Chế độ bản vị vàng

Một phần của tài liệu Bài giảng tài chính quốc tế (Trang 26 - 29)

Chương II: Hệ thống tiền tệ quốc tế và các tổ chức tài chính quốc tế

2.1. Hệ thống tiền tệ quốc tế

2.1.1. Chế độ bản vị vàng

- Không ngạc nhiên khi vàng là kim loại được ưa chuộng vào bậc nhất bởi vì những đặc tính của nó đáp ứng được những yêu cầu mà một đồng tiền hàng hóa (commodity money) cần phải có: sự khan hiếm,tính bền, có thể chuyên chở, dễ dàng phân chia, đồng chất, chất lượng được duy trì lâu bền. Sự chấp nhận vàng như là tiền còn được củng cố hơn từ thực tế đó là kim loại này được thừa nhận rộng rãi là có giá trị sử dụng phi tiền tệ trong các ngành công nghiệp và trang sức. Hơn nữa giá trị của vàng được ổn định tương đối so với giá các hàng hóa khác. Mặc khác, chất lượng của cúng có thể được kiểm tra một cách chính xác và được các chuyên gia (thợ vàng) xác nhận.

- Mặc dù nước Anh hoạt động dưới chế độ bản vị vàng trong suốt thế kỉ XIX nhưng nhìn chung chế độ này vẫn chưa được áp dụng phổ biến cho tới những năm 1870. Hầu hết các nước Châu Âu, mà dẫn đầu là Đức, đã chuyển sang chế độ bản vị vàng trong thập niên 1870, và tiếp sau là Mỹ vào năm 1879. Năm 1880, bản vị vàng từ một số ít quốc gia đã phát triển thành Hệ thống tiền tệ quốc tế với hầu hết các nước áp dụng. Khi bùng nổ chiến tranh thế giới thứ nhất 1914, bàn vị vàng bị bỏ rơi; và trong hơn 30 năm kể từ 1880 tới 1914, hệ thống bản vị vàng quốc tế đã thống trị ở hầu khắp các nước, nó đã liên kết chặt chẽ các quốc gia lớn với nhau và cũng như giữa các nước thống trị và các nước thuộc địa trong suốt thời gian này.

- Các đặc điểm cơ bản trong hoạt động của chế độ bản vị vàng:

- Dưới chế độ bản vị vàng, các quốc gia ấn định cố định giá trị đồng tiền của mình với vàng, hay nói cách khác, chính phủ ấn định cố định giá vàng tính bằng

19 đồng tiền quốc gia, đồng thời sẵn sàng không hạn chế mua bán vàng tại mức giá đã quy định.

Ví dụ: Ở Mỹ, chính phủ quy định giá 1 ounce vàng nguyên chất là 20.67 USD, ở Anh là 4.24 GBP

Bản vị vàng giữa 2 đồng tiền trở thành tỷ lệ trao đổi giữa chúng, tức là tỷ giá hối đoái

Ví dụ: Trong trường hợp trên, tỷ giá giữa GBP/USD = 20.67/4.24 = 4.87. Tức 1 GBP tương đương 4.87 USD. Tỷ giá này được duy trì từ 1880 tới 1914

- Dưới chế độ bản vị vàng, xuất khẩu và nhập khẩu vàng giữa các quốc gia được tự do hoạt động. Do vàng được chu chuyển tự do giữa các quốc gia nên tỷ giá trao đổi thực tế trên thị trường tự do không biến động đáng kể so với bản vị vàng.

Ví dụ: Tỷ giá thị trường giữa GBP và USD là 5.00, có lệch đáng kể so với bản vị vàng là 4.87 USD/GBP. Tuy nhiên, tỷ giá này không duy trì được lâu, bởi hoạt động của các nhà kinh doanh chênh lệch giá. Cụ thể:

+ Tại Mỹ: dùng 20.67 USD mua 1 ounce vàng

+ Chuyển 1 ounce vàng sang Anh để đổi lấy 4.24 GBP + Bán 4.24 GBP theo tỷ giá thị trường, thu về 21.2 USD + Lãi thu được là: 0.53 USD / 1 ounce vàng.

Cơ chế này sẽ làm cho dư cung GBP và dư cầu USD (nhà đầu tư cần USD để mua vàng và bán GBP lấy USD), khiến tỷ giá giảm xuống sát với bản vị của nó.

Trong thực tế, do tồn tại chi phí vận chuyển và chi phí giao dịch nên tỷ giá thị trường và bản vị vàng của các đồng tiền có thể tồn tại một độ chênh lệch nhất định.

- Dưới chế độ bản vị vàng, NHTW luôn phải duy trì một lượng vàng dự trữ trong mối quan hệ trực tiếp với số tiền phát hành. Số vàng dự trữ này cho phép NHTW xử lý uyển chuyển việc chuyển đổi tiền ra vàng mà không gặp bất cứ trở ngại nào. Nói cách khác, tiền do NHTW phát hành được đảm bảo bằng vàng 100%

và tiền được chuyển đổi tự do không hạn chế ra vàng. Để duy trì được điều này, NHTW phải tuân thủ kỉ luật: “chỉ phát hành tiền khi có luồng vàng từ công chúng chảy vào NHTW”. Điều này đã làm hạn chế sự năng động của NHTW trong việc điều tiết lượng tiền lưu thông.

20 - Ưu điểm của chế độ bản vị vàng:

+ Đồng tiền được đảm bảo sức mua bằng 1 hàm lượng vàng cố định, số lượng tiền phát hành và lưu thông căn cứ vào khối lượng vàng dự trữ trong ngân khố quốc gia nên sức mua của đồng tiền cũng ổn định.

+ Tỷ giá biến động trong phạm vi nhỏ do vàng được tự do xuất nhập khẩu giữa các quốc gia (giới hạn bởi chi phí vận chuyển, chi phí giao dịch). Do đó quan hệ mua bán được tự do hoá.

- Nhược điểm của chế độ bản vị vàng:

+ Cơ chế điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế thông qua sự thay đổi mức giá cả, lãi suất, thu nhập và thất nghiệp. Nghĩa là nền kinh tế thường xuyên phải trải qua sự bất ổn định. Quốc gia có thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế phải trải qua thời kì kinh tế đình đốn, thất nghiệp tăng cao, quốc gia thặng dư thì trải qua thời kì làm phát.

+ Những phát hiện về các mỏ vàng có thể xuất hiện bất cứ lúc nào và là nguyên nhân làm tăng cung ứng tiền và tăng tỷ lệ lạm phát một cách đột biến. Ở những quốc gia khan hiếm vàng thì cung ứng tiền sẽ bị hạn chế và là nguyên nhân gây kìm hãm tăng trưởng kinh tế.

Tóm lại, hoạt động kinh tế vĩ mô dưới chế độ bản vị vàng có những đặc trưng:

1. Tồn lại luồng vàng ròng chảy từ quốc gia thâm hụt tới quốc gia có thặng dư cán cân thanh toán

2. Cung ứng tiền tăng ở quốc gia có thặng dư cán cân thanh toán sẽ tạo ra các hiệu ứng sau:

- Tạo áp lực tăng giá

- Lãi suất có xu hướng giảm

- Tăng nhập khẩu từ quốc gia có thâm hụt cán cân thanh toán

3. Cung tiền giảm ở quốc gia có thâm hụt cán cân than toán sẽ tạo ra các hiệu ứng sau:

- Tạo áp lực tăng giá - Lãi suất có xu hướng tăng

- Giảm nhập khẩu từ quốc gia có thặng dư cán cân thanh toán

21 4. Quá trình này diễn ra thường xuyên liên tục, cho đến khi cán cân thanh toán của các quốc gia đạt đến được trạng thái cân bằng.

Do có nhiều hạn chế cộng với việc bùng nổ chiến tranh thế giới thứ I khiến các quốc gia ngừng chuyển đổi tiền ra vàng nên chế độ bản vị vàng dần dần sụp đổ. Đến năm 1944, chế độ bản vị vàng chính thức chấm dứt và được thay thế bằng chế độ bản vị USD

Một phần của tài liệu Bài giảng tài chính quốc tế (Trang 26 - 29)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(157 trang)