Một số giải pháp

Một phần của tài liệu Đại học Bán công Tôn Đức Thắng, (Trang 48 - 53)

CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY SỨ THIÊN THANH

2. Một số giải pháp

2.1. Về tình hình quản lý và sử dụng vốn kinh doanh:

*  Cần  đẩy cao hơn nữa về hiệu quả sử dụng các vốn nhằm mục đích để 1  đồng vốn bỏ ra ta có thể thu lợi nhuận cao nhất. 

* Dự tính trước lượng tiền mặt thật sự cần thiết cho việc thanh toán các  khoản chi thường xuyên, khoản nợ  được thanh toán tiền mặt của  đơn vị  để  đưa  lượng tiền mặt vào đầu tư kinh doanh mua các loại chứng khoán có giá thu hồi vốn  nhanh số vòng quay cao  để tránh trường hợp  để vốn nhàn rỗi, thúc  đẩy khả năng  thanh toán nhanh bằng tiền mặt của công ty. 

* Cần phải tổ chức quản lý chặt chẽ vốn bằng tiền này nhất là tiền mặt bằng  ngoại tệ, cần chú ý đến sự biến động của tỷ giá hối đoái, tranh thủ nộp tiền, cheque  thu được vào ngân hàng nhanh chóng. 

* Trong mấy năm qua doanh nghiệp không tham gia vào lĩnh vực  đầu tư  ngắn hạn nên hiệu quả kinh doanh không được cao. Vì vậy, cần tham gia vào lĩnh vực  đầu tư ngắn hạn như là góp vốn liên doanh với các đơn vị khác hoặc đầu tư vào việc  mua bán cổ phiếu của những công ty mạnh trên thị trường tránh tình trạng để vốn  nhàn rỗi mà con gia tăng vòng quay của vốn lưu động. Đồng vốn của đơn vị đưa vào  đầu tư ngắn hạn không những tạo ra được lợi nhuận mà còn có thể thu hồi nhanh để  thỏa mãn các hoạt động khác của đơn vị. 

* Lập kế hoạch nguồn vốn lưu  động (nguồn vốn chủ sở hữu, khoản nợ  trung hạn dài hạn): Hằng năm đơn vị phải lập kế hoạch cho nguồn vốn lưu động để so  sánh nguồn vốn hiện có với số vốn thường xuyên cần thiết để xem vốn lưu động thừa  hay thiếu nhằm chủ động xử lý số thừa và tổ chức huy động nguồn vốn để đáp ứng  nhu cầu vốn thiếu đó. 

+ Nếu thiếu: Lấy phần lợi nhuận từ nguồn bên trong lập quỹ đầu tư phát  triển, nếu chưa đủ tổ chức huy động từ bên ngoài qua hình thức liên doanh liên kết,  phát hành trái phiếu cổ phiếu để tăng thêm nguồn vốn luân chuyển thuờng xuyên ổn  định cho đơn vị. 

* Bên cạnh việc gia tăng vòng quay hàng tồn kho hơn nữa thì đơn vị cần  giảm bớt lượng nguyên liệu, vật liệu, hàng hóa dự trữ thực tế tại đơn vị và phải có kế  hoạch dự trữ cụ thể để đảm bảo quá trình kinh doanh được liên tục. 

2..2 Về tình hình công nợ và thanh toán:

* Đẩy mạnh công tác thu hồi nợ như: 

‐ Khuyến khích khách hàng trả tiền sớm bằng cách đưa ra thời gian chiết  khấu trong thời hạn 60 ngày nếu khách hàng trả tiền sớm trong thời hạn 10 ngày thì  được chiết khấu là 2% còn nếu trong khoảng 20 ngày thì được 1%. 

‐ Đối với những khách hàng mà đơn vị theo dõi được là có khả năng thanh  toán nhưng vẫn chiếm dụng vốn của đơn vị thì đơn vị nên áp dụng mức lãi suất khi  quá hạn thanh toán.  Đối với khách hàng chiếm dụng vốn quá lâu làm cản trở  đến  công việc kinh doanh của đơn vị thì nếu quá thời hạn thanh toán 20 ngày thì khách  hàng phải chịu phạt với mức lãi suất là 1%, cứ thế nếu qua 20 ngày thì mức lãi suất sẽ  tăng lên. 

‐ Đối với những khách hàng mới bộ phận kế toán tài vụ cần lên danh sách  theo dõi nợ, thường xuyên đôn đốc khách hàng thanh toán sớm tránh tình trạng nợ  quá lâu, gây ứ đọng vốn. 

‐ Trong trường hợp khách hàng dây dưa trong việc thanh toán nợ thì cần có  biện pháp cứng rắn hay nhờ cơ quan lụât pháp can thiệp nhằm thu hồi vốn càng  nhanh càng tốt. 

* Đối với các khoản phải trả phải theo dõi chặt chẽ từng khoản nợ ứng với  từng chủ nợ, xác định khoản nào có thể chiếm dụng hợp lý, khoản nào đã đến hạn  cần thanh toán nhưng nhằm nâng cao uy tín của đơn vị, tăng sự tin cậy đối với các  bạn hàng. 

Chú trọng thanh toán các khoản công nợ với ngân sách nhằm thực hiện tốt  nghĩa vụ đối với nhà nước và Tổng công ty. 

2.3. Về tình hình sử dụng và quản lý tài sản: 

Trong  điều kiện  đảm bảo sản xuất kinh doanh tiến hành bình thường cần ra  sức giảm bớt tỉ trọng tài sản cố định không dùng trong sản xuất kinh doanh, thanh lý  những tài sản cố định không cần dùng, giảm bớt tài sản cố định  chưa sử dụng và để  dự trữ, để tài sản hiện có phát huy hết tác dụng của nó. 

* Để phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh, đơn vị cần phải tu bổ  sữa chữa thường xuyên các tài sản cố  định như cân  điện tử phải chính xác, robot  phun men luôn được bảo trì, lò nung Tuynel phải đạt năng suất cao đồng thời không  ngừng tăng thêm tài sản cố định mới. Vì thế phải căn cứ vào mức độ hao mòn của tài  sản cố định mà tính ra giá trị hao mòn đã chuyển vào giá trị của hàng hóa để thu hồi  lại bằng số tiền tương ứng trong số tiền bán hàng hóa của đơn vị. 

* Giảm bớt số tài sản sử dụng vào quản lý hành chính và các bộ phận khác  để tăng lượng tài sản trong khâu kinh doanh, bởi vì chỉ có đưa vào kinh doanh tài sản  mới nhanh chóng tạo ra doanh thu, nhanh chóng phát huy tác dụng và nâng cao hiệu  suất sử dụng tài sản. 

* Ap dụng những biện pháp kỹ thuật mới và cải tiến quy trình công nghệ, tổ  chức sản xuất theo lối dây chuyền, chuyên môn hóa thiết bị sản xuất cải tiến chất  lượng nguyên vật liệu đồng thời nâng cao trình độ kỹ thuật của công nhân sản xuất  nhằm tăng cường độ sử dụng và hiệu suất sản xuất của thiết bị. 

2..4. Về hiệu quả hoạt động kinh doanh:

Thông thường mục tiêu hoạt  động của các doanh nghiệp là tối  đa hóa lợi  nhuận, tuy nhiên việc tăng lợi nhuận phải phù hợp bản chất nền kinh tế, phải có quan  niệm đúng đắn trong việc giải quyết mối quan hệ giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu  dài. Lợi nhuận của doanh nghiệp chịu tác động của nhiều nhân tố khách quan: giá cả,  thị trường, chính sách của nhà nước về quản lý kinh tế và các nhân tố chủ quan là: 

trình  độ tổ chức   quản lý kinh doanh, phương hướng. Cụ thể  đơn vị cần thực hiện  theo các hướng sau: 

2.4.1 Tăng doanh thu bán hàng hợp lý và tích cực: 

‐  Tăng cường khả năng sản xuất của máy móc thiết bị, nâng cao chất lượng  sản phẩm, mẫu mã phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng đồng thời đơn vị phải 

tích cực hơn nữa về công tác quảng cáo tiếp thị để khách hàng biết và tin tưởng vào  sản phẩm của đơn vị. 

‐ Nâng cao mức hoa hồng đối với những người môi giới, đại lý bán hàng đã  đưa khách sử dụng sản phẩm của công ty. 

‐  Giải pháp hữu hiệu để khách hàng chú ý đến các sản phẩm của đơn vị là  thực hiện các đợt khuyến mãi, giảm giá đối với các khách hàng thân thuộc. 

‐ Ngoài lợi nhuận thu đựơc từ hoạt động kinh doanh, đơn vị còn thu thêm  khoản thu nhập đáng kể từ hoạt động tài chính, hoạt động bất thường. Vì thế đơn vị  nên cố gắng  đầu tư thêm vào các hoạt  động này  để góp phần làm tăng thêm lợi  nhuận cho đơn vị. 

2.4.2 Hạ thấp chi phí kinh doanh: 

Trong điều kiện thị trường nhiều cạnh tranh, giá bán không thể cao do đó  cần hạ thấp chi phí kinh doanh giúp tăng lợi nhuận. 

- Hạ thấp chi phí kinh doanh hợp lý phải xuất phát từ quan điểm: mạnh  dạn chi những khoản chi cần thiết  để tăng năng xuất lao  động, mở rộng  kinh doanh,  đảm bảo phục vụ tốt người tiêu dùng.  Đối với những khoản  chi chưa cần thiết thì tạm hoãn. 

- Mạnh dạn đầu tư mua sắm trang thiết bị hiện đại giúp sản phẩm làm ra  đạt năng suất có khoa học đạt chất lượng mà không tốn nhiều nhân công. 

Kết hợp tốt phương tiện vận chuyển thuê ngoài và phương tiện của đơn vị  nhằm mang lại hiệu quả cao nhất. 

- Trong việc sử dụng vật liệu, dụng cụ cần phải tận dụng hết những vật  liệu dụng cụ sẵn có, tích cực sửa chữa, cải tiến các loại vật liệu dụng cụ, xây  dựng định mức tiêu hao hợp lý và bảo quản theo định mức. 

- Giảm chi phí hành chính đến mức thấp nhất có thể được, đặc biệt là các  chi phí hội nghị, tiếp tân, quà biếu. Quản lý chi phí theo từng bộ phận,  từng khâu kinh doanh để quy rõ trách nhiệm của mỗi cá nhân trong việc  đền bù hoặc khen thưởng. 

- Tổ chức theo dõi quản lý từ các bộ phận sản xuất chế biến. Để chủ động  trong việc xác  định giá thành, bộ phận sản xuất chế biến phải nắm vững  nhu cầu và phối hợp chặt chẽ với bộ phận cung cấp nguyên vật liệu, hàng  ngày có dự trù cụ thể theo nhiều phương án về số nguyên liệu cần thiết. 

2.5. Tăng cường công tác quản lý lao động:

Lao động là một trong những yếu tố không thể  thiếu của quá trình sản xuất  kinh doanh, quản lý lao động tốt góp phần không nhỏ vào sự thành đạt và phát triển  của đơn vị. Để quản lý lao động tốt cần phải: 

- Căn cứ vào nhu cầu công tác ở đơn vị để tuyển dụng và bố trí lao động  hợp lý, phù hợp với trình độ và khả năng của từng người. 

- Nghiên cứu và phổ biến các biện pháp và nghiệp vụ cho cán bộ, công  nhân viên. Tổ chức thường xuyên những cuộc huấn luyện cho công nhân  về kỹ thuật sản xuất và tính chất đồng bộ. 

- Tạo cho người lao động những điều kiện thuận lợi nhất để làm việc  và  nghỉ ngơi, điều này liên quan đến các vấn đề cải tiến điều kiện lao động,  nơi làm việc, khen thưởng các cá nhân làm tốt chấp hành kỷ luật. 

     

Một phần của tài liệu Đại học Bán công Tôn Đức Thắng, (Trang 48 - 53)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(53 trang)