Chế độ bản vị USD

Một phần của tài liệu Bài giảng tài chính quốc tế (Trang 29 - 32)

Chương II: Hệ thống tiền tệ quốc tế và các tổ chức tài chính quốc tế

2.1. Hệ thống tiền tệ quốc tế

2.1.2. Chế độ bản vị USD

Chế độ bản vị USD đời vào năm 1944 và kết thúc vào năm 1971

Vào năm 1944, một hội nghị quốc tế được nhóm họp tại Bretton Woods (Mỹ) với sự tham gia của 44 quốc gia đã đưa ra một loạt các biện pháp liên quan đến lĩnh vực tài chính tiền tệ của thế giới, dân đến sự hình thành của hệ thống Bretton Woods (hay chế độ bản vị USD). Cơ quan trung tâm của hệ thống tiền tệ này là Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF).

Nội dung chủ yếu của hệ thống Bretton Woods

- Một là, chế độ tiền tệ BWS đã thừa nhận USD là đồng tiền chuẩn, làm trụ cột cho chế độ tiền tệ này. Nó được coi là phương tiện dự trữ và thanh toán quốc tế, đóng vai trò chủ chốt trong các quan hệ tiền tệ, thanh toán và tín dụng quốc tế.

- Hai là, việc sử dụng USD trong thanh toán quốc tế về ngoại thương và các quan hệ đối ngoại khác không hạn chế, các đồng tiền nước khác phải liên hệ chặt chẽ với USD theo chế độ tỷ giá cố định. Theo đó, các thành viên phải chấp nhận những điều kiện sau đây:

+ Phải xác định và công bố cho IMF tiêu chuẩn giá cả (nội dung vàng) của đồng tiền nước mình

+ Không được tự ý tăng, giảm nội dung vàng của đồng tiền nước mình vượt quá mức ± 1% nếu không được IMF cho phép.

+ NHTW của các nước thành viên IMF phải can thiệp vào thị trường để giữ cho tỷ giá hối đoái thị trường không biến động vượt ra ngoài biên độ ±1% do với đồng giá vàng.

22 Vì vậy, để duy trì tỷ giá cố định của USD so với đồng tiền các nước, NHTW của các nước thành viên cũng phải can thiệp vào thị trường vàng để giữ giá vàng chính thức luôn ở mức 35 USD/1 ounce vàng.

Ba là, các nước phải thực hiện ngay các biện pháp thiêt thực để loại trừ chế độ kiểm soát và chế độ quản lí ngoại hối, đồng thời thiết lập chế độ tiền tệ tự do chuyển đổi nhằm tạo những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các quan hệ thương mại và các quan hệ đối ngoại khác giữa các nước với nhau.

Quá trình hoạt động trên thực tế: Thời gian tồn tại của chế độ bản vị USD có thể chia thành hai giai đoạn: Giai đoạn đói Đôla (1944 - 1958) và giai đoạn bội thực Đôla (1959 - 1971).

Trong giai đoạn đầu, dự trữ vàng của Mỹ rất lớn do thu lời từ buôn bán vũ khí trong hai cuộc chiến tranh thế giới. Lúc này, đồng Đôla Mỹ được coi là đồng tiền chủ chốt và Mỹ có nghĩa vụ đổi Đôla ra vàng với mức giá 35$/1ounce vàng cho các ngân hàng trung ương một cách không hạn chế. Vào thời gian này, Mỹ cũng tiến hành các hoạt động hỗ trợ tín dụng cho các nước châu Âu nhằm giúp các nước khôi phục kinh tế và mở rộng sự xâm nhập của USD trên thế giới, dẫn đến việc cán cân thanh toán của Mỹ rơi vào tình trạng thâm hụt thường xuyên. IMF cũng không thực hiện được những chức năng của mình một cách có hiệu quả. Cho đến những năm 60, dự trữ USD của nước ngoài đã có giá trị ngang bằng với trữu lượng vàng của Mỹ và đến năm 70 là gấp 4 lần. Người ta đã phát hiện ra rằng dự trữ vàng của Mỹ đã nhỏ hơn tài sản nợ bằng USD, nên các nước đều có tâm lí đổi USD thành vàng để làm dự trữ quốc gia. Hiện tượng này khiến cho dự trữ vàng của Mỹ giảm đi nhanh chóng. Mỹ không còn đủ vàng cho việc chuyển đổi theo mức giá cũ nữa, buộc phải phá giá đồng USD từ 35$/1 ounce lên 38$/1 ounce và tiếp tục cho tới khi đạt gần 47$/1 ounce. Sau các lần phá giá đồng USD, đến ngày 15 tháng 8 năm 1971, tổng thống Mỹ - Nickson tuyên bố đóng cửa kho vàng của Mỹ, không cho phép đổi USD ra vàng nữa. Chế độ bản vị USD sụp đổ.

- Ưu điểm của hệ thống Bretton Woods + Mang lại sự ổn định về tỷ giá

+ Loại bỏ được sự bất ổn đối với các giao dịch buôn bán và đầu tư quốc tế

23 + Thúc đẩy kinh tế phát triển và đem lại lợi ích cho các nước thành viên - Nhược điểm của hệ thống Bretton Woods

+ Chính phủ các nước hầu hết đều không muốn gắn liền chính sách tiền tệ của mình với việc duy trì sức mua đồng tiền như cam kết, điều này dẫn đến sự khủng hoảng tỷ giá

2.1.3 Chế độ bản vị SRD (Special Drawing Right)

Là sáng kiến của tổ chức IMF vào năm 1970 và chính thức ra đời năm 1974.

SDR giúp các nước hội viên của IMF có thêm một phương tiện thanh toán quốc tế mà không cần dùng đến dự trữ vàng hay ngoại hối.

Nội dung chủ yếu của chế độ bản vị SDR: SDR không phải là tiền mặt mà thực chất là sổ kế toán ghi các khoản nợ có của mỗi hội viên. 1 SDR = 1 USD (0.888671 g vàng) nhưng chỉ tồn tại trên sổ sách. Cứ 5 năm, IMF lại nhóm họp 1 lần để quyết định phần trăm đóng góp quỹ của các nước hội viên. (Việt Nam đã là thành viên của IMF từ 21/9/1956). Mỗi thành viên đều được phân bổ một số lượng SDR nhất định và tỷ lệ thuận với hạn mức tín dụng tại IMF. Các hội viên có thể rút SDR vào bất cứ lúc nào để phục vụ mục đích của mình. Các quốc gia rút SDR có thể đổi lấy đồng tiền khác để tăng nguồn dự trữ. Tất cả các thành viên IMF có trách nhiệm đổi đồng bản tệ lấy SDR tối đa bằng 3 lần hạn mức được phân bổ.

Nếu quốc gia A thâm hụt cán cân ngoại thương với quốc gia B, nếu A B đều là thành viên của IMF thì A không phải trả tiền trực tiếp cho B mà tài khoản SDR của A sẽ bị trừ đi khoản thâm hụt đó (ghi bên có) và chuyển sang sổ SDR của B (ghi bên nợ) tại IMF. Các nước hội viên thanh toán nợ nần trong ngoại thương (chỉ trong ngoại thương mới dùng SDR để thanh toán) thông qua SDR trên sổ sách của IMF. IMF ngoài vai trò trung tâm thanh toán quốc tế còn đóng vai trò trung tâm tín dụng quốc tế bằng cách làm chủ nợ của những nước thiếu hụt và làm con nợ của những nước dư thừa trong cán cân thanh toán.

Giá trị của SDR thay đổi từ 1 USD sang giá trị của 1 cụm 16 đồng tiền có tỷ trọng lớn trong thanh toán quốc tế vào năm 1976 và sau này là theo rổ tiền tệ của 5 đồng tiền chính là đô la Mỹ, mác Đức, yên Nhật, franc Pháp và bảng Anh (tháng 1/1981).

Một phần của tài liệu Bài giảng tài chính quốc tế (Trang 29 - 32)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(157 trang)