Các phẩm chất tâm lí của nhân cách

Một phần của tài liệu BÀI GIẢNG TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG (Trang 55 - 59)

* Khái niệm tình cảm

- Tình cảm là những thái độ thể hiện sự rung cảm của con người đối với những sự vật, hiện tượng có liên quan tới nhu cầu và động cơ của họ.

- Tình cảm có những đặc điểm riêng, đó là:

+ Nội dung phản ánh: Trong khi nhận thức chủ yếu phản ánh những thuộc tính và các mối quan hệ của bản thân thế giới thì tình cảm phản ánh mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng, với nhu cầu, động cơ của con người.

+ Về phạm vi phản ánh: Phạm vi phản ánh của tình cảm mang tính lựa chọn, chỉ những sự vật có liên quan đến sự thỏa mãn hay không thõa mãn nhu cầu hoặc động cơ của con người mới gây nên tình cảm.

+ Về phương thức phản ánh: Nhận thức phản ánh thế giới bằng hình ảnh,

biểu tượng, khái niệm, còn tình cảm thể hiện thái độ của con người bằng cách rung cảm. Tình cảm mang đậm màu sắc chủ thể.

- Những đặc trưng của tình cảm + Tính nhận thức:

+ Tính xã hội + Tính khái quát + Tính ổn định + Tính chân thực

+ Tính hai mặt (đối cực)

* Các mức độ của đời sống tình cảm

- Tình cảm của con người đa dạng cả về nội dung và hình thức biểu hiện.

Xét từ thấp tới cao, đời sống tình cảm của nhân cách có những mức độ sau:

+ Màu sắc xúc cảm của cảm giác là các sắc thái cảm xúc đi kèm theo quá trình cảm giác nào đó.

+ Xúc cảm là những rung cảm xảy ra nhanh, mạnh, rõ rệt hơn so với màu sắc xúc cảm của cảm giác.

+ Xúc động là một dạng xúc cảm có cường độ rất mạnh xảy ra trong thời gian ngắn, có khi chủ thể không làm chủ được bản thân.

Có những dạng tồn tại cơ bản là: Say mê, tâm trạng và stress.

+ Tình cảm là thuộc tính tâm lí ổn định bền vững của nhân cách, nói lên thái độ của cá nhân.

- Người ta thường hay nói đến 2 nhóm tình cảm:

+ Tình cảm cấp thấp có liên quan tới sự thỏa mãn hay không thoả mãn những nhu cầu của cơ thê.

+ Tình cảm cấp cao bao gồm: Tình cảm đạo đức, tình cảm trí tuệ, tình cảm thẩm mĩ, tình cảm mang tính chất thế giới quan.

* Vai trò của tình cảm

- Trong tâm lí học, người ta xem tình cảm là mặt tập trung nhất, đậm nét nhất của nhân cách con người.

- Với nhận thức, tình cảm là nguồn động lực mạnh mẽ kích thích con người tìm tòi chân lí.

- Thông qua hành động, tình cảm nảy sinh và biểu hiện trong hoạt động, đồng thời tình cảm là một trong những động lực thúc đẩy con ngưòi hoạt động.

- Tình cảm có quan hệ và chi phối toàn bộ các thuộc tính tâm lí của nhân

cách, là mặt nhân lõi của tính cách, là điều kiện và động lực để hình thành năng lực, là yếu tố có quan hệ qua lại với khí chất của con người.

* Các quy luật của tình cảm

- Quy luật “thích ứng”: Nếu một tình cảm nào đó cứ lặp đi lặp lại nhiều lần một cách đơn điệu thì đến một lúc nào đó có hiện tượng thích ứng, mang tính chất

“chai dạn” của tình cảm.

- Quy luật “cảm ứng” (hay “tương phản”): Trong quá trình hình thành và biểu hiện tình cảm, sự xuất hiện hoặc sự suy yếu đi của một tình cảm này có thể làm tăng hoặc giảm một tình cảm khác xảy ra đồng thời hoặc nối tiếp nó.

- Quy luật “pha trộn”: Trong đời sống tình cảm của một con người cụ thể, nhiều khi hai tình cảm đối cực nhau có thể cùng xảy ra một lúc, nhưng không loại trừ nhau, chúng “pha trộn” vào nhau.

- Quy luật "di chuyển": Trong cuộc sống hàng ngày có lúc tình cảm thể hiện quá "linh động", có khi ta không kịp làm chủ tình cảm của mình như hiện tượng

"giận cá chém thớt", “ghét nhau ghét cả tông ti họ hàng”...

- Quy luật "lây lan": Trong mối quan hệ tình cảm giữa con người với nhau có hiện tượng vui "lây", buồn "lây" hoặc "đồng cảm", "cảm thông" giữa người này với người khác.

- Quy luật về sự hình thành tình cảm: Xúc cảm là cơ sở của tình cảm. Tình cảm được hình thành do quá trình tổng hợp hóa, động hình hóa và khái quát hoá những xúc cảm cùng loại.

=> Các quy luật nói trên thể hiện phong phú và đa dạng trong cuộc sống của con người.

4.4.2. Mặt ý chí của nhân cách

* Ý chí là gì?

- Là một phẩm chất nhân cách, ý chí thể hiện năng lực thực hiện những hành động có mục đích đòi hỏi phải có sự nỗ lực khắc phục khó khăn. Ý chí được coi là mặt năng động của ý thức, mặt biểu hiện cụ thể của ý thức trong thực tiễn.

- Ý chí bao gồm cả mặt năng động của trí tuệ, mặt năng động của tình cảm đạo đức, là hình thức điều khiển, điều chỉnh hành vi tích cực nhất của con người.

- Ý chí được thể hiện qua các phẩm chất sau:

+ Tính mục đích + Tính độc lập + Tính quyết đoán

+ Tính kiên cường + Tính dũng cảm

+ Tính tự kiềm chế, tự chủ

=> Các phẩm chất ý chí của nhân cách nói trên luôn gắn bó hữu cơ với nhau, hỗ trợ cho nhau, tạo nên ý chí cao của con người. Các phẩm chất ý chí được thể hiện trong hành động ý chí.

* Hành động ý chí

- Hành động ý chí là hành động có ý thức, có chủ tâm, đòi hỏi nỗ lực khắc phục khó khăn, thực hiện đến cùng mục đích đã đề ra.

- Hành động ý chí có đặc điểm sau:

+ Chủ thể nhận thức được ý nghĩa của kích thích để từ đó quyết định có hành động hay không.

+ Hành động ý chí có tính mục đích rõ ràng và chứa đựng nội dung đạo đức.

+ Hành động ý chí bao giờ cũng có sự lựa chọn phương tiện và biện pháp tiến hành.

+ Có sự điều khiển, điều chỉnh, kiểm tra của ý thức, luôn có sự nỗ lực khắc phục khó khăn, thực hiện đến cùng mục đích đã đề ra.

- Cấu trúc của hành động ý chí

Trong một hành động ý chí điển hình có 3 thành phần (hay 3 giai đoạn) cơ bản sau:

+ Giai đoạn chuẩn bị: Giai đoạn này gồm các khâu: Xác định mục đích, hình thành động cơ, lập kế hoạch hành động, chọn phương tiện và biện pháp hành động, quyết định hành động.

+ Giai đoạn thực hiện: Có thể diễn ra dưới hai hình thức: thực hiện hành động bên ngoài, hành động ý chí bên trong (hay kìm hãm các hành động bên ngoài). Trong quá trình thực hiện hành động có thể gặp những khó khăn trở ngại, đòi hỏi phải nỗ lực ý chí vượt qua nhằm thực hiện đến cùng mục đích đã định.

+ Giai đoạn đánh giá kết quả của hành động: Khi hành động đạt đến một mức độ nào đó, con người đánh giá, đối chiếu các kết quả đạt được với mục đích đã định. Sự đánh giá có thể trở thành sự kích thích và động cơ đối với hoạt động tiếp theo.

=> Tóm lại, ba giai đoạn trên của hành động ý chí có liên quan hữu cơ, tiếp nối nhau và bổ sung cho nhau.

* Hành động tự động hóa: kĩ xảo và thói quen

- Hành động tự động hóa vốn là hành động có ý thức, nhưng do lặp đi lặp lại nhiều lần, hoặc do luyện tập mà nó trở thành tự động hóa, không cần có sự kiểm soát trực tiếp của ý thức mà vẫn thực hiện có kết quả.

- Có hai loại hành động tự động hóa: kĩ xảo và thói quen:

+ Kỹ xảo là loại hành động tự động hóa nhờ luyện tập;

+ Thói quen là những hành vi đã được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần.

Một phần của tài liệu BÀI GIẢNG TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG (Trang 55 - 59)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(70 trang)
w