Một số nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa thâm hụt tài khóa và thâm hụt thương mại

Một phần của tài liệu LỜI mở đầu (Trang 23 - 30)

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH VÀ THÂM HỤT THƯƠNG MẠI

1.5. Một số nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa thâm hụt tài khóa và thâm hụt thương mại

Mối quan hệ giữa cán cân thương mại và cán cân tài khóa là một vấn đề gây nhiều tranh cãi. Các nhà kinh tế ở cả hai trường phái của các tranh luận có các lý lẽ mạnh

được hỗ trợ bởi nhiều phương pháp luận kinh tế lượng và nhiều nghiên cứu thực nghiệm. Theo nghiên cứu của nhóm tác giả thuộc nhóm ngành khoa học kinh tế trường Đại học kinh tế TP.HCM thực hiện năm 2011 đã xem xét mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại tại Việt Nam từ năm 1985 đến năm 2010, trong bài nghiên cứu tác giả đã sử dụng hai công cụ phân tích là kiểm định nhân quả Granger và kiểm định đồng liên kết với hai biến là thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại, trong thời gian nghiên cứu tác giả cũng đề xuất chia làm 3 giai đoạn nghiên cứu. Ở giai đoạn thứ nhất (1985-1995) kết quả ủng hộ lý thuyết thâm hụt kép, theo đó thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại di chuyển cùng chiều, thâm hụt kép tồn tại trong suốt khoảng thời gian này với hệ số tương quan là 33,58%- một hệ số tương quan khá lớn thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng trên. Trong giai đoạn thứ 2 (1996-2003) nhóm tác giả nhận thấy có một tác động trái chiều giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại, tài khoản vãng lai được cải thiện đáng kể thì cán cân ngân sách có xu hướng xấu đi. Hệ số tương quan trong trường hợp này là -4,25% tuy mối tương quan không thực sự lớn nhưng cũng góp phần ủng hộ cho lý thuyết bộ đôi đối nghịch. Trong giai đoạn cuối (2004 – 2010) một lần nữa lý thuyết thâm hụt kép được ủng hộ thể hiện rõ ở hệ số tương quan khá cao 42,68%.

Jeffrey A. Rosensweig (1993) đã kiểm tra mối quan hệ giữa thâm hụt tài khóa Hoa Kỳ, tỷ giá hối đoái, và cán cân thương mại. Bằng cách sử dụng hệ thống VAR 5 biến: thâm hụt ngân sách, thâm hụt thương mại, tỷ giá hối đoái,… , các kết quả cho thấy bằng chứng là sự gia tăng thâm hụt chính phủ làm tăng giá trị đồng dollar, và ủng hộ khái niệm “thâm hụt kép”, thâm hụt ngân sách góp phần làm thâm hụt thương mại vào những năm 1980. Vì thế, chính sách tài khóa có vai trò đáng kể trong việc điều chỉnh cán cân thương mại Hoa Kỳ. Tương tự, Vamvoukas (1997) sử dụng phân tích đồng liên kết, mô hình hiệu chỉnh sai số và nhân quả Granger để đánh giá tính hơp lý của cả giả thuyết TDH và REH cho nền kinh tế Hy Lạp và phát hiện ra mối quan hệ một chiều từ thâm hụt ngân sách lên thâm hụt thương mại, và

bằng chứng của mô hình hiệu chỉnh sai số ủng hộ mạnh mẽ hàm ý của giả thuyết TDH trong ngắn hạn và dài hạn.

Thêm vào đó, Normandin (1999) kiểm tra giả thuyết TDH bằng cách đo lường sự phản ứng của thâm hụt thương mại đối với sự thay đổi trong thâm hụt ngân sách tạo bởi mô hình giao cắt giữa các thế hệ của Blanchard. Tác giả phát hiện rằng, bằng cách sử dụng phương pháp ước lượng moment (GMM), kiểm định nghiệm đơn vị, và các kiểm định đồng liên kết cho các nền kinh tế Canada và Hoa Kỳ, tình trạng dai dẳng của thâm hụt ngân sách tạo nên tác động có ý nghĩa thống kê và dương lên thâm hụt thương mại. Điều này khẳng định rằng giả thuyết REH bị bác bỏ. Tương tự, Khalid and Guan (1999) sử dụng phân tích đồng liên kết để xác định mối quan hệ nhân quả giữa thâm hụt thương mại và thâm hụt ngân sách và hướng của nó bằng cách dùng một mẫu chuỗi dữ liệu hàng năm từ 5 quốc gia phát triển và 5 quốc gia đang phát triển. Các kết quả kiểm định đồng liên kết có vẻ là một sự phù hợp cao giữa thâm hụt kép trong dài hạn dường như xảy ra ở các nước đang phát triển hơn là ở các nước phát triển. Các kết quả kiểm định nhân quả Granger ủng hộ sự hiện diện của mối quan hệ nhân quả giữa thâm hụt thương mại và thâm hụt ngân sách theo hướng hỗn hợp cho các nước đang phát triển. Bằng chứng đề nghị là thâm hụt thương mại gây nên thâm hụt ngân sách cho Indonesia và Pakistan trong khi ở Ai Cập và Mexico thì ngược lại. Dữ liệu không ủng hộ bất kỳ mối quan hệ nhân quả nào cho Vương Quốc Anh và Úc và ủng hộ yếu cho quan hệ nhân quả hai chiều ở Canada và Ấn Độ.

Tương tự vậy, Piersanti (2000) sử dụng mô hình cân bằng tối ưu để chỉ ra mối quan hệ theo lý thuyết giữa thâm hụt tài khóa và thâm hụt thương mại cho các nước OECD. Nghiên cứu thực nghiệm của ông ta, bằng cách dùng một phương trình kinh tế lượng dựa trên các mô hình mong đợi, ủng hộ mạnh mẽ quan điểm cho rằng thâm hụt thương mại gắn liền với thâm hụt ngân sách tương lai mong đợi suốt giai đoạn 1970 – 1997. Ngoài ra, các kết quả thực nghiệm về kiểm tra mối quan hệ của hai thâm hụt này bằng cách kiểm định tính phi nhân quả Granger khởi đầu được phát triển bởi Toda và Phillips (1993) cho mẫu dữ liệu của hai mươi quốc gia phát triển

và đang phát triển, cho thấy bằng chứng mạnh về mối quan hệ (một chiều hay hai chiều) giữa thâm hụt kép cho các nước đang phát triển, nhưng các kết quả ít thuyết phục hơn cho các nước phát triển: mối quan hệ nhân quả một chiều từ thâm hụt ngân sách đến thâm hụt thương mại cho Isreal, mối quan hệ nhân quả một chiều từ thâm hụt thương mại đến thâm hụt ngân sách cho Hàn Quốc và quan hệ phản hồi giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại cho Thái Lan (Kouassi et al., 2004).

Ngoài ra, Saleh et al. (2005) ủng hộ giả thuyết TDH rằng có một quan hệ dài hạn giữa mất cân bằng thương mại và thâm hụt ngân sách cho Sri Lanka suốt giai đoạn từ 1970 đến 2003 bằng cách sử dụng mô hình tự hồi qui có độ trễ (ARDL). Các kết quả thực nghiệm của họ cũng chỉ ra hướng của quan hệ nhân quả đi từ thâm hụt ngân sách đến thâm hụt thương mại. Gần đây hơn, Baharumshah et al.(2006) đã kiểm tra giả thuyết TDH ở các nước Asian và phát hiện là có một mối quan hệ dài hạn giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại. Ngược lại với Kouassi et al.

(2004), giả thuyết TDH thích hợp cho Thái Lan vì tính nhân quả đi từ thâm hụt ngân sách đến thương mại. Với Indonesia, quan hệ nhân quả theo hướng ngược lại trong khi các kết quả thực nghiệm chỉ ra kiểu quan hệ nhân quả hai chiều hiện diện cho Malaysia và Phillipines. Họ cũng phát hiện mối quan hệ nhân quả gián tiếp đi từ thâm hụt ngân sách đến lãi suất cao hơn, và lãi suất cao hơn đưa đến tăng giá của tỷ giá hối đoái, đến lượt nó đưa đến sự mở rộng của thâm hụt thương mại.

Về phía khác của tranh luận, Kearney và Monadjemi (1990) sử dụng phân tích VAR cho dữ liệu quí từ tám quốc gia trong giai đoạn tỷ giá hối đoái thả nổi 1972:i – 1987:iv để nghiên cứu mối quan hệ giữa các cân tài khóa và thương mại. Kết quả của họ nhất quán với một mối quan hệ thâm hụt kép ngắn ngủi bất biến với quyết định tài trợ của chính phủ và không lâu dài theo thời gian. Cũng vậy Mohammadi (2004) sử dụng mô hình kinh tế vĩ mô mở để kiểm tra tác động của chính sách tài khóa lên cán cân thương mại. Mô hình của ông ta chỉ ra hai kết quả: trước tiên một sự sụt giảm trong thặng dư tài khóa không có tác động xấu lên cán cân thương mại;

thứ hai, sự gia tăng trong chi tiêu chính phủ tài trợ bằng trái phiếu tạo ra một tác động xấu lên cán cân thương mại lớn hơn giải pháp tài trợ bằng thuế.

Tương tự, Erceg et al. (2005) kiểm tra tác động của hai giải pháp cú sốc tài khóa:

một sự gia tăng chi tiêu chính phủ, và một sự sụt giảm trong tỷ suất thuế thu nhập cá nhân bằng cách sử dụng dữ liệu Hoa Kỳ. Họ khẳng định rằng thâm hụt tài khóa có một tác động tương đối nhỏ lên cán cân thương mại Hoa Kỳ, bất chấp nguyên do là gia tăng chi tiêu hay cắt giảm thuế. Họ kết luận là một sự gia tăng trong thâm hụt tài khóa 1% GDP khiến cho cán cân thương mại xấu đi chỉ 0.2% GDP hay thấp hơn.

Tương tự, Marinheiro (2008) kiểm tra tính hợp lý của giả thuyết TDH cho Ai Cập.

Ông ta kết luận là có sự hiện diện một mối quan hệ yếu trong dài hạn giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt cán cân vãng lai, bác bỏ giả thuyết TDH. Ông ta cũng tìm thấy bằng chứng theo hướng một quan hệ nhân quả Granger nghịch đi từ thâm hụt thương mại đến thâm hụt ngân sách và bằng chứng hiện diện theo hướng cấp độ lưu thông vốn cao.

Tan Jui Siang (2010) phân tích mối quan hệ nhân quả và kiểm định đồng liên kết giữa BUD và CAD ở các nước nằm trong tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) và các nước ở Châu Á kết quả cho thấy, đầu tiên trong nghiên cứu nhóm tác giả xem xét 4 biến CAD, BUD, tỷ giá hối đoái và lãi suất, kết quả kiểm định unit root test đều cho thấy 4 nghiệm này đều dừng ở sai phân bậc 1. Thứ hai tác giả kiểm định tính đồng liên kết giữa các biến, kết quả cho thấy rằng ở một số nước các biến có mối quan hệ dịch chuyển cùng nhau trong dài hạn, còn ở các một số nước khác thì không. Thứ ba, mối quan hệ nhân quả giữa BUD và CAD ở các nước OECD và các nước châu Á đều không rõ ràng trong ngắn hạn. Trong dài hạn cả lãi suất và tỷ giá hối đoái đều ảnh hưởng lên BUD và CAD

Gần đây, Kim and Roubini (2008), cũng bằng phân tích mô hình VAR, nghiên cứu về mặt thực nghiệm các tác động của chính sách tài khóa (đặc trưng bằng các cú sốc thâm hụt ngân sách chính phủ) lên thương mại và tỷ giá hối đoái thực ở Mỹ suốt giai đoạn cơ chế tỷ giá hối đoái linh hoạt. Ngược lại với các dự đoán của hầu hết

các mô hình lý thuyết, các kết quả của họ đề nghị là một cú sốc mở rộng chính sách tài khóa, hay cú sốc thâm hụt ngân sách chính phủ, cải thiện cán cân vãng lai và làm giảm tỷ giá hối đoái thực. Do đó, “thâm hụt đối nghịch”thay vì “thâm hụt kép” của các cán cân tài khóa và thương mại được phát hiện, được lý giải bằng sự xuất hiện của các cú sốc sản lượng chiếm ưu thế lên các cú sốc tài khóa và có vẻ điều khiển sự đồng dịch chuyển của các cán cân thương mại và tài khóa. Ngoài ra, phân tích thực nghiệm chỉ ra rằng sự cải thiện thương mại có kết quả từ đặc tính Ricardo riêng phần của tiết kiệm tư nhân (đó là tiết kiệm tư nhân gia tăng) và sự sụt giảm trong đầu tư (hiệu ứng chèn lấn là do sự gia tăng của lãi suất thực) trong khi sự sụt giảm tỷ giá hối đoái thực là kết quả chính của sự sụt giảm tỷ giá hối đoái danh nghĩa.

Tóm lại, các công trình lý thuyết về tương quan giữa sự thay đổi trong các thành phần của chính sách tài khóa và cán cân thương mại được dựa trên hai loại lý thuyết cạnh tranh. Một, giả thuyết REH, rút ra được các quan hệ kinh tế vĩ mô quan trọng từ các nền tảng kinh tế vi mô của cá nhân về tối ưu hóa lợi ích. Lý thuyết thứ hai là giả thuyết TDH, sử dụng các mô hình kinh tế vĩ mô được xây dựng dưới dạng các mối quan hệ đặc tính, mô tả các thức nền kinh tế vận hành dưới dạng tổng thể, bỏ qua các đặc tính riêng của các thành phần cấu thành nền kinh tế. Rõ ràng không có sự thống nhất liên quan đến mối quan hệ giữa chính sách tài khóa và thương mại.

Một vài người cho rằng sự mở rộng tài khóa dài hạn góp phần vào sự mất cân bằng thương mại, chẳng hạn Parikh và Rao (2006), Mollick (1999) và Kasa (1994) và những người khác ủng hộ một mối quan hệ yếu giữa thâm hụt tài khóa và thâm hụt thương mại như là Kearney và Monadjemi (1990), và Kim và Roubini (2008).

Theo những lý thuyết trên của các nhà kinh tế học thì chúng ta có thể kết luận mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại thể hiện qua 4 mối quan hệ phù hợp từng quốc gia khác nhau, giai đoạn nghiên cứu khác nhau như sau:

Thứ nhất: Thâm hụt ngân sách dẫn tới thâm hụt thương mại: Thâm hụt kép.

Thứ hai: Thâm hụt ngân sách cải thiện thâm hụt thương mại: Bộ đôi đối nghịch.

Thứ ba: Thâm hụt ngân sách không tác động tới thâm hụt thương mại: Cân bằng Ricardian.

Thứ tư: Thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại có tác động hai chiều.

Vậy đối với 7 nước đang phát triển trong khu vực Đông Nam Á thì mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại thực chất là gì chúng ta sẽ tìm ra câu trả lời trong các chương tiếp theo.

Một phần của tài liệu LỜI mở đầu (Trang 23 - 30)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(58 trang)