4.1.1. Đặc điểm của bệnh nhân ung thư gan nguyên phát điều trị tại Khoa Ung bướu 4.1.1.1. Giới tính
Biểu đồ 3.1 cho thấy nam giới chiếm tỷ lệ cao hơn nữ giới, nam giới chiếm 84,5%, nữ giới chiếm 15,5% , tỷ số nam/ nữ là 5,4/1. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự với nghiên cứu của Trần Văn Huy (2002) với 82% nam so với 18% nữ, và nghiên cứu của Vũ Văn Vũ (2010) tại Bệnh viện Ung bướu Thành phố Hồ Chí Minh với nam chiếm 80% và nữ chiếm 20% [10], [28]. Nhưng cao hơn tỷ số nam/nữ là 3/1 của nghiên cứu Ngô Viết Lộc (2013) tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế [15]. Nghiên cứu của chúng tôi cao hơn nghiên cứu của Ngô Viết Lộc có
thể do thời điểm nghiên cứu, kích cỡ mẫu khác nhau giữa hai nghiên cứu. Tuy nhiên cả hai nghiên cứu đều cho thấy nam chiếm tỷ lệ cao hơn nữ.
Trên toàn cầu các nghiên cứu cũng cho thấy ung thư gan nguyên phát thường gặp ở nam hơn ở nữ với tỷ số nam/nữ thay đổi từ 2/1 đến 4/1, với sự khác biệt lớn hơn nhiều ở các khu vực có nguy cơ cao [54]. Có sự khác biệt này có thể do nam tiếp xúc nhiều yếu tố nguy cơ hơn nữ đặc biệt tình trạng lạm dụng rượu bia và
nhiễm vi rút viêm gan B. Ngoài ra nhiều nghiên cứu cho thấy có sự liên quan giữa hormone sinh dục nam tới sự hình thành khối u gan cũng góp phần dẫn tới tỷ lệ bệnh nhân ung thư gan nguyên phát ở nam cao hơn ở nữ [40], [44], [54].
4.1.1.2. Tuổi
Bảng 3.1 cho thấy tuổi trung bình của bệnh nhân ung thư gan nguyên phát trong nghiên cứu là 62,2 ± 11,8, thấp nhất là 28 tuổi, cao nhất 90 tuổi, trong đó độ tuổi ≥60 là nhóm tuổi chiếm 63,1%, tiếp theo là nhóm tuổi 45-59 chiếm 32,1%,
nhóm tuổi 30-44 chiếm 3,6%, nhóm tuổi 15-29 chiếm 1,2%. Nghiên cứu của chúng tôi có độ tuổi trung bình của bệnh nhân ung thư gan nguyên phát cao hơn so với nghiên cứu của Trần Văn Huy (52,8 ±12,0), nghiên cứu của Vũ Văn Vũ (54,2 ± 12,7) [10],[28]. Nghiên cứu của chúng tôi có độ tuổi trung bình của bệnh nhân ung thư gan nguyên phát cao hơn có thể do thời gian, địa điểm nghiên cứu khác nhau, kích cỡ mẫu khác nhau, hầu hết các bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi được phát hiện ung thư gan nguyên phát ở giai đoạn tiến triển hoặc muộn.
4.1.1.3. Nghề nghiệp
Nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu có là già/ hưu trí chiếm 41,7%. So với nghiên cứu của Vũ Văn Vũ (2010) khảo sát trên 107 bệnh nhân ung thư gan nguyên phát cho thṍy nghề nụng chiờ́m gần ẵ tổng số bệnh nhõn (47,6%), cán bộ viờn chức chiếm tỷ lệ là 21,4%, 30,8% là các nghề khác [28]. Có sự khác biệt này là do nghiên cứu của chúng tôi đa số đối tượng có độ tuổi từ 60 tuổi trở lên.
4.1.1.4. Trình độ học vấn
Bảng 3.2 cho thấy đa số đối tượng nghiên cứu có trình độ học vấn là mù chữ và tiểu học (66,7%), 22,6% có trình độ THCS và THPT, nhóm trình độ từ trung cấp trở lên chiếm tỷ lệ thấp (10,7%). Nghiên cứu của Vũ Văn Vũ cũng cho thấy một tỷ lệ thấp bệnh nhân ung thư gan nguyên phát có trình độ học vấn cấp 3 trở lên (3%), chủ yếu các bệnh nhân có học vấn từ cấp 2 trở xuống (64,2%) [28]. Nghiên cứu của chúng tôi có độ tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu 62,2 ± 11,8, đây là thế hệ chịu ảnh hưởng trực tiếp từ hậu quả của sự kém phát triển của đất nước trong chiến tranh và giai đoạn đầu cải cách đất nước do đó có thể lý giải được đa số các đối tượng có trình độ học vấn thấp.
4.1.1.5. Nơi ở
Bảng 3.3 cho thấy đối tượng nghiên cứu đa số ở nông thôn chiếm 76,2%, thành thị chỉ chiếm 23,8%. Sự khác biệt này có thể do các nguyên nhân: sự tiếp cận dịch vụ y tế, mức sống, trình độ học vấn, hiểu biết của người dân về bệnh ở nông thôn thấp hơn so với thành thị.
4.1.2. Tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B ở đối tượng nghiên cứu
Biểu đồ 3.3 cho thấy tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B ở đối tượng nghiên cứu là
78,6%. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự với nghiên cứu của Vũ Văn Vũ và cộng sự (2010) tại Bệnh viện Ung bướu Thành phố Hồ Chí Minh là 75%
[28], nghiên cứu của Nguyễn Hoài Nam, Nguyễn Khánh Trạch (2005) tại Bệnh viện Bạch Mai và Việt Đức là 76,6% [20], nghiên cứu của Trần Văn Huy ( 2002) tại Bệnh viện Trung ương Huế là 85% [10]. Nhìn chung các nghiên cứu tại Việt Nam tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B ở bệnh nhân ung thư gan nguyên phát là rất cao, thường từ 75% trở lên.
Một số nghiên cứu của các tác giả nước ngoài cũng cho thấy tỷ lệ cao HBsAg (+) ở bệnh nhân ung thư tế bào gan nguyên phát như Kwang Huh (Hàn Quốc) thấy HBsAg (+) là 76% [47], Minjie Wang (Trung Quốc) là 86% [58], K N Lokesh (Ấn Độ) là 77% [52].
Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ là những nước có tỷ lệ lưu hành HBsAg cao. Nhiễm vi rút viêm gan B được biết đến là một bệnh nguyên quan trọng của ung thư gan nguyên phát. Nhiều phân tích gộp đã chứng tỏ nguy cơ ung thư gan nguyên phát ở những người nhiễm vi rút viêm gan B cao hơn 15-20 lần so với những người không nhiễm [31]. Trên toàn thế giới, khoảng 80% các trường hợp ung thư gan nguyên phát do nhiễm vi rút viêm B hoặc vi rút viêm gan C [54]. Vì vậy nghiên cứu của chúng tôi, một số tác giả trong nước cũng như tác giả nước ngoài trên đều cho thấy tỷ lệ HBsAg (+) rất cao ở bệnh nhân ung thư gan nguyên phát.
Nghiên cứu của chúng tôi có tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B cao hơn so với nghiên cứu của Ngô Viết Lộc (16,36%) [14], nghiên cứu của Phạm Minh Khoa (9,7%) [12], nghiên cứu của Phạm Ngọc Thanh (11,2%) [25], cụ thể cao gấp 5-8 lần. Có thể giải thích sự khác biệt này là do nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện trên đối tượng có bệnh lý về gan mà ở đây là ung thư gan nguyên phát là một đối tượng có nguy cơ cao, còn các nghiên cứu của các tác giả trên nghiên cứu tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B ở cộng đồng dân cư.
Tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B ở bệnh nhân ung thư gan nguyên phát trong nghiên cứu của chúng tôi vẫn còn khá cao. Điều đó cho thấy nhiễm vi rút viêm gan
B vẫn còn là một yếu tố bệnh nguyên quan trọng ở các bệnh nhân ung thư gan nguyên phát tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế. Đặc biệt là những đối tượng sinh ra trước khi chương trình tiêm chủng mở rộng viêm gan B đưa vào năm 1997. Vì vậy ở những đối tượng này cần được quản lý, phát hiện tình trạng nhiễm vi rút viêm gan B và có kế hoạch điều trị triệt để bằng thuốc kháng vi rút để ngăn ngừa sự tiến triển thành ung thư hoặc tiêm phòng nếu chưa bị nhiễm.