Giao dịch đấu giá

Một phần của tài liệu Bài giảng môn thị trường chứng khoán (Trang 132 - 140)

SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN)

CHƯƠNG 6: GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN

4.2.2 Phương thức giao dịch

4.2.2.1 Giao dịch đấu giá

• Hệ thống giao dịch đấu giá theo giá: Các nhà tạo lập thị trường đưa ra giá chào mua và giá chào bán cho một số loại chứng khoán. Các báo giá được đưa vào hệ thống và chuyển tới mọi thành viên của thị trường => Giá được lựa chọn để giao dịch là giá chào mua và chào bán tốt nhất.

• Ưu điểm là có tính thanh khoản và ổn định cao.

• Tuy nhiên hệ thống những nhà tạo lập thị trường có thể bóp méo cơ chế xác lập giá trên thị trường và tăng chi phí giao dịch của người đầu tư.

- Việc sử dụng hệ thống khớp giá đòi hỏi phải có những định chế tài chính đủ mạnh về vốn cũng như là kỹ năng đầu tư chuyên nghiệp để đảm nhận vai trò của người tạo lập thị trường.

- Phương thức ít được áp dụng ở các thị trường mới hình thành.

- Ngoài ra trong hệ thống này luôn tiềm ẩn hành vi giao dịch không cân bằng của những người tạo lập thị trường.

4.2.2.2 Giao dịch đấu lệnh:

• Hệ thống giao dịch đấu giá theo lệnh: lệnh của các nhà đầu tư được ghép với nhau ngay sau khi các lệnh mua và bán được đưa vào hệ thống với mức giá phù hợp theo nguyên tắc ưu tiên về giá và thời gian => Mức giá thực hiện là mức giá thỏa mãn cả bên mua và bên bán.

• Nhà đầu tư phải trả một khoản phí môi giới cho các công ty chứng khoán.

Giao dịch đấu lệnh được thực hiện thông qua hình thức khớp lệnh.

• Hệ thống giao dịch khớp lệnh được các Sở giao dịch trên thế giới áp dụng rộng rãi.

• Quá trình xác lập giá được thực hiện một cách hiệu quả, các lệnh mua và bán được cạnh tranh với nhau, để giao dịch tại mức giá tốt nhất. Tính minh bạch của hệ thống giao dịch đấu lệnh cao hơn. Chi phí giao dịch thấp hơn so với giao dịch đấu giá theo giá.

• Tuy nhiên nó có nhược điểm là giá cả dễ biến động khi có sự mất cân đối cung cầu lớn và khả năng linh hoạt không cao.

Có các hình thức khớp lệnh sau đây:

(1) Khớp lệnh định kỳ:

• Các lệnh mua và bán được chuyển vào hệ thống giao dịch trong một khoảng thời gian nhất định. Trong thời gian này, các lệnh được đưa vào liên tục nhưng không có giao dịch được thực hiện. Vào đúng thời điểm khớp lệnh, tất cả các lệnh sẽ được so khớp để chọn ra mức giá có khối lượng giao dịch lớn nhất.

• Phương thức này rất hữu hiệu trong việc giảm thiểu những biến động về giá nảy sinh từ tình trạng giao dịch bất thường, tạo sự ổn định giá cần thiết trên thị trường.

• Tuy nhiên, giá chứng khoán được xác lập theo phương thức khớp lệnh định kỳ không phản ánh tức thời thông tin thị trường và hạn chế cơ hội tham gia giao dịch của nhà đầu tư.

• Khớp lệnh định kỳ thường được các Sở giao dịch sử dụng để xác định mức giá mở cửa, đóng cửa hoặc chứng khoán được phép giao dịch lại sau một thời gian tạm ngừng giao dịch.

Ví dụ 1: vào một phiên giao dịch cổ phiếu AB, Sở giao dịch nhận được các lệnh giới hạn mua và lệnh bán với khối lượng và mức giá tương ứng như sau:

Môi giới Khối lượng

mua

Tổng KL mua

Giá ( 1.000đ)

Tổng KL bán

KL bán Môi giới

(1) (2) (3) (4) (5) (6) (7)

001 1.000 1.000 20,8 5.800 1.000 012

002 500 1.500 20,7 4.800 700 011

003 700 2.200 20,6 4.100 900 010

004 1.000 3.200 20,5 3.200 1.000 009

005 3.000 6.200 20,4 2.200 700 008

006 2.000 8.200 20,3 1.500 1.500 007

Đấu giá lệnh:

• Các lệnh mua và bán được đấu giá theo nguyên tắc ai đặt lệnh cao hơn sẽ được mua và ai đặt lệnh thấp hơn sẽ được bán

• Giá khớp lệnh được xác định ở mức giá tại đó chênh lệch giữa khối lượng mua và bán là thấp nhất.

Xác nhận kết quả giao dịch và phân bổ lệnh mua, bán cổ phiếu AB:

• Giá khớp lệnh: 20.500đ

• Khối lượng thực hiện: 32.000 cổ phiếu

• Các nhà môi giới 001,002,003,004 mua được hết khối lượng trên phiếu lệnh

• Các nhà môi giới 007,008,009 bán được hết khối lượng trên phiếu lệnh

(2) Khớp lệnh liên tục:

• Giao dịch được thực hiện liên tục thông qua việc so khớp các lệnh có giá phù hợp (nghĩa là giá mua bằng hoặc cao hơn giá bán) ngay khi có lệnh mới đưa vào sổ lệnh.

• Phương thức khớp lệnh liên tục thường được áp dụng cho các giao dịch trong phiên giao dịch.

Theo phương thức khớp lệnh liên tục, các lệnh mua và bán sau khi đăng ký sẽ được so với nhau, nếu thấy khớp về giá sẽ cho thực hiện ngay.

Phương thức này thực hiện được khối lượng giao dịch lớn nên phù hợp với các thị trường chứng khoán phát triển.

Ví dụ 2: vào một phiên giao dịch cổ phiếu XY, Sở giao dịch nhận được các lệnh giới hạn mua và lệnh bán với khối lượng và mức giá tương ứng như sau:

MUA GIÁ

(1.000đ)

BÁN

Môi giới Lệnh Loại lệnh Thời gian Thời gian Loại lệnh Lệnh Môi giới

001 200 cp Trong ngày 9h35’ 10

007 100 cp Trong ngày 8h30’ 10.1

003 200 cp T/hiện ngay 8h40’ 10.2

006 400 cp Trong ngày 8h55’ 10.3

005 500 cp Trong ngày 9h05’ 10.4

010 500 cp T/hiện ngay 10h15’ 10.5 9h15’ T/hiện ngay 400 cp 012

10.5 9h30’ T/hiện ngay 300 cp 018

10.7 8h45’ Trong ngày 500 cp 027

10.7 9h55’ T/hiện ngay 400 cp 205

Xác nhận kết quả giao dịch và phân bổ lệnh mua, bán cổ phiếu XY:

• Giá khớp lệnh: 10.500 đ

• Khối lượng thực hiện: 500 cp

• Nhà môi giới 010 mua được 500 cp

• Nhà môi giới 012 bán được 400 cp

• Nhà môi giới 018 bán được 100 cp, còn 200 cp được giao dịch tiếp ở lần khớp lệnh sau.

Khớp lệnh định kỳ có ưu điểm là cho phép hình thành giá cả tốt nhất trên cơ sở khối lượng mua bán được tích tụ lại. Khối lệnh định kỳ thích hợp với thị trường có khối lượng giao dịch nhỏ, nó cho phép giảm bớt sự biến động của mức giá cả.

Tuy nhiên việc khớp lệnh liên tục lại thích hợp với thị trường có khối lượng giao dịch lớn. Nó cho phép hình thành giá cả tức thời đáp ứng những thay đổi thường xuyên về thông tin trên thị trường. Hệ thống cung cấp mức giá liên tục của chứng khoán, từ đó tạo điều kiện cho nhà đầu tư tham gia thị trường một cách năng động và thường xuyên. Ngoài ra phương thức khớp lệnh liên tục hạn chế được chênh lệch giữa giá lệnh mua và lệnh bán, từ đó thúc đẩy các giao dịch xảy ra thường xuyên và liên tục.

Một phần của tài liệu Bài giảng môn thị trường chứng khoán (Trang 132 - 140)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(217 trang)