PHẦN LÀM VĂN (16,0 điểm)

Một phần của tài liệu 23 đề đáp án HSG văn 9 (Trang 23 - 41)

B. YÊU CẦU CỤ THỂ

II. PHẦN LÀM VĂN (16,0 điểm)

1. Kĩ năng: Đáp ứng đúng yêu cầu của bài văn nghị luận xã hội; bố cục rõ ràng, hợp lí, lập luận chặt chẽ, giàu sức thuyết phục; những dẫn chứng thực tế phù hợp; khuyến khích những bài viết sáng tạo.

2. Kiến thức: Trên cơ sở hiểu đúng vấn đề, biết cách làm bài nghị luận xã hội, học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau song về cơ bản cần đảm bảo được các ý sau:

a. Mở bài: Dẫn dắt giới thiệu được vấn đề nghị luận. (0,5 điểm) b. Thân bài:

* Giải thích: (0,5 điểm) - Sống là chính mình là sống đúng với hoàn cảnh, điều kiện, năng lực, sở trường, niềm đam mê… của bản thân.

- Sống là chính mình là không phải đóng vai một ai khác, sống một cuộc sống của ai đó và làm những điều không đúng với khả năng, sở thích..

* Bàn luận, chứng minh: (3,0 điểm) - Mỗi người có một năng lực, một cá tính, tri thức, hiểu biết, kinh nghiệm sống và niềm đam mê khác nhau. Với những gì mình có, ta sẽ chủ động tìm cho mình một con đường đi riêng, một công việc riêng, định ra một đích đến phù hợp nhất với mình. Khi học tập, lao động và sáng tạo đúng với những gì mình có, mình yêu thích sẽ đạt được thành quả tốt nhất, để đóng góp cho bản thân, gia đình và xã hội nhiều hơn. Sống là chính mình giúp mỗi người tự lập, năng động, sáng tạo hơn, tự tin hơn trong công việc và trong cuộc sống.

- Nếu không sống đúng với những gì mình có sẽ mệt mỏi, chán chường, không có được niềm vui, niềm hạnh phúc, thành quả lao động không cao, có thể gây nên những tổn thất cho mình và xã hội, mất đi niềm tin vào cuộc sống và có thể sa ngã, đánh mất mình…

- Lấy dẫn chứng từ thực tế để chứng minh.

* Mở rộng vấn đề nghị luận: (1,0 điểm) - Sống là chính mình không phải là ngang ngạnh, bảo thủ, chỉ biết mình, tách biệt với mọi người xung quanh…

- Sống độc lập, tự chủ, giữ gìn bản thân nhưng không tách biệt với tập thể, phải gắn bó chặt chẽ với mọi người, với xã hội thì cuộc sống mới ý nghĩa.

- Phê phán: Những người không có ý thức khẳng định mình, sống mờ nhạt, a dua theo đám đông; những người có lối sống ích kỉ, hẹp hòi; những người đánh mất mình…

* Bài học nhận thức và hành động: (0,5 điểm) - Mỗi người cần có sự bình tĩnh, sáng suốt, thái độ sống tích cực, rèn cho mình bản lĩnh sống vững vàng để vượt qua những khó khăn, những cám dỗ.

- Mạnh dạn, tự tin, sống đúng với những gì mình có, quyết tâm theo đuổi đam mê để đạt được điều mơ ước.

c. Kết bài: Khái quát lại vấn đề (0,5 điểm) Câu 2. (10,0 điểm)

1. Kỹ năng: Học sinh biết làm bài nghị luận văn học, biết phân tích có định hướng để làm nổi bật vấn đề theo yêu cầu của đề bài (chú ý tới khả năng lập ý, hệ thống hóa các luận điểm, dẫn chứng, diễn đạt...)

2. Kiến thức: Thí sinh có thể trình bày theo các cách khác nhau, nhưng cần đảm bảo các yêu cầu sau:

a. Mở bài: Giới thiệu vấn đề cần nghị luận. (0,5 điểm) b. Thân bài:

* Giải thích và bình luận: (2,0 điểm) - Giải thích:

+ Thơ: Thể loại văn học thuộc phương thức trữ tình, bắt nguồn cảm xúc của con người, đặc điểm ngôn từ hàm súc, cô đọng, giàu nhạc tính.

+ Nhà thơ gói tâm tình của mình trong thơ: Khi sáng tác thơ, nhà thơ gửi gắm tâm tư, tình cảm vào tác phẩm.

+ Người đọc mở ra bỗng thấy tâm tình của chính mình: Khi tiếp nhận tác phẩm thơ, người đọc thấy được chính mình, nhận ra những cảm xúc của bản thân, đồng cảm và rung động với thi nhân, lắng nghe tiếng lòng thi nhân gửi vào tác phẩm.

=> Câu nói của Lưu Quý Kỳ đề cập đến đặc trưng cảm xúc của thơ. Đối với thơ, tình cảm

là cội nguồn cảm hứng của người nghệ sĩ và đồng thời cũng là cầu nối để khơi gợi sự đồng cảm ở người đọc.

- Bình luận: Câu nói của Lưu Quý Kỳ là đúng đắn vì:

+ Thơ là tiếng nói của cảm xúc, tác phẩm thơ chỉ hình thành khi nhà thơ có được những cảm xúc mãnh liệt. Bản chất của thơ ca chính là người thư kí trung thành của trái tim, chuyên chở, kết nối, sẻ chia sẻ tâm tư, tình cảm của con người. Thơ ca với những khoảng lặng của mình có thể biểu đạt được cảm xúc, bày tỏ được những tâm tình khó nói và những chiều sâu trong tâm hồn.

+ Với người tiếp nhận, trong quá trình đọc tác phẩm văn học nói chung và tác phẩm thơ nói riêng, người đọc sẽ sống trong thế giới nghệ thuật được gợi ra từ tác phẩm, sẽ soi chiếu bản thân vào những điều tác giả gửi gắm, nhập thân vào các hình tượng thơ ca để trải nghiệm, để sống, để thấu hiểu. Vì thế, qua quá trình đọc thơ, họ tìm thấy tâm tình của chính mình.

* Chứng minh: Hai bài thơ Mùa xuân nho nho (Thanh Hải) và Sang thu (Hữu Thỉnh) đều làm sáng tỏ ý kiến của Lưu Quý Kỳ. (6,0 điểm)

- Nhà thơ gói tâm tình của mình trong thơ:

Học sinh bám vào hoàn cảnh ra đời của mỗi bài thơ để làm rõ:

+ Tâm tình của nhà thơ Thanh Hải:

Bài thơ Mùa xuân nho nho là tiếng lòng chân thành, tha thiết của nhà thơ, của người chiến sĩ cộng sản chân chính khi nằm trên giường bệnh, sống những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời:

++ Yêu thiên nhiên xứ Huế mộng mơ và say mê, ngây ngất trước cảnh đất trời vào xuân.

++ Yêu và gắn bó sâu nặng với cuộc đời, với quê hương đất nước, tự hào và tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc.

++ Khát vọng sống mãnh liệt và ước nguyện tha thiết, chân thành được hóa thân để dâng hiến những gì đẹp đẽ nhất cho cuộc đời chung.

+ Tâm tình của nhà thơ Hữu Thỉnh:

Bài thơ Sang thu là tình yêu thiên nhiên, yêu những giây phút chuyển mùa thật đẹp của nông thôn đồng bằng Bắc Bộ và khao khát cuộc sống thanh bình của người lính vừa bước ra từ máu lửa chiến trường:

++ Tâm trạng ngỡ ngàng, sự bâng khuâng, xao xuyến trước những tín hiệu thiên nhiên báo thu về.

++ Cảm xúc say đắm trước bức tranh thiên nhiên lúc thu sang với những chuyển động nhẹ nhàng mà sống động của thiên nhiên, tạo vật.

++ Từ chuyện thiên nhiên sang thu, nhà thơ khéo léo gửi gắm những chiêm nghiệm, suy tư, những thâm trầm sâu sắc về cuộc đời, niềm tin vào sự vững vàng của đất nước.

- Người đọc thấy tâm tình của chính mình:

+ Bài thơ Mùa xuân nho nho: Độc giả cùng tác giả khám phá vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước vào xuân; thêm yêu cuộc đời, yêu đất nước và có khát khao sống đẹp, sống có ích cho đời.

+ Bài thơ Sang thu: Độc giả cùng tác giả cảm nhận những bước chuyển giao kì diệu của thiên nhiên, vạn vật trong khoảnh khắc giao mùa hạ - thu. Bài thơ khơi dậy trong lòng người đọc tình yêu thiên nhiên, yêu cảnh sắc yên bình của làng quê, tin yêu lớp người đã từng trải, tin tưởng đất nước đã trưởng thành.

* Đánh giá (1,0 điểm) - Mỗi nhà thơ đều có cảm nhận riêng về cảnh sắc thiên nhiên, những chiêm nghiệm, những

suy nghĩ về cuộc đời, về con người, tình người trong cuộc sống bằng những hình thức nghệ thuật độc đáo, phù hợp: thể thơ năm chữ cô đọng, hàm súc, giàu hình ảnh, nhạc điệu…

- Từ tâm tình của các thi nhân, bạn đọc có thêm tình yêu quê hương đất nước, niềm khao khát được sống, được cống hiến cho đời, cho dù đó là những cống hiến giản dị nhưng thật sâu sắc và giàu ý nghĩa.

- Với thơ, tâm tình là yếu tố then chốt, là cầu nối giữa nhà thơ và bạn đọc, quá trình sáng tạo và quá trình tiếp nhận. Nhờ có thơ ca mà nhà thơ và người đọc tìm được sự đồng điệu trong tâm hồn.

c. Kết luận (0,5 điểm) Đánh giá lại vấn đề nghị luận.

Lưu ý: Nếu thí sinh chỉ phân tích các bài thơ mà không làm rõ được nhận định thì cho tối đa ẵ sụ́ điểm của toàn bài.

---HẾT---

UBND THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI LỚP 9

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Năm học 2020 - 2021 MÔN: NGỮ VĂN Thời gian làm bài: 150 phút ĐỀ CHÍNH THỨC (Đề bài gồm02 câu, 01 trang)

Ngày thi 05 tháng 12 năm 2020 Câu 1: (8 điểm)

BỌ CẠP VÀ NHÀ SƯ

Thiền sư nhìn thấy một con bọ cạp bị ngộp nước nên định vớt lên. Nhưng khi vớt thì ông bị cắn. Vì đau, ông phải thả ra nên bọ cạp lại rơi chìm xuống nước. Nhà sư lại cố kéo lên và lại bị cắn. Chú tiểu đứng nhìn nãy giờ mới lại gần nói: “Lạy Phật, sao sư phụ “cứng đầu” thế! Sư phụ không biết là hễ cố vớt nó lên là nó lại cắn sư phụ à?”

Nhà sư trả lời: “Tánh của bọ cạp là cắn nhưng nó chẳng thay đổi được cái tánh giúp đời của ta.” Rồi ông lấy một ngọn lá để vớt con bọ cạp ra.

Theo https://www.vienchuyentu.com/thien-su-va-bo-cap/

*Tánh: Tính (tánh nết: tính nết)

Suy nghĩ của em về bài học cuộc sống được gợi từ câu chuyện trên. Câu 2: (12 điểm)

Về bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của nhà thơ Phạm Tiến Duật, sách

Bình giảng văn 9” (Vũ Dương Quý - Lê Bảo) cho rằng: “Sự độc đáo trong việc sáng tạo hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu góp phần tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm”.

Em hiểu nhận định trên nhƣ thế nào? Hãy làm sáng tỏ bằng việc phân tích “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” (Phạm Tiến Duật).

---HẾT---

Họ tên thí sinh: ... SBD: ...

Giám thị 1: ...

Giám thị 2: ...

UBND THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG HƯỚNG DẪN CHẤM

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI LỚP 9 Năm học 2020 - 2021

MÔN: NGỮ VĂN Thời gian làm bài: 150 phút ĐỀ CHÍNH THỨC (Hướng dẫn chấm gồm: 04 trang)

Ngày thi 05 tháng 12 năm 2020 A. YÊU CẦU CHUNG

Giám khảo phải nắm được nội dung trình bày trong bài làm của học sinh để đánh giá một cách khái quát, tránh đếm ý cho điểm. Vận dụng linh hoạt hướng dẫn chấm, sử

dụng nhiều mức độ điểm một cách hợp lí, khuyến khích những bài viết có cảm xúc, sáng tạo.

Học sinh có thể làm bài theo nhiều cách riêng nhưng đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của đề, diễn đạt tốt vẫn cho đủ điểm.

Lưu ý: Điểm bài thi có thể lẻ đến 0,25 và không làm tròn số.

B. YÊU CẦU CỤ THỂ

Câu Nội dung Điểm

1 I. Yêu cầu về kĩ năng

Hs làm kiểu bài nghị luận xã hội có bố cục 3 phần: mở bài, thân bài, kết bài; luận điểm đúng đắn, sáng tỏ; lập luận chặt chẽ; trình bày sạch sẽ, chữ viết rõ ràng, diễn đạt lưu loát, có cảm xúc...

II. Yêu cầu về kiến thức: 8.0

* Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: Dẫn dắt giới thiệu vấn đề nghị 0.5 luận...

* Tóm tắt truyện, nêu vấn đề cần nghị luận: 1.5

- Vị thiền sư tìm mọi cách để giúp chú bọ cạp khỏi bị ngộp nứớc, cho dù bị bọ cạp cắn đau vẫn không từ bỏ ý định của mình.

- Nhà sư lý giải hành động của mình: “Tánh của bọ cạp là cắn; nhưng nó chẳng thay đổi được cái tánh giúp đời của ta”. Rồi nhà sư lấy một ngọn lá vớt bọ cạp ra

+ Tánh: bản tính, điều thuộc về bản chất cốt tủy của người hay vật.

+ Bản tính của nhà sư là giúp đời, từ bi, lương thiện; bản tính phòng vệ của bọ cạp là cắn. Bản tính của nhà sư và bọ cạp dù mâu thuẫn, đối lập nhưng điều đó không làm thay đổi bản tính của nhà sư.

=> Ý nghĩa câu chuyện: Đừng thay đổi bản tính tốt đẹp vốn có cho dù bạn có bị tổn thương vì lòng tốt của chính mình.

*Lý giải vấn đề 4.0

- Con người hay loài vật đều có bản tính riêng của mình để có thể sinh tồn. Khác với nhiều loài vật chỉ có bản năng phòng vệ để tồn tại, con người còn mang bản chất xã hội để hòa hợp chung sống giữa cộng đồng. Sự lương thiện, lòng tốt chính là một bản chất xã hội đó.

- Lòng tốt, bản chất thiện lương của con người được thể hiện trong suy nghĩ và hành xử giữa cuộc sống hàng ngày, trong những tình huống cụ thể: biết chia sẻ, giúp đỡ người khác nhất là trong hoạn nạn, khó khăn…

- Bản chất tốt đẹp của con người mang nhiều ý nghĩa: khẳng định giá trị, phẩm chất, vẻ đẹp con người; giúp ta có cuộc sống thanh thản, nhẹ nhõm, hạnh phúc, an vui; được mọi người quý mến, kính trọng; lan tỏa những điều tốt lành trong cộng đồng…

- Đôi khi lòng tốt cũng khiến ta bị tổn thương vì không được thấu hiểu, vì không phải ai cũng đem lòng tốt mà đối đãi với người khác… Điều đó dễ khiến con người thất vọng. Song nếu vì thế mà từ bỏ thiện tâm của mình thì ta sẽ đánh mất mình, đó là điều vô cùng đáng tiếc. Thay vì từ bỏ lòng nhân ái của mình nên cẩn trọng hơn trong hành xử để

vẫn giúp được người mà không làm mình bị tổn thương (như cái cách nhà sư trong câu chuyện lấy lá vớt bọ cạp ra khỏi nước). Đồng thời, rõ ràng là nhân hậu rất cần cả lòng dũng cảm, bản lĩnh sống để mạnh mẽ hướng thiện...

(Dẫn chứng cụ thể những suy nghĩ, hành động và việc làm thể hiện sự sâu sắc, nhân văn, hướng con người đến những giá trị tốt đẹp của con người và cuộc sống.)

* Bàn luận mở rộng: 2.0

- Phê phán những người vô tình, vô tâm, vô cảm với khó khăn, hoạn nạn của người khác, bỏ mặc không động lòng trắc ẩn, không giúp đỡ người khác vượt qua khó khăn... xã hội sẽ trở nên thiếu nhân bản, nhân văn.

- Bài học: Để có thể giữ vững bản tính lương thiện, con người cần có:

+ Hiểu biết (để biết cách giúp người thông minh nhất),

+ Bản lĩnh (để bị tổn thương mà vẫn không từ bỏ bản tính của mình)

+ Sự tỉnh táo (để không bị lợi dụng)...

- Khẳng định lại vấn đề nghị luận, liên hệ bản thân...

Câu 2 a. Về kĩ năng:

(12điểm) - Biết cách làm bài văn nghị luận về một nhận định văn học, bố cục rõ ràng, vận dụng tốt các thao tác lập luận

- Biết cách chọn và phân tích dẫn chứng một cách xác đáng để

làm sáng tỏ vấn đề nghị luận.

- Bài viết mạch lạc, trong sáng, có cảm xúc, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

b. Về kiến thức:

- Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo các ý cơ bản sau:

*Giới thiệu được vấn đề nghị luận: 1.0

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm ...

- Giới thiệu ý kiến, khẳng định sự sáng tạo của Phạm Tiến Duật khi viết về đề tài người lính

*Giải thích ý kiến. 1.5

- “Sự độc đáo”: Những sáng tạo riêng, mới lạ tạo sức lôi cuốn và phong cách của người nghệ sĩ.

- “Sáng tạo”: lao động nghệ thuật làm nên những tác phẩm nghệ thuật.

+ “Hình ảnh”: là con người và đời sống, là những gì cảm thấy được bằng thị giác ở thế giới rồi lại được tái hiện lại bằng ngôn ngữ trong tác phẩm và lưu lại trong tâm trí.

+ “Ngôn ngữ”: Công cụ để giao tiếp, chất liệu làm nên tác phẩm văn học.

+ “Giọng điệu”: Là thái độ, tình cảm, lập trường tư tưởng, đạo đức của người nghệ sĩ được thể hiện qua xưng hô, dùng từ, sắc điệu tình cảm.

Giọng điệu có vai trò lớn trong việc tạo nên phong cách người nghệ sĩ và có tác dụng truyền cảm cho người đọc.

- “Sức hấp dẫn”: Tạo nên sự say mê thích thú, sức lôi cuốn.

=>Ý kiến khẳng định những sáng tạo mới mẻ của Phạm Tiến Duật cho thơ ca viết về người lính và sự hấp dẫn, thành công của “Bài thơ về Tiểu đội xe không kính”.

*Phân tích, chứng minh

Ý 1: Độc đáo trong việc sáng tạo hình ảnh thơ (5.0đ)

- Thế giới thơ hình ảnh trong bài thơ của Phạm Tiến Duật là thế 0.5 giới của Trường Sơn huyền thoại, khốc liệt và lãng mạn: Những

con đường đầy bụi, mưa tuôn, khói lửa, đạn bom, tiếng cười hồn nhiên,

Một phần của tài liệu 23 đề đáp án HSG văn 9 (Trang 23 - 41)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(138 trang)
w