Giới thiệu vấn đề

Một phần của tài liệu 23 đề đáp án HSG văn 9 (Trang 84 - 93)

II 1 Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về bức thông

II. HƯỚNG DẪN CỤ THỂ

1. Giới thiệu vấn đề

- Nêu quan điểm về nghệ thuật xây dựng nhân vật và tài năng của người nghệ sĩ. Đưa ra nhận xét ở đề bài.

- Dẫn đoạn trích “ Kiều ở lầu Ngưng Bích”

0,25 đ

2.Giải thích

- Nghệ thuật miêu tả tâm lí là nhà văn sử dụng các phương tiện, biện pháp nghệ thuật để tái hiện thế giới tâm lí phong phú, phức tạp (những suy nghĩ, cảm xúc, những băn khoăn trăn trở, những day dứt, suy tư, những nỗi niềm thầm kín và cả diễn biến tâm trạng) của con người trong tác phẩm của mình.

- Thước đo là tiêu chuẩn đánh giá sự vật, hiện tượng nào đó.

- Tài năng người nghệ sĩ là khả năng sáng tạo nghệ thuật, cơ sở để hình thành phong cách nhà văn.

-> Nhận định trên khẳng định trong sáng tạo nghệ thuật: tài năng của người nghệ sĩ đượ đánh giá qua việc miêu tả tâm lí nhân vật trong sáng tác của mình.

1,0 đ

3. Chứng minh

- Nêu vị trí và nội dung đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”.

- Đây là đoạn đánh dấu bước ngoặt cuộc đời của Kiều trong mười lăm năm lưu lạc. Đoạn trích dựng lên tâm trạng cô đơn, buồn tủi và tấm lòng của Thúy Kiều khi đang một mình bơ vơ, lạc lõng nơi xa lạ. Trong đoạn trích Nguyễn Du đã thể hiện tài năng của nghệ sĩ thiên tài khi vận dụng linh hoạt các hình thức ngôn ngữ … để miêu tả tâm lí nhân vật.

0,25 đ

* Mở đầu đoạn trích là tâm trạng cô đơn, bẽ bàng, đáng thương và tội nghiệp của Kiều trước không gian lầu Ngưng Bích (phân tích 6 câu đầu). Miêu tả tâm lí gián tiếp qua nghệ thuật tả cảnh ngụ tình

- Những hình ảnh: lầu Ngưng Bích,khóa xuân, non xa, trăng gần, bốn bề bát ngát, cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia gợi không gian mênh mông, hoang vắng, mịt mờ làm bật nên cảnh ngộ cô đơn, tội nghiệp của Kiều

- “ Bẽ bàng” gợi lên sự xấu hổ và tủi thẹn của Kiều khi nghĩ đến thân phận và duyên phận của mình.

- Hình ảnh thời gian (mây sớm đèn khuya) đã tô đậm tâm trạng Kiều

gợi nên vòng tuần hoàn thời gian khép kín và ẩn sau đó là sự lẻ loi, Kiều chỉ có một thân một mình đối diện với chính mình

- Vì thế tâm trạng của Kiều mới chia đôi thành hai ngả: “nửa tình – nửa cảnh như chia tấm lòng”. Cảnh có đẹp đến bao nhiêu đi chăng nữa cũng không thể nào khỏa lấp đi tâm trạng “bẽ bàng” của nàng.

=> Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, kết hợp với những từ ngữ giàu tính tạo hình và biểu cảm, Nguyễn Du đã phác họa được khung cảnh lầu Ngưng Bích rất rộng lớn, mênh mông không có sự sống của con người. Đồng thời qua đó, tác giả còn cho thấy được tâm trạng cô đơn, tủi hổ, bẽ bàng của Kiều khi bị giam lỏng ở nơi đây.

1,0 đ

* Trong nỗi cô đơn đang bủa vây, một mình Kiều phải bơ vơ thì nỗi nhớ gia đình, nỗi nhớ người yêu đến như một lẽ tất yếu, rất phù hợp với quy luật tâm lí của con người xa quê. Tâm lí đó được miêu tả trực tiếp qua những lời độc thoại nội tâm thể hiện nỗi niềm thương nhớ Kim Trọng và cha mẹ của Kiều.

- Nỗi nhớ đầu nàng nhớ về chàng Kim. Nguyễn Du đã dùng từ

“tưởng” để diễn tả chính xác trạng thái tâm lí nhớ thương. Kiều đang tưởng tượng, hình dung, tơ tưởng đến bóng hình người yêu - Nhớ chàng Kim là nhớ đến kỉ niệm tình yêu cùng lời thề đôi lứa (tưởng người dưới nguyệt chén đồng). Nàng tưởng tượng Kim Trọng đang hướng về mình, ngày đêm đau đáu chờ tin mà uổng công vô ích (tin sương luống những rày trông mai chờ). Nàng nhớ về Kim Trọng với tâm trạng đau đớn, tiếc nuối. Câu thơ tấm son gột rửa bao giờ cho phai có hai cách hiểu: tấm son là tấm lòng nhớ thương Kim Trọng không bao giờ nguôi quên hoặc tấm lòng son trong trắng của Kiều bị dập vùi hoen ố, biết bao giờ gột rửa được.

Như vậy, trong nỗi nhớ chàng Kim, Thúy Kiều không chỉ bộc lộ

nỗi niềm mong ngóng khắc khoải mà còn bộc lộ cả nỗi đau đớn, cùng cực, tủi hổ đến xé tâm can. Qua đó cho thấy được tấm lòng thủy chung, son sắt của Kiều dành cho Kim Trọng.

0,5 đ

- Tiếp theo là nỗi nhớ cha mẹ

+ Nếu như khi diễn tả nỗi nhớ chàng Kim của Kiều, Nguyễn Du dùng động từ "tưởng" thì khi diễn tả tấm lòng hiếu lễ với cha mẹ của Kiều, tác giả lại sử dụng từ “xót”. Xót nghĩa là thương, thương đến mức xót xa trong lòng. Kiều nhớ đến cha mẹ với nỗi xót thương vô hạn. Các thành ngữ quạt nồng ấp lạnh, tựa cửa hôm mai, cách mấy nắng mưa miêu tả nỗi lo lắng của Kiều. Nàng lo cha mẹ đã tuổi cao sức yếu không biết có ai chăm sóc cho không. Sự xa cách biết bao ngày mưa nắngcũng như khoảng cách về không gian địa lí, sự xa xôi cách trở giữa nàng với cha mẹ biết bao giờ

được gặp lại để làm tròn bổn phận làm con

+ Các điển cố sân Lai, gốc tử đã diễn tả sâu sắc nỗi nhớ thương cha mẹ, xót xa vì không trọn đạo làm con của Kiều. Đó là tấm lòng hiếu thảo, đức vị tha rất đáng trân trọng của nhân vật. Qua tâm trạng xót xa, buồn tủi và lo lắng khi nhớ về cha mẹ của Kiều, chúng ta thấy được tấm lòng thảo thơm, hiếu nghĩa của nàng dành cho cha mẹ rất lớn lao, cao cả và thiêng liêng

0,5 đ

=> Người nghệ sĩ Nguyễn Du rất tài năng khi miêu tả chân thực nét tâm lí của Kiều. Am hiểu tâm lí nhân vật Nguyễn Du để Kiều nhớ Kim Trọng trước nhớ cha mẹ sau. Điều đó rất hợp tâm lý của con người, hợp lô gic tình cảm, hợp với tình tiết của truyện (Đối với cha mẹ, trong cơn gia biến, Kiều đã quyết định chọn bên hiếu, bán mình chuộc cha. Còn đối với Kim Trọng, Kiều vẫn tự xem mình là kẻ phụ bạc. Cho nên trong nỗi nhớ người thân, nàng dành nỗi nhớ đầu tiên cho Kim Trọng).. Cùng là nỗi nhớ nhưng cách nhớ khác nhau với những lí do khác nhau nên cách thể hiện cũng khác nhau. Nguyễn Du đã để Kiều nhớ Kim Trọng trước, nhớ cha mẹ sau. Sự đảo ngược trật tự đó cho thấy sự cảm thông sâu sắc sự tinh tế của ngòi bút tâm lí bậc thầy Nguyễn Du.

0,25 đ

* Tiếp theo người nghệ sĩ Nguyễn Du đã miêu tả sâu sắc, tinh tế tâm trạng buồn và lo lắng đến hãi hùng trước tương lai mờ mịt của Kiều. Để diễn tả điều ấy ông dùng bút pháp tả cảnh ngụ tình một cách điêu luyện làm nên bức tranh tâm cảnh đầy ám ảnh trong 8 câu kết

- Cảnh như khơi, như vẽ từng biểu hiện nhỏ nhất trong tâm hồn Kiều:

+ Cảnh cửa bể chiều hôm với cánh buồm thấp thoáng xa xa trong buổi chiều tà gợi lên ở nàng một nỗi buồn nhớ da diết về quê nhà trong xa cách.

( HS phân tích nét tinh tế cách chọn không gian , thời gian.... câu hoi tu từ, từ láy....)

+ Cảnh cánh hoa trôi man mác giữa dòng nước mênh mông là nỗi buồn thương về phận hoa trôi, bèo dạt, lênh đênh vô định chẳng biết đi đâu về đâu...

( HS phân tích nét tinh tế cách chọn từ láy, hình ảnh ẩn dụ, câu hoi tu từ...)

+ Cảnh nội co rầu rầu giữa chân mây mặt đất một màu xanh mù xa tít tắp là một nỗi buồn vô vọng của Kiều trước một khung cảnh thiếu vắng sự sống, héo úa, lụi tàn. Hình ảnh “nội cỏ rầu rầu” là một hình ảnh nhân hóa, biểu hiện tâm trạng của con người. Lòng người buồn nên nhìn đâu cũng thấy buồn; nỗi buồn của Kiều như thấm vào cảnh vật khiến cho cảnh vật cũng nhuốm màu tâm trạng.

+ Nếu như những bức tranh thiên nhiên bên trên đều được tái hiện trong trạng thái tĩnh thì khép lại đoạn trích, bức tranh thiên nhiên được miêu tả trong trạng thái động với cảnh gió cuốn mặt duềnh, ầm ầm tiếng sóng.. Đó là âm thanh dữ dội của gió, của sóng; tiếng sóng ấy không đơn thuần là những con sóng thực ở ngoài biển khơi mà đó còn là con sóng lòng của tâm trạng. Điệp khúc “buồn trông”

ở những câu thơ trên kết đọng, dồn xuống câu thơ cuối khiến cho

1,0đ

nỗi buồn trở nên chồng chất như lớp lớp sóng trào. Đồng thời, tiếng sóng “ầm ầm” dữ dội ấy cũng chính hình ảnh ẩn dụ cho cuộc đời phong ba bão táp đã và đang đổ ập xuống đời Kiều. Vì thế lúc này Kiều không chỉ buồn mà còn lo lắng, sợ hãi như đang rơi vào vực thẳm một cách bất lực.

=>Tám câu thơ cuối, Nguyễn Du đã sử dụng thật tài tình bút pháp

“tả cảnh ngụ tình” của văn học cổ điển để diễn tả tâm trạng “tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này” của Kiều khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích. Ở đây, vì buồn nên trông, mà càng trông thì Kiều lại càng buồn. Nỗi buồn cứ thế điệp đi điệp lại dâng lên thành lớp lớp sóng trào, cứ cuộn xoáy trong tâm khảm của Kiều mà trở thành gánh nặng tâm tư. Mỗi câu thơ là một bức tranh thực cảnh cũng chính là thực tình của một con người mang trong mình nỗi buồn đau chồng chất. Đó là nỗi đau đớn, xót xa, lo lắng và khắc khoải của một kiếp má đào, trôi nổi, vô định, mong manh và bế tắc không biết đi về nơi đâu.

0,25đ

* Đánh giá chung:

- Trong đoạn trích Nguyễn Du đã thể hiện năng lực thấu hiểu con người của người nghệ sĩ tài hoa qua việc vận dụng linh hoạt các hình thức độc thoại nội tâm kết hợp với bút pháp tả cảnh ngụ tình, ngôn ngữ tài hoa, hệ thống từ láy, hình ảnh ước lệ cổ điền, các biện pháp tu từ điệp ngữ, câu hỏi tu từ, ẩn dụ, nhân hóa...

- Người nghệ sĩ ấy đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật Kiều với những nét tâm lí biến đổi tinh vi khi một mình phải bơ vơ nơi đất khách quê người, không biết phải bấu víu và nương tựa vào đâu. Từ đó làm sáng ngời vẻ đẹp hiếu thảo, thủy chung, ý thức về

danh dự phẩm hạnh và thân phận cô đơn hoảng sợ của Kiều trước một tương lai đầy cạm bẫy.

0,75đ

* Khẳng định lại vấn đề : Thành công trong việc miêu tả tâm lí

nhân vật là một phương diện để thể hiện tài năng của nhà văn, làm nên sức sống cho hình tượng nhân vật, cho tác phẩm văn học

- Liên hệ : Có lẽ Truyện Kiều sống mãi một phần bởi nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sâu sắc của Nguyễn Du. Nguyễn Du để lại cho muôn đời bài học về sự sáng tạo, về sự kết hợp tuyệt đẹp giữa

0,25đ

tài và tâm của người nghệ sĩ.

---Hết---

ĐỀ THI CHỌN ĐỘI TUYỂN HỌC SINH GIỎI TP THANH HÓA NĂM HỌC 2020- 2021

Môn thi: Ngữ văn Ngày thi: 10/2020 Thời gian làm bài: 150 phút

(Đề thi gồm 02 trang) I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)

Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi:

Cha viết cho con từ chính cuộc đời cha.

Những bài học một đời cay đắng.

Cha gửi cho con chút nắng. Hãy giữ giữa tim con.

Để khi con cất bước vào cuộc hành trình đầy gai và cạm bẫy.

Con sẽ bớt thấy đau và đỡ phải tủi hờn.

Đừng hơn thua làm gì với cuộc đời, con ạ.

Hãy để chị, để anh giành lấy phần họ muốn.

Con hãy thong dong dù là người đến muộn.

Dù phần con chẳng ai nhớ để dành!

Hãy hân hoan với điều nhân nghĩa.

Đừng hững hờ trước chuyện bất nhân.

Và hãy tin vào điều có thật:

Con người - sống để yêu thương.

(Trích Gửi con – Bùi Nguyễn Trường Kiên) Câu 1: (1.0 điểm) Xác định thể thơ của đoạn thơ trên.

Câu 2: 1.0 điểm) Từ “chút nắng” trong câu “Cha gửi cho con chút nắng” có nghĩa là gì?

Câu 3: (2.0 điểm) Xác định và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:

“Hãy hân hoan với điều nhân nghĩa.

Đừng hững hờ trước chuyện bất nhân.

Và hãy tin vào điều có thật:

Con người – sống để yêu thương”.

Câu 4:( 2.0 điểm) Em có đồng ý với cách nghĩ của người cha trong đoạn thơ trên không? Vì sao?

II. TẠO LẬP VĂN BẢN ( 14 điểm)

Câu 1: (4 điểm) Hãy lắng nghe những người lớn tuổi, nên nhớ rằng trước đây họ cũng trẻ và đã nếm trải những thất vọng của tuổi trẻ.

(L. Ettong, Danh ngôn giáo dục, NXB Thanh Niên) Ở lứa tuổi thiếu niên, em có đồng ý với lời khuyên trên không? Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày quan điểm của em về ý kiến trên.

Câu 2 ( 10 điểm)

“Trên trang sách, cuộc sống tuyệt vời biết bao nhưng cũng bi thảm biết bao. Cái đẹp còn trộn lẫn niềm sầu muộn. Cái nên thơ còn lóng lánh giọt nước mắt ở đời”.

(Theo Nguyễn Văn Thạc - Mãi mãi tuổi 20) Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Qua tác phẩm “Chuyện Người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ (SGK Ngữ văn 9 – tập I, NXBGD 2017) hãy làm sáng rõ ý kiến trên./.

---Hết---

HƯỚNG DẪN CHẤM THI CHỌN ĐỘI TUYỂN HSG NĂM HỌC 2020 – 2021

Môn thi: Ngữ văn ( Hướng dẫn chấm gồm 06 trang)

Phần Câu Nội dung Điểm

I. 1 Thể thơ tự do 1.0

2 “chút nắng” trong câu thơ “Cha gửi cho con chút nắng” có nghĩa là: ánh sáng, sự ấm áp hoặc: niềm tin, sự lạc quan, suy nghĩ tích cực…

1.0

3 Xác đinh được và nêu tác dung của phép tu từ sau:

điệp từ: hãy; tương phản: hân hoan - hững hờ; nhân nghĩa – bất nhân

Tác dung: Nhấn mạnh, tạo sự hài hòa cân đối cho lời thơ từ đó cho thấy sự mong muốn của người cha cũng là nghĩa vụ con phải thực hành để làm người: biết sống yêu thương không thờ ơ vô cảm.

2.0

4 Lựa chọn quan điểm đồng tình hoặc không đồng tình hoặc quan điểm riêng đúng chuẩn mực đạo đức, pháp luật 2.0

Sử dụng thao tác bình luận để khẳng đinh hoặc bác bỏ thuyết phuc .

Đồng tình: Cách sống nhường nhịn (Nêu lên được cái hay của cách sống này)

Không đồng tình: Cách sống này dẫn đến xu thế an phận không dám đấu tranh.

Quan điểm riêng … ( thuyết phục, GK linh loạt chấm )

II.

Câu 1

Hãy lắng nghe những người lớn tuổi, nên nhớ rằng trước đây họ cũng trẻ và đã nếm trải những thất vọng của tuổi trẻ. (L. Ettong, Danh ngôn giáo dục, NXB Thanh Niên). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày quan điểm về ý kiến trên.

(4.0đ)

a Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận.

Mở đoạn nêu được vấn đề, thân đoạn triển khai được vấn đề, kết đoạn kết luận được vấn đề.

0.25

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 0.25

c. Triển khai vấn đề nghị luận: Vận dụng tốt các thao tác lập luận;

kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; rút ra bài học nhận thức và hành động.

*Giải thích: Câu nói là lời khuyên về việc lắng nghe học hỏi, đón nhận ý kiến của những người nhiều tuổi hơn ta.Vì họ từng trải, đã có kinh nghiệm về những vấp ngã, thất bại trong cuộc sống.

*Phân tích – bàn luận:

- Qua sự trải nghiệm về những thử thách thất bại người lớn tuổi có nhiều kinh nghiệm sống vì thế họ cho ta những lời khuyên quý giá để thành công trong cuộc sống.

- Dẫn chứng:

+ Cha mẹ luôn lấy những thành công hay thất bại của của cuộc đời mình để làm bài học dạy con với hi vọng con không mắc sai lầm, không vấp ngã…

+Thầy cô là người chỉ vẽ, góp ý trang bị cho HS kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm tích lũy trong quá trình giảng dạy.

+ Tiếp thu, lắng nghe ý kiến của người đi trước một cách chọn lọc hợp lí đã khiến nhiều người thành công.

-Tuổi thiếu niên là lứa tuổi đang hình thành nhân cách còn nhiều hạn chế về kĩ năng, kinh nghiệm nên việc lắng nghe, trân trọng ý kiến người khác rất quan trọng giúp HS nhìn nhận, hoàn thiện bản thân.

- Phê phán những bạn còn non trẻ không chịu tiếp thu ý kiến của người đi trước bỏ ngoài tai những lời khuyên răn đẫn đến có những hành động và suy nghĩ tiêu cực, lệch lạc.

- Không lắng nghe thụ động, máy móc mà phải biết chọn lọc ý

0.5

0.5 0.5

0.5

0.2’5

Một phần của tài liệu 23 đề đáp án HSG văn 9 (Trang 84 - 93)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(138 trang)
w