người mới thu nhận được các tri thức mới về hiện thực, do đó mới điều chỉnh được hành vi của mình cho thích hợp với hoàn cảnh sống.

* Hoạt động lời nói -

Chương 3...20 NHẬN THỨC...20

thiết lập sự giao tiếp hoặc để lập kế hoạch hành động.

- Hoạt động lời nói khi thực hiện mục đích giao tiếp hay khi tư duy về thực chất là một quá trình hình thành và thể hiện ý nhờ ngôn ngữ. Do đó lời nói (hay hoạt động lời nói) còn được hiểu là một quá trình hình thành và thể hiện ý nhờ ngôn ngữ.

=> Lời nói(Hoạt động lời nói) là một quá trình con người sử dụng ngôn ngữ để thực hiện một mục đích cụ thể nào đó nên có tính cá nhân riêng biệt ở từng người, tuy vậy nó có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ, với tính chất xã hội, tính chất chung của ngôn ngữ.

3.6.2. Phân loại lời nói (hoạt động lời nói) 3.6.2.1. Lời nói bên ngoài

- Lời nói bên ngoài là lời nói tồn tại dưới dạng vật chất là âm thanh và vật chất hóa là chữ viết, là quá trình sản sinh lời nói để khái quát hóa hiện thực và giao tiếp với người khác.

- Lời nói bên ngoài là một hình thái lời nói cơ sở nhất của lịch sử loài người.

Trong đời sống cá thể lời nói bên ngoài được hình thành trước lời nói bên trong. Lời nói bên ngoài được tiếp nhận bằng cơ quan phân tích thính giác hoặc thị giác.

- Lời nói bên ngoài có ba tính chất nổi bật dưới đây:

+ Có tính vật chất hay vật chất hóa;

+ Có tính triển khai mạnh;

+ Có tính dư thừa thông tin.

- Lời nói bên ngoài tùy thuộc vào hình thức giao tiếp, được chia thành lời nói miệng và lời nói viết. Căn cứ vào tính chất giao tiếp, cả lời nói miệng và lời nói viết được chia thành lời nói đối thoại và lời nói độc thoại.

+ Lời nói đối thoại: là lời nói giữa hai hay một số người với nhau, trong đó khi thì người này nói và người kia nghe, khi thì người này nghe và người kia nói.

+ Lời nói độc thoại: là lời nói của một người, còn những người khác là người đọc hay người nghe. Đây là lời nói liên tục, một chiều, ít có sự phụ thuộc vào người khác và vào nội dung tình huống, hoàn cảnh trực tiếp.

+ Lời nói viết: Là lời nói hướng vào người khác, được biểu hiện bằng các kí hiệu, chữ viết, và được tiếp nhận bằng cơ quan phân tích thị giác, cho phép con người giao tiếp trong những khoảng cách không gian và thời gian lớn; là một dạng của lời nói độc thoại nhưng ở mức phát triển cao hơn nhiều.

3.6.2.2. Lời nói bên trong

- Lời nói bên trong là một loại hoạt động lời nói đặc biệt, diễn ra ở trong đầu, không còn tính vật chất (âm thanh), đúng hơn là có rất ít tính vật chất. Lời nói bên trong chỉ là hình ảnh âm thanh, là biểu tượng về âm thanh hay con chữ. Lời nói bên trong biểu hiện ở chỗ chúng ta tự "tranh luận" vối chính mình để tìm ra giải pháp tốt nhất. Chính vì vậy, lời nói bên trong còn gọi là lời nói cho mình (để phân biệt với lời nói bên ngoài) hay lời nói thuần tuý bên trong (để phân biệt với lời nói thầm)

- Lời nói bên trong có ba đặc điểm nổi bật sau đây:

+ Có tính rút gọn cao. Thường chỉ là từng mẫu, rời rạc. Thí dụ cả câu, cả đoạn văn được cô đọng lại chỉ còn một từ (chủ ngữ, vị ngữ...);

+ Có tính vị thể, tức chỉ toàn vị ngữ;

+ Có tính ngữ nghĩa là ý và phụ thuộc mạnh vào tình huống (giống như ở lời nói đối thoại).

- Lời nói bên trong tồn tại dưới dạng những cảm giác vận động, do cơ chế đặc biệt của nó quy định. Việc giáo dục lời nói bên trong được thực hiện thông qua quá trình giáo dục các lời nói bên ngoài.

=> Các loại hoạt động lời nói đã trình bày ở trên đều có quan hệ rất chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau và có thể chuyển hóa cho nhau.

3.6.3. Các cơ chế lời nói

* Khái niệm về cơ chế lời nói

- Các cơ chế lời nói là những bộ máy ngôn ngữ đảm bảo cho các quá trình hoạt động lời nói thực hiện nhanh chóng các chức năng của mình, là phương tiện tổ chức các hoạt động nhận thức và giao tiếp.

- Các cơ chế lời nói tồn tại trong não người, về thực chất, các cơ chế lời nói là cơ sở sinh lí học thần kinh cao cấp của lời nói.

- Các cơ chế lời nói không có sẵn khi con người mới sinh ra mà được hình thành trong quá trình cá thể nắm vững và sử dụng ngôn ngữ bằng con đường hoạt động giao tiếp. Nhiều cơ chế lời nói được lặp lại thường xuyên nên đã trở thành những cơ chế tự động hóa.

Căn cứ vào chiều hướng của các quá trình tạo thành lời nói, các cơ chế lời nói được chia thành hai nhóm: các cơ chế sản sinh lời nói và các cơ chế tiếp nhận lời nói.

* Cơ chế sản sinh lời nói

- Các cơ chế sản sinh lời nói được hình thành và phát triển trong quá trình nói và viết của cá nhân. Nói cách khác, các cơ chế này gắn chặt với quá trình sản sinh lời nói. Sau khi hình thành, chúng tích cực tham gia vào các giai đoạn sản sinh lời nói.

- Các cơ chế sản sinh lời nói ở người đã nắm vững tiếng (ngôn ngữ) làm việc theo nguyên tắc tự động hóa. Đó là các cơ chế dưới đây:

+ Cơ chế lập chương trình lời nói, liên hệ giữa ý và lời;

+ Cơ chế ngữ pháp hóa chương trình hoạt động lời nói, tức chuyển từ chương trình đến các điểm tựa của phát ngôn (hành động lời nói);

+ Cơ chế cố định lại (ghi nhớ, giữ gìn) những đặc tính ngữ pháp cần thiết của những phần phát ngôn đã được sản sinh (chủ yếu là nhờ trí nhớ trực tiếp);

+ Cơ chế dự đoán ngữ pháp của phát ngôn trên cơ sở những tài liệu đã có;

+ Cơ chế lựa chọn lại cấu trúc ngữ pháp, đối chiếu với chương trình và các yếu tố tham gia hoạt động lời nói theo kiểu chiếu lên màn ảnh vô tuyến các cấu trúc đã dự đoán;

+ Cơ chế khai triển các yếu tố trong cấu trúc ngữ pháp, đến đây ý chủ quan chuyển thành nghĩa khách quan;

+ Cơ chế tìm từ theo các dấu hiệu ngữ âm, ngữ nghĩa và đặc điểm của chủ thể (phong cách);

+ Cơ chế lập chương trình vận động (phát âm) cho các thành phần của phát ngôn (hay của ngữ đoạn).

+ Cơ chế chuyển từ chương trình vận động lên thực hiện chương trình vận động bằng âm thanh;

+ Cơ chế hiện thực hóa âm thanh (phát âm lên) trực tiếp đưa lời nói thầm bên trong thành lời nói bên ngoài, hoàn thành một phần hay toàn bộ hoạt động lời nói.

* Cơ chế tiếp nhận lời nói

- Cơ chế nhận biết và phân biệt những phức hợp âm thanh thành những âm riêng biệt.

- Cơ chế cố định lại (ghi nhớ, giữ gìn) các dấu hiệu âm thanh (hay con chữ) đã tới;

- Cơ chế tổng hợp (đúng hơn là tích hợp) các âm (con chữ) riêng biệt thành các đơn vị lời nói (vần, từ...);

- Cơ chế tổng hợp thành từ riêng lẻ;

- Cơ chế đưa từ vào hệ thông thông báo theo các quy tắc ngữ pháp, từ vựng;

- Cơ chế phân biệt các cấp độ lượng tử của âm điệu (theo độ cao, độ vang, trường độ...), do đó tạo lại từ theo cách khác.

=> Các cơ chế tiếp nhận lời nói nêu trên cũng liên hệ chặt chẽ với nhau và thứ tự đã nêu không phải chỉ diễn ra có một lần, chúng thường xuyên xen kẽ đồng thời, nhất là các cơ chế có thứ tự sau.

3.6.4. Vai trò của ngôn ngữ đối với nhận thức

- Ngôn ngữ là một trong hai yếu tố (cùng với lao động) đã làm cho con vật trở thành con người (Ph. Ăngghen). Nói cách khác, ngôn ngữ đã góp phần tích cực làm cho các quá trình tâm lí của con người có chất lượng khác hẳn với con vật.

- Ngôn ngữ đã lưu giữ lại những kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người, nhờ đó thế hệ sau có được các sức mạnh tinh thần của thế hệ trước.

- Ngôn ngữ là hình thức tồn tại của ý thức, ngôn ngữ là "ý thức thực tại" của con người (C. Mác)...

- Ngôn ngữ liên quan đến tất cả các quá trình tâm lí của con người, là thành tố quan trọng nhất về mặt nội dung và cấu trúc của tâm lí người, đặc biệt là của các quá trình nhận thức.

3.6.4.1. Vai trò của ngôn ngữ trong nhận thức cảm tính

* Đối với cảm giác

Ngôn ngữ ảnh hưởng mạnh đến ngưỡng nhạy cảm của cảm giác, làm cho cảm giác được thu nhận rõ ràng, đậm nét hơn. Thí dụ, nghe những người khác xuýt xoa: "Trời lạnh quá!", ta dễ cảm thấy lạnh hơn. Khi cảm nhận các thuộc tính của sự vật, hiện tượng ở xung quanh (màu sắc, âm thanh, mùi vị...) ta thường "gọi thầm"

tên các thuộc tính đó ở trong đầu, điều này làm cho cảm giác của ta về thuộc tính ấy mạnh hơn, chính xác hơn.

* Đối với tri giác

- Ngôn ngữ làm cho quá trình tri giác diễn ra dễ dàng, nhanh chóng hơn và làm cho những cái tri giác được trở nên khách quan, đầy đủ và rõ ràng hơn.

- Vai trò của ngôn ngữ đối với quá trình quan sát càng cần thiết hơn vì quan sát là tri giác tích cực, có chủ định và có mục đích (tức có ý thức). Tính có ý thức, có mục đích, có chủ định đó được biểu đạt và điều khiển, điều chỉnh chính nhờ ngôn ngữ.

* Đối với trí nhớ

- Ngôn ngữ cũng có ảnh hưởng quan trọng đối với trí nhớ của con người. Nó tham gia tích cực vào các quá trình trí nhớ, gắn chặt với các quá trình đó.

- Không có ngôn ngữ thì không thể thực hiện sự ghi nhớ có chủ định, sự ghi nhớ có ý nghĩa và kể cả sự ghi nhớ máy móc (học thuộc lòng)...

- Nhờ ngôn ngữ con người có thể chuyển hẳn những thông tin cần nhớ ra bên ngoài đầu óc con người. Chính bằng cách này loài người đã lưu giữ và truyền đạt kinh nghiệm của thế hệ trước cho thế hệ sau.

3.6.4.2. Vai trò của ngôn ngữ trong nhận thức lí tính

* Đối với tư duy

- Ngôn ngữ liên quan chặt chẽ với tư duy của con người. Tư duy dùng ngôn ngữ làm phương tiện, công cụ, chính nhờ điều này tư duy của con người khác về chất so với tư duy của con vật: con người có tư duy trừu tượng.

- Lời nói bên trong là công cụ quan trọng của tư duy, đặc biệt khi giải quyết các nhiệm vụ khó khăn, phức tạp. Lúc này lời nói bên trong có xu hướng chuyển từng bộ phận thành lời nói thầm (khi nghĩ người ta hay nói lẩm nhẩm là vì thế).

Nếu nhiệm vụ quá phức tạp thì ngôn ngữ bên trong chuyển thành lời nói bên ngoài.

Người ta nói to lên thì thấy tư duy rõ ràng và thuận lợi hơn. Những điều đó chứng tỏ không có ngôn ngữ, đặc biệt không có lời nói bên trong thì ý nghĩ, tư tưởng không thể hình thành được,tức không thể tư duy trừu tượng được.

* Đối với tưởng tượng

- Ngôn ngữ cũng giữ một vai trò to lớn trong tưởng tượng. Nó là phương tiện để hình thành biểu đạt và duy trì các hình ảnh mới của tưỏng tượng.

- Ngôn ngữ giúp ta làm chính xác hóa các hình ảnh của tưởng tượng đang nảy sinh, tách ra trong chúng những mặt cơ bản nhất, gần chúng lại với nhau, cố

định chúng lại bằng từ và lưu giữ chúng trong trí nhớ. Ngôn ngữ làm cho tưởng tượng trở thành một quá trình ý thức, được điều khiển tích cực, có kết quả và chất lượng cao.

CÂU HỎI ÔN TẬP

1. Ngôn ngữ là gì? Các chức năng cơ bản của ngôn ngữ?

2. Thế nào là lời nói (hoạt động lời nói)? Hãy trình bày các loại lời nói cơ bản nhất và rút ra ý nghĩa giáo dục của lời nói.

3. Cơ chế lời nói là gì? Hãy trình bày các loại cơ chế lời nói.

4. Vai trò của ngôn ngữ đối vối nhận thức.

Chương 4:

NHÂN CÁCH VÀ SỰ SAI LỆCH HÀNH VI 4.1. Khái niệm chung về nhân cách

4.1.1. Nhân cách là gì?

* Một số khái niệm:

- Con người: là thành viên của một cộng đồng, một xã hội, vừa là một thực thể tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội.

- Cá nhân: dùng để chỉ một người cụ thể của một cộng đồng, thành viên của xã hội.

- Cá tính: dùng để chỉ cái đơn nhất, có một không hai, không lặp lại trong tâm lí (hoặc sinh lí) của cá thể động vật hoặc cá thể (cá nhân) người.

- Nhân cách: chỉ bao hàm phần xã hội, tâm lí của cá nhân với tư cách thành viên của một xã hội nhất định, là chủ thể của các quan hệ người - người của hoạt động có ý thức và giao lưu.

* Khái niệm nhân cách trong tâm lí học

- Quan điểm sinh vật hóa nhân cách: coi bản chất nhân cách nằm trong các đặc điểm hình thể (Krestchmev), ở góc mặt (C. Lombrozo), ở thể trạng (Sheldon), ở bản năng vô thức (S. Freud) V.V...

- Quan điểm xã hội hóa nhân cách lấy các quan hệ xã hội (gia đình, họ hàng, làng xóm...) để thay thế một cách đơn giản, máy móc các thuộc tính tâm lí của cá nhân.

- Hay các nhà tâm lí học khoa học cho rằng: Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lí của cá nhân, biểu hiện bản sắc và giá trị xã hội của con người.

=> Vậy, nhân cách là sự tổng hòa những đặc điểm quy định con người như là một thành viên của xã hội, nói lên bộ mặt tâm lí - xã hội, giá trị và cốt cách làm người của mỗi cá nhân.

4.1.2. Các đặc điểm cơ bản của nhân cách

* Tính thống nhất của nhân cách

Nhân cách là một chỉnh thể thống nhất giữa phẩm chất và năng lực, giữa đức và tài của con người. Trong nhân cách có sự thống nhất hài hòa giữa các cấp độ:

cấp độ bên trong cá nhân, cấp độ liên cá nhân và cấp độ siêu cá nhân. Trong đó cấp độ thứ ba xem xét giá trị xã hội của nhân cách ở những hoạt động, ở những mối quan hệ xã hội mà nhân cách gây nên như biến đổi ở những nhân cách khác.

Một phần của tài liệu BÀI GIẢNG TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG (Trang 45 - 53)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(70 trang)
w