CHƯƠNG 3. DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Mô tả dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu được chiết xuất từ nguồn ngân hàng Châu Á cho 7 quốc gia trong khối Aisian: Việt Nam, Lào, Campuchia, Malaysia, Thái Lan, Philippin, Indonesia trong giai đoạn 1996 đến 2011. Tổng số lượng quan sát là 112.
Các biến nghiên cứu chính của mô hình là thâm hụt ngân sách (budget deficit), thâm hụt thương mại (The current account deficit), lãi suất (interest per annual), tỷ giá (Average of period exchange), lạm phát (Iflation) . Các giá trị biến đổi của biến được thực hiện như sau:
1/ BUD: Tỷ số thâm hụt/ thặng dư ngân sách trên tổng GDP danh nghĩa. Lấy tổng thu ngân sách danh nghĩa (General Government Revenue) và tổng chi ngân sách danh nghĩa (General Government Expenditure) ta tính được thâm hụt/ thặng dư ngân sách danh nghĩa (Public budget deficit/ surplus). Lấy tỷ số giữa thâm hụt/
thặng dư ngân sách danh nghĩa với GDP danh nghĩa ta được tỷ số thâm hụt/ thặng dư ngân sách trên GDP. Đơn vị tính là phần trăm.
2/ CAD: Tỷ số thâm hụt/ thặng dư thương mại trên tổng GDP danh nghĩa.
Lấy tổng giá trị xuất khẩu danh nghĩa (Export) trừ tổng giá trị nhập khẩu danh nghĩa (Import) ta tính được thâm hụt/ thặng dư thương mại danh nghĩa (The current account balance). Lấy tỷ số giữa thâm hụt/ thặng dư thương mại danh nghĩa với GDP danh nghĩa ta được tỷ số thâm hụt/ thặng dư thương mại trên GDP. Đơn vị tính là phần trăm.
3/ IR: lãi suất 12 tháng qua các năm của các quốc gia. Đơn vị tính là phần trăm.
4/ lnEXC: Từ bộ dữ liệu của ngân hàng Châu Á, đề tài chọn tỷ giá danh nghĩa hàng năm (Exchange rate) là giá của 1USD tính bằng đồng nội tệ của các quốc gia qua các năm. Sau đó lấy logarit của tỷ giá trên.
5/IFL:tỷ lệ lạm phát của các quốc gia qua các năm. Đơn vị tính là phần trăm.
Thống kê mô tả cho các biến dữ liệu từ năm 1996 đến 2011 của 7 quốc gia ASEAN được xác định như sau:
Nguồn: ADB Theo số liệu thống kê của ngân hàng phát triển châu Á thì Indonexia là nước có GDP vao nhất trong khu vực và luôn tăng tưởng với tốc độ cao, tiếp đến là Thái Lan- một trong những con rồng Châu Á, tuy gặp phải những khó khăn về khủng hoảng kinh tế và bất ổn về chính trị nhưng Thái Lan luôn có những bước tiến đáng kể. Malaysia và Philipin, Việt Nam là các nước có GDP ở mức trung bình nhưng luôn có xu hướng
tăng cũng mang lại những tín hiệu khả quan trong tương lai. Lào và Cambodia là hai nước có GDP thấp nhất trong khu vực và chưa có đấu hiệu khởi sắc .
Nguồn: ADB Đồ thị 3.1 cho thấy phần lớn các nước đang phát triển trong khu vực Đông Nam Á có tình trạng thâm hụt cán cân thương mại từ năm 1996 đến 2011, tuy nhiên đa phần trong số đó có chiều hướng giảm thâm hụt thương mại điều này có thể coi là một tín hiệu đáng mừng nếu như giá trị xuất khẩu của các nước trên đang có chiều hướng gia tăng.
Đồ thị cũng cho thấy 3 nước Indonexia, Malaysia, Thai Lan phần lớn thời gian quan sát của nghiên cứu đều ở tình trạng thặng dư thương mại, điều này phù hợp với thực tế đây là các quốc gia có nền kinh tế khá phát triển đặc biệt về xuất khẩu hàng hoá thể hiện rất rõ ở giá trị xuất khẩu của 3 nước: đầu tiên là Thái Lan liên tục tăng từ 54,667 tỷ USD năm 1996 lên 225,336 tỷ USD năm 2011trong khi đó giá nhập khẩu có nhiều năm giảm, hoặc tăng không đáng kể từ 1997 đến 2003 cụ thể giá trị nhập
khẩu năm 1996 là 63,734 tỷ USD, năm 1998 giảm còn 36,579 tỷ USD, năm 2011 201,864 tỷ USD. Tiếp đến là Indonexia đây là nước có thặng dư thương mại khá cao so với các nước trong khu vực ở giai đoạn 1998 đến 2003, tuy nhiên giai đoạn sau lại có dấu hiệu đi xuống, lý do không phải do giá trị xuất khẩu giảm mà do GDP tăng nhưng tỷ trọng của xuất khẩu lại giảm. Tiếp đến là Malaysia đây là quốc gia đang dẫn đầu trong khu vực về thặng dư thương mại có được kết quả này là do đây là một nước có ngành công nghiệp phát triển khá mạnh mẽ, cung cấp một lượng hàng lớn cho khu vực và thế giới.
Tuy nhiên do ảnh hưởng của nền kinh tế toàn cầu những năm gần đây có những khó khăn đáng kể khiến cho ngành sản xuất nói riêng và nền kinh tế của các nước nói chung bị chậm lại thậm chí là giảm sút.
Nguồn: ADB
Dựa vào đồ thị 3.2 có thể thấy hầu hết 7 quốc gia đều nằm trong tình trạng thâm hụt ngân sách từ năm 1997 đến 2011 hoặc có cân bằng hay thặng dư cũng chỉ là tạm
thời và mức thâm hụt dao động trong khoảng từ 0- 6%. Đồ thị còn cho thấy tỷ lệ thâm hụt trên tổng GDP của các nước biến động liên tục qua các năm. Điển hình là Thái Lan một nước có mức thặng dư ngân sách cao nhất trong 7 nước: 2,5% vào năm 1996 tuy nhiên 3 năm tiếp theo cấn cân ngân sách liên tục giảm và bị thâm hụt khá cao 10% vào năm 1999 đây là thời điểm có những bất ổn lớn trong chính trị của Thái Lan. Nguyên nhân gây ra thâm hụt ngân sách có thể do nợ công và bội chi ngân sách.
Nguồn: ADB
Đồ thị 3.3 cho thấy lãi suất danh nghĩa/ năm của 7 nước trong khu vực có sự khác biệt tương đối lớn và có sự biến động trong thời gian nghiên cứu. Điển hình là lãi suất của Indonexia, đây là nước có lãi suất tương đối cao trong khu vực và có sự biến động mạnh mẽ không ngừng thể hiện ở năm 1996 là 17%, năm 1998 tăng vọt lên 28% nguyên nhân do khủng hoảng kinh tế Châu Á diễn ra từ giữa năm 1997 đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến quốc gia này dẫn đến bất ổn về kinh tế, chính trị: bạo loạn
xảy ra ở khắp nơi, GDP giảm mạnh tới 13%, kinh tế Indonexia dường như đã đụng đáy, tuy nhiên cũng trong hoàn cảnh khó khăn đó người dân Indonexia nói chung và tầng lớp lãnh đạo nói riêng đã chung sức quyết tâm vực dậy nền kinh tế, khủng hoảng kinh tế từng bước được khắc phục và lãi suất giảm dần và giữ được mức ổn định dưới 10%. Cũng bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế Châu Á năm 1997 tuy nhiên lãi suất của các nước còn lại chỉ biến động trong biên độ thấp sau đó giữ được mức ổn định như ban đầu. Sẽ là sơ xuất nếu không nói tới Việt Nam, năm 2008 Việt Nam đối mặt với tỷ lệ lạm phát cao, lãi suất không kỳ hạn có lúc lên tới 22%, sau đó dần bình ổn ở mức 14%/năm, đến hiện tại thì mức lãi suất giảm còn 6%/năm, tuy nhiên lãi suất Việt Nam vẫn ở mức cao.
Nguồn: ADB
Nguồn: ADB
Bảng 3.1: Thống kê mô tả các biến dữ liệu.
Variables Mean Std. Dev Min Max Obs
CAD Overall -.46125 11.95437 -19.88 28.61 N=112 Between 11.75572 -13.26562 19.3325 n=7
Within 4.835821 -16.14375 10.005 T=16
BUD Overall -2.5637 2.149634 -9.57 2.35 N=112
Between .9309798 -3.77 -1.045 n=7
Within 1.967569 -9.63116 3.428214 T=16
IR Overall 6.74348 4.743825 .83 28.29 N=112 Between 3.886569 1.575625 13.08688 n=7
Within 3.072414 .716607 21.94661 T=16
IFL Overall 8.37292 15.54952 -1.6136 128.4 N=112
Between 6.986758 2.575 22.56562 n=7
Within 14.12691 -14.1527 114.2073 T=16
LNEXC Overall 6.32393 3.134181 .92 9.93 N=112
Between 3.349382 1.248125 9.628125 n=7
Within .3474544 4.367678 6.807679 T=16
Bảng 3.2: Kiểm định tính dừng với hằng số không xu hướng.
Variables P-Value N T
CAD Inverse chi-squared(14) P 17.1050 0.2506 7 16 Inverse normal Z 0.9351 0.1749 7 16 Inverse logit t(39) L* -0.9078 0.1848 7 16 Modified inv. chi-squared Pm 0.5868 0.2787 7 16 BUD Inverse chi-squared(14) P 20.9286 0.1035 7 16 Inverse normal Z -1.6347 0.0511 7 16 Inverse logit t(39) L* -1.6045 0.0583 7 16 Modified inv. chi-squared Pm 1.3094 0.0952 7 16
Tóm lại thông qua các số liệu phân tích về mức thâm hụt/ thặng dư ngân sách, thâm hụt/thặng dư thương mại, lãi suất, tỷ giá hối đoái, lạm phát của từng quốc gia ta có thể rút ra kết luận về đặc điểm kinh tế của các quốc gia như sau:
Giá trị xuất nhập khẩu trên tổng thu nhập quốc dân GDP của các nước có sự khác biệt khá lớn thể hiện bằng tỷ lệ thâm hụt/ thặng dư thương mại trên tổng GDP chênh lệch khá cao.
Hầu hết các nước đều bị thâm hụt ngân sách và mức độ thâm hụt ngân sách trên tổng GDP có xu hướng hội tụ, giảm dần kể từ năm 2010, nghĩa là chính phủ các quốc gia đang nỗ lực giảm bội chi ngân sách thu hẹp thâm hụt ở mức 3-4%.
Lãi suất danh nghĩa ở các có chênh lệch, ở từng nước hầu hết đều có mức lãi suất biến động ổn định, cá biệt chỉ có Indonexia và Việt Nam là có những biến động lớn.
IR Inverse chi-squared(14) P 28.3960 0.0126 7 16 Inverse normal Z 1.9702 0.0244 7 16 Inverse logit t(39) L* -2.0496 0.0236 7 16 Modified inv. chi-squared Pm 2.7206 0.0033 7 16 IFL Inverse chi-squared(14) P 62.8469 0.0000 7 16 Inverse normal Z 3.6980 0.0001 7 16 Inverse logit t(39) L* -5.8562 0.0000 7 16 Modified inv. chi-squared Pm 9.2312 0.0000 7 16 LNEXC Inverse chi-squared(14) P 24.4729 0.0401 7 16 Inverse normal Z 0.7336 0.7684 7 16 Inverse logit t(39) L* 0.9080 0.8153 7 16 Modified inv. chi-squared Pm 1.9792 0.0239 7 16
Tỷ giá danh nghĩa (giá 1USD tính bằng đồng nội tệ) của từng nước khác biệt rõ rệt, do mỗi nước có một đồng tiền khác nhau và có sức mua ngang giá khác nhau, tuy nhiên nhìn chung tỷ giá có xu tăng nhẹ và ổn định trong thời gian nghiên cứu.
Về lạm phát trong những năm 1998, 1999 Lào và Indonexia là 2 nước có tỷ lệ lạm phát cao nhất, Lào đã đạt đến mức lạm phát phi mã năm 1999, còn Indonexia cũng ở trong tình trạng siêu lạm phát. Tuy nhiên từ năm 2000 trở đi tất cả 7 nước trong khu vực đã giữ được tỷ lệ lạm phát đồng đều và ổn định ở mức -1.4 đến 15% trong thời gian nghiên cứu còn lại.